ĐẶC TÍNH GỐC NƯỚC

GS Khiếu Đức Long

DẪN NHẬP

Vấn đề sử liệu để tìm hiểu về thời kì mở nước

            Nói về nguồn gốc của mình thì hầu như dân tộc nào cũng có những câu chuyện huyền thoại và truyền thuyết khẩu truyền. Đó là thời kì thần bí xuất hiện mờ ảo sau lớp sương mù dầy đặc của thời gian. Riêng dân tộc Việt nam lại ở vào một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Những chuyện thần thoại và truyền thuyết lại chỉ được ghi chép bằng chữ hán và bởi giới nho sĩ Việt, khoảng hơn ba ngàn năm sau thời kì mở nước.

            Sự thực do đó càng bị biến tướng nhiều hơn bởi hai lẽ :

            Khung tri thức của giới nho sĩ Việt chịu ảnh hưởng tất yếu của cái lò đào tạo hán học. Thí dụ câu chuyện về nguồn gốc dân tộc Việt cứ phải dính dáng đến Thần Nông, thoạt nghe có vẻ như một vị thần trong thần thoại Trung hoa, trong khi Thần Nông có thể là lớp người đầu tiên tìm ra cách trồng trọt để dời khỏi thời kì du mục (săn bắn, hái quả  tự nhiên)  và bước sang thời kì định cư định canh của bất cứ đoàn thể con người nào.

            Chuyện kể rằng Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam, lấy Vụ Tiên ─ trước đó Đế Minh đã có vợ và con là Đế Nghi ở phương Bắc ─ sinh ra Lộc Tục tức Kinh dương vương; Kinh dương vương lấy Long nữ, con gái Động đình quân sinh ra Sùng Lãm tức Lạc Long quân, Lạc Long quân lấy Âu Cơ, đó là cặp vợ chồng thuỷ tổ của dân tộc Việt.

            Như vậy người ta có thể nghĩ rằng người Việt với người Tàu có cùng gốc, chỉ khác ngành: Tàu là anh con vợ cả ở phương Bắc, Việt là em con vợ thứ ở phương Nam.

            Sự thực thì khảo cổ học ngày nay đã tìm được chứng tích cho thấy dân tộc Việt là chủ nhân của nền văn hoá đồ đồng Đông sơn rất rực rỡ, có địa bàn sinh hoạt gốc ở lưu vực sông Hồng, sông Mã, khác hẳn với người Hán phát tích ở lưu vực Hoàng hà.

            Sự ghi chép bằng chữ hán với âm đọc tiếng hán việt lại đẩy xa thêm cội nguồn tiếng Việt cổ. Chẳng hạn các tên Kinh dương vương, Lạc Long quân, Âu Cơ… chắc chắn đã sai lạc với tiếng Việt cổ trước thời Bắc thuộc rồi.

PHẦN CHÍNH

A)-Ý niệm quốc gia gắn liền với huyền thoại “con Rồng cháu Tiên” (chuyện Lạc Long quân lấy Âu Cơ sinh ra bọc 100 trứng nở ra 100 con).

Lạc Long quân 貉 龍 君 tên ghi bằng chữ hán có nghĩa là “bố Rồng dưới nước”; long quân : vua rồng, còn ‘lạc’ là biến thể hán hoá lâu đời của ‘nác’ (‘nước’: một số vùng từ Thanh hoá đến Nghệ an mà chúng tôi có dịp đi qua hồi còn niên thiếu còn nói ‘nác’ : “cho xin miếng nác” = “cho xin ngụm nước”). Âu Cơ 嫗姬 , một âm là  ‘ẩu’ có nghĩa là ‘bà mẹ’, ngoài ra còn có chữ  ‘khu’ 區 cho ra tiếng ‘gò’, cả tên có nghĩa “bà mẹ trên gò”. Theo câu chuyện thì Âu Cơ là dòng dõi tiên trên núi, còn Lạc Long quân thuộc dòng giống rồng dưới thuỷ phủ. Vậy sự kết hợp Lạc Long quân-Âu Cơ là sự kết hợp giữa nhóm bộ lạc vùng đất trũng sát biển với nhóm bộ lạc miền núi thành một hình thức quốc gia sơ khai (liên bộ lạc) của các bộ lạc Việt thời kì mở nước. Sau này An dương vương thành lập nước Âu – Lạc kết hợp hai nhóm bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt để tăng cường sức mạnh chống quân ngoại xâm: lúc ấy là quân Tần với tướng Đồ Thư và sau đó là Triệu Đà.

            Cuộc phân chia 50 con theo bố Rồng xuống biển, 50 con theo mẹ Tiên về núi là sự phân bố của dân Việt đi khai thác các vùng đất mới trước sự tăng gia dân số. Lạc Long quân phải là vị thủ lãnh tài ba lỗi lạc (hoặc vị thần linh thiêng) mà dân tộc Việt trông cậy rất nhiều. Cho nên mỗi khi gặp trở ngại lớn hay mối nguy lớn đe doạ, họ vẫn thường cầu cứu; từ đó có các sự tích Lạc Long quân trừ Ngư tinh (tượng trưng cho trở ngại ngoài biển), Hồ tinh (trở ngại ở đồng bằng), Mộc tinh (trở ngại trên rừng) cùng báo trước sẽ có thiên tướng làng Gióng xuống đánh đuổi giặc Ân xâm lăng.

            Lòng sùng kính vua Rồng ở cõi nước là ảnh hưởng của môi trường sinh hoạt có nước là thành phần chủ yếu :

            Vị trí bán đảo nhìn ra biển Đông, cả ở nội địa cũng có nhiều sông lớn chảy ra biển; vả lại đồng bằng sông Hồng cổ thời còn hẹp, biển còn sâu trong đất liền, chưa được bồi thêm rộng như hiện nay.

            Nghề nông, chủ yếu là trồng lúa nước : dân Lạc Việt từ buổi đầu đã biết trồng lúa trên ruộng Lạc theo nước thuỷ triều lên xuống. Khi nghề trồng lúa nước trở nên căn bản của đời sống kinh tế thì nước mưa trở nên quan trọng :

Lạy Trời mưa xuống,

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cầy,

Lấy đầy bát cơm,

            Cổ thời lễ cầu mưa là một nghi lễ quan trọng được ghi lại trên hình khắc hoạ trên trống đồng (chính trống đồng cũng là một nhạc cụ dùng trong lễ này: tiếng trống ầm vang tượng trưng cho tiếng sấm trước và trong khi mưa). Lễ đảo vũ còn mãi tới thời kì độc lập để lại dấu tích trong những câu chuyện cổ tích đời Lí (các vị thiền sư hay đạo sĩ biết gọi gió cầu mưa được triều đình và dân chúng trọng vọng). Ở vùng ven biển, hiện tượng bão lốc được người dân cho là rồng trên trời thả vòi xuống biển hút nước làm mưa. Ngoài ra nước cũng là một tai hoạ lớn mà dân Việt từ ngàn xưa đã phải lo chống đỡ vất vả: nạn lụt ở đồng bằng sông Hồng như phản ánh trong câu chuyện Sơn tinh-Thuỷ tinh.

            Nghề đánh bắt thuỷ sản trên sông biển, trong đầm, hồ, ao và ruộng chiêm ngập nước cũng rất quan trọng. Đi sông đi biển là nghề sinh nhai thì cũng có thể gặp tai nạn sóng gió đắm thuyền. Từ đó mà người ta phải thờ cúng thuỷ thần mà biểu tượng chính là thuồng luồng (cá sấu kì vĩ hoá), rồi giao long, rồi tiến đến rồng là hình tượng hoàn mĩ. Điều này thể hiện rõ nhất ở tục xâm mình mà truyền thuyết nói rằng do vua Hùng dạy dân vẽ mình theo hình giao long

            Kết quả là ý niệm “quốc gia” có nghĩa là đất nước  (từ ‘quốc gia’ là gốc hán, ta dịch sát nghĩa là ‘nước nhà’) khởi thuỷ cũng là ý niệm “nước uống” gồm một vùng đất với thành phần chủ yếu là nước (cho nên chữ nôm cùng ghi bằng một chữ 渃 ) như biển, sông, ngòi, đầm, hồ, ao, chuôm và ruộng chiêm ngập nước nửa năm vào mùa mưa, đồng thời cũng luôn luôn nhắc nhở đến nguồn gốc “bố Rồng dưới nước” và “mẹ Tiên trên non”, một sự kết hợp hài hoa : vừa chia đôi để phát triển (mở rộng địa bàn sinh hoạt), vừa kết hợp để tạo sức mạnh (núi cung cấp lâm sản như gỗ làm nhà, biển cung cấp thuỷ sản, đặc biệt là muối rất quí đối với người miền núi).

B)- Tính chất “nước” trong đời sống hướng ngoại

1. Trong cách ứng xử đối ngoại.

            Nước là vật thể lỏng, mềm nhất, song không gì thắng nổi. Chính sức mạnh vô địch của nước nằm trong cái bản chất tưởng như yếu mềm ấy: nước chảy đá cũng phải mòn, sắt ngâm nước cũng phải gỉ, lửa gặp nước phải tắt. Trong cách ứng xử đối ngoại, ngưởi Việt thường chủ trương lấy mềm thắng cứng, lấy yếu thắng mạnh: nhũn nhặn – nếu cần thì nhẫn nhục – bề ngoài, nhưng duy trì ý chí bất khuất bên trong, lấy sự kiên trì để đạt mục đích. Đặc điểm tinh thần này càng được tôi luyện bởi hoàn cảnh địa lí thiên nhiên khắc nghiệt như nạn bão lụt đã nói ở trên, còn hạn hán thì phải lo đào mương tát nước, cũng như bởi hoàn cảnh lịch sử phải lo chống nạn Bắc xâm truyền kiếp: chính sách ngoại giao đối với nước láng giềng khổng lồ phương bắc là chịu triều cống xưng thần, song cương quyết chống lại ý đồ xâm lăng, đô hộ, đồng hoá để bảo vệ chủ quyền độc lập của dân tộc, sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, và nhất là bảo vệ đặc tính văn hoá riêng của mình.

2. Tính thích nghi, thâu nạp, dung hoà đưa đến tinh thần cởi mở, hiếu hoà.

            Nước cũng là vật thích nghi nhất với mọi hoàn cảnh : “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Nước cũng lại là dung môi có thể hoà tan đa số vật thể khác. Cũng thế, dân tộc Việt có tính thích nghi rất cao, hoàn cảnh khó khăn khắc nghiệt thế nào cũng chịu đựng nổi, dễ thích ứng với những thay đổi lớn lao, song vẫn giữ được đặc tính riêng của mình mà không để bị đồng hoá như lịch sử đã cho thấy. Đồng thời dân tộc Việt cũng có tinh thần cởi mở, sẵn sàng tiếp thu mọi luồng tư tưởng ngoại lai  ─  vả cũng một phần do vị trí địa lí trên ngã tư quốc tế, bắt buộc phải mở cửa để đón gió bốn phương ─ nhất là thâu nạp những giá trị tinh thần cao cả (thí dụ tam giáo của Đông phương xưa kia, tư tưởng dân chủ, bình đẳng, bác ái của Tây phương ngày nay), song ta cũng lại biết hoá giải những mâu thuẫn, dung hoà mọi chủ trương cực đoan, quá khích để tránh tranh chấp đối nghịch.

            Về cách đối xử trong gia đình và nơi làng xóm là hai phạm vi sinh hoạt quen thuộc của đại đa số dân Việt thời xưa, chủ trương nhường nhịn (trên kính dưới nhường, trên thuận dưới hoà, một sự nhịn bằng chín sự lành) hay được ứng dụng, trong nhà đóng cửa bảo nhau sao cho trong ấm ngoài êm là tốt nhất; còn nơi làng xóm thì theo chủ trương “dĩ hoà vi quí” thu xếp sao cho “hoà cả làng” là đẹp nhất; trong phạm vi quốc gia thì chủ trương đoàn kết tương thân tương ái theo tình đồng bào (cùng sinh ra từ một bọc  của mẹ Âu Cơ) :

– Một cây làm chẳng nên non,

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

– Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

– Khôn ngoan đối đáp người ngoài,

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

C)-Tính chất “nước” trong đời sống tình cảm và tập tục xã hội.

1. Thiên trọng tình cảm hơn lí trí; nữ (mẫu) tính được đề cao.

              Điều này thể hiện rõ ràng trong đời sống tình cảm cá nhân, nhất là trong tình yêu trai gái. Theo lễ giáo đạo Nho thì người nữ phải ở thế thụ động đợi bên nam tỏ tình tấn công trước. Còn theo phong tục Việt nam thì trầu cau là lễ vật phải có trong hôn lễ, bên trai đi giạm vợ thì đem cơi trầu đến chạm ngõ nhà gái. Nhưng trong đời sống thực tế người bình dân nơi thôn dã và một cách riêng tư thì người con gái lại hay dùng miếng trầu để tỏ tình trước:

– Trầu này trầu quế trầu hồi,

Trầu loan trầu phượng, trầu tôi lấy mình.

Trầu này trầu tính trầu tình,

Trầu nhân trầu nghĩa, trầu mình lấy ta.

Trầu này têm tối hôm qua,

Giấu cha giấu mẹ đem ra cho chàng.

            Trong gia đình Việt nam, vai trò và địa vị thực sự của người vợ, người mẹ rất quan trọng, có khi vượt người chồng, người cha chỉ đóng vai trò gia trưởng trên hình thức. Chẳng thế mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đã phải hỏi :

–  Cớ sao vợ lại hơn Trời nhỉ ?

hoặc như câu tục ngữ “lệnh ông không bằng cồng bà”. Lịch sử cũng cho thấy mặc dù chế độ phụ hệ đã được xác lập từ thời đại Hùng vương, người phụ nữ không hề bị coi thường như quan niệm nam tôn nữ ti của Nho giáo sau này. Chẳng thế mà 150 năm sau khi bị người Trung hoa đô hộ, hai chị em Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa mà được nhân dân 65 thành hưởng ứng; khi đuổi được kẻ ngoại nhân ra khỏi bờ cõi thì vị nữ thủ lãnh được suy tôn làm Vua Bà của cả nước. Hai trăm năm sau Hai Bà, Bà Triệu, một vị nữ thũ lãnh nữa lại dấy binh đuổi giặc, khiến kẻ ngoại thù lại một phen thất điên bát đảo.

            Trong ngôn ngữ hàng ngày, ý niệm về người mẹ luôn luôn đứng hàng đầu: ta nói MeÏ Việt nam (mà không nói “cha Việt nam”). Quan thế âm là vị bồ-tát Phật giáo có nam tính ở Ấn độ sang Việt nam trở thành Đức Chúa Ba tức Phật Bà Quan âm Nam hải cho phù hợp với hạnh từ bi và vai trò cứu khổ cứu nạn của Ngài đối với chúng sinh y như người mẹ hiền lúc nào cũng sẵn sàng an ủi vỗ về con khi con gặp đớn đau khổ não.

            Trong tín ngưỡng dân gian, ngoài các vị thần nam giới vốn là các vị anh hùng dân tộc, các vị thần thành hoàng thờ ở đình làng, còn có cả một hệ thống các đền, phủ, miếu thờ các vị nữ thần, các Bà Chúa có rất đông con công đệ tử thuộc phái nữ phụng thờ hầu hạ (hầu bóng), suy tôn là các vị Thánh Mẫu như Bà Chúa Thượng Ngàn (Chúa vùng rừng núi), Đúc Mẫu Thoải (Bà Chúa Thuỷ phủ), đặc biệt Bà Chúa Liễu tức công chúa Liễu Hạnh, có sự tích Việt rõ ràng, tương truyền là con gái Ngọc hoàng, giáng sinh vào triều Hậu Lê (quãng giữa tk XVI) làm con Lê Thái công ở thôn An thái, xã Vân cát, huyện Vụ bản, tỉnh Nam định, có đền thờ Phủ Giầy, nơi Bà giáng sinh, hàng năm vào thượng tuần tháng ba âl., dân chúng trẩy hội đông như nước chẩy; ngoài ra còn đền thờ ở Sùng sơn (đền Sòng) tỉnh Thanh hoá, nơi Bà hiển linh.

            Khi đất nước mở rộng vào miền Trung và Nam bộ, các vị  nữ thần vẫn được phụng thờ, trong đó có cả các vị nữ thần địa phương được Việt hoá như nữ thần Thiên y A-na gốc Chàm thành Bà Chúa Ngọc (tháp Bà, Nha trang), Bà Đen (Điện Bà, núi Bà Đen, Tây ninh), Bà Chúa núi Sam (Châu đốc) v.v…

            Hệ quả là trong thời kì Nho giáo độc tôn (Hậu Lê, Lê-Trịnh và Nguyễn, từ tk. XV đến nửa đầu tk. XIX), đại chúng Việt chống lại sự áp đặt tư tưởng duy lí trọng nam khinh nữ, đề cao nam quyền quá đáng, buộc phụ nữ phải suốt đời lệ thuộc đàn ông với thứ lễ giáo khắt khe như đạo tam tòng, nam ngoại nữ nội, không để phụ nữ tham gia việc công, chỉ quanh quanh ba xó bếp, nam nữ thụ thụ bất tương thân, cấm đoán nam nữ tiếp xúc tự do trong khi việc đồng áng ở nông thôn rất cần sự hợp tác nam nữ vì già nửa lực lượng lao động là nữ:

– Bao giờ cho đến tháng hai,

Con gái làm cỏ, con trai be bờ.

– Bao giờ cho lúa chín vàng,

Cho anh đi gặt, cho nàng đem cơm.

            Ngay  cả cái trật tự tam cương do Nho giáo áp đặt là quân-thần, phụ-tử, phu-phụ cũng trái với lẽ tự nhiên của chính Kinh Dịch: Thái cực sinh lưỡng nghi là Âm và Dương, hai yếu tố đầu tiên vừa đối nghịch vừa hoà hợp với nhau mà sinh ra vạn sự vạn vật trong vũ trụ; như vậy quan hệ vợ-chồng phải có trước rồi mới sinh ra quan hệ cha mẹ-con cái (gia đình) , sau đó mới tới quan hệ vua-tôi (quốc gia, xã hội). Cho nên đôi nam nữ sau đây đã lễ phép bác bỏ cái trật tự đó:

– Một duyên, hai nợ, ba tình,

Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba.

Chữ trung thì để phần cha,

Phần mẹ chữ hiếu, đôi ta chữ tình !

            Nhưng nếu dùng quyền lực ép buộc làm mất tự do quá đáng, hạ thấp phụ nữ, tôn nam quyền phi lí, chẳng hạn trai có quyền năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng, thì người phụ nữ cũng chẳng ngần ngại gì mà không chống đối mạnh mẽ :

– Ba đồng một chục đàn ông,

Ta bỏ vào lồng, ta xách ta chơi.

Ba trăm một mụ đàn bà,

Đem về mà giải chiếu hoa cho ngồi.

hoặc:

– Chồng ăn chả, vợ ăn nem.

– Chồng đánh bạc, vợ đánh bài,

Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng.

hoặc mạnh hơn nữa như nữ sĩ Hồ Xuân Hương giễu lại cái tầm thường của người đàn ông:

– Hiền nhân quân tử ai là chẳng,

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

(Vịnh đèo Ba dội)

– Mát mặt anh hùng khi tắt gió,

Che đầu quân tử lúc sa mưa.

(Vịnh cái quạt I)

– Hồng hồng má phấn duyên vì cậy,

Chúa dấu vua yêu một cái này.

(Vịnh cái quạt II)

            Hệ quả thứ hai là cách đối xử dựa trên tình cảm không những trong mối quan hệ gia đình đã đành, mà còn cả trong mối tương quan xã hội:

– Yêu nhau chín bỏ làm mười.

– Yêu nhau cau bảy bổ ba,

Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.

– Yêu nhau vạn sự chẳng nề,

Dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.

            Còn lối xử sự “cạn tàu ráo máng”, “cưa đứt đục suốt”, trao đổi sòng phẳng quá như kiểu “thả vỏ quít, ăn mắm ngấu”, “ông mất chân giò, bà thò chai rượu” không được dân Việt ưa thích. Trong tiếng Việt, lối xưng hô dựa vào tuổi tác để gọi theo quan hệ gia đình như chú, bác-cháu, cô, dì-cháu, anh, chị-em v.v… quả là một rắc rối lớn cho người ngoại quốc học tiếng Việt. Người ta không chỉ gọi suông như vậy mà cử chỉ, thái độ, cách hành xử cũng phải đi đôi một cách tương xứng. Nói khác đi, sự giao tế xã hội cũng dựa trên hay chịu ảnh hưởng của mối quan hệ gia đình, vì người ta quan niệm rằng quốc gia xã hội chẳng qua là gia đình mở rộng mà thôi.

2. Khuynh hướng yêu văn nghệ, thích thơ ca

            Có thể nói người Việt nào cũng thích thơ và đại đa số người Việt ít nhiều đều biết làm thơ. Phải có tâm hồn đa cảm, dễ xúc động mới có thể như thế được, bởi lẽ thơ ca là sản phẩm của tình cảm. Đặc biệt thể thơ lục bát thích hợp với tâm hồn Việt nhất vì thơ lục bát đồng thời lại được dùng làm lời để hò, hát, ngâm, ru (các hình thức phổ nhạc dân gian) trong đời sống lao động lam lũ nơi thôn dã.

            Nhìn vào kho tàng ca dao phong phú, tham dự vào đời sống lao động như những vụ cấy cầy gặt hái, vào những dịp vui chơi như hội hè đình đám đặc biệt hội hè mùa xuân trong đó trai gái tự do gặp gỡ tỏ tình dưới hình thức trình diễn văn nghệ thi nhạc giao duyên: các lối hát đố, đúm, quan họ, trống quân.

            Ngay giới nho sĩ học thức thời kì Nho học độc tôn cũng thấy nhu cầu bộc lộ tình cảm ─ chống duy lí ─ càng ngày càng mạnh. Cho nên trong tác phẩm văn học của họ là văn chương chữ nôm, các thể văn vần thiên hẳn về tình cảm như truyện, ngâm càng ngày càng thịnh; đến thế kỉ XVII, XVIII thì đạt tới những đỉnh cao như Phan Trần, Bích câu kì ngộ, Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm, rồi đến tuyệt đỉnh Đoạn trường tân thanh mà chính phe nho gia nghiêm khắc cũng phải e dè ảnh hưởng về mặt tình cảm:

– Đàn ông chớ kể Phan Trần,

Đàn bà chớ kể Thuý Vân Thuý Kiều.

            Tình cảm Việt nam quả là dòng suối luôn luôn tìm lối tự do tuôn chảy ra biển khơi, không gì ngăn chặn nổi; nếu cố tình ngăn chặn thì  sẽ “tức nước vỡ bờ” như ta xét tới trong phần dươi đây.

D)- Sự ứng dụng đặc tính gốc nước qua một số bài học kinh nghiệm của lịch sử

            Cũng như bản chất lỏng bất định hình của nước, dân tộc Việt có tính thích nghi cao đối với mọi thay đổi của hoàn cảnh, khéo bắt chước, học những cái có sẵn của người thì giỏi, nhưng ít có sáng kiến độc đáo. Cũng như tính không mùi vị, không màu sắc của nước, pha đường thì ngọt, pha muối thì mặn, pha màu nào ra màu ấy, dân Việt ta có tinh thần cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận mọi tư trào ngoại lai, sùng thượng mọi giá trị tinh thần cao cả; song cũng đừng quên bản chất dung môi của nước: muốn làm ngọt nước, đường phải hoà tan trong nước, muốn làm mặn, muối cũng phải thế, các loại phẩm màu cũng vậy. Tư tưởng ngoại lai nào muốn được đại chúng Việt chấp nhận cũng phải Việt hoá đủ để thích hợp với tâm tình Việt, với đặc tính động luôn luôn xuôi chẩy mà không thể đóng khung cố định (chúng ta thử tưởng tượng một thứ nước cho vào thùng kính, dẫu chiếu ánh đèn muôn màu rực rỡ vào thì cũng chỉ hơn nước ao tù một mức!)

            Chúng tôi muốn nói dân tộc Việt không chấp nhận bất cứ một hệ tư tưởng nào, một thứ chủ nghĩa nào hoặc một tín ngưỡng nào áp đặt bằng quyền lực mà lại muốn ngự trị độc tôn. Chúng ta thấy rõ ràng khi triều đình nhà Hậu Lê rồi Lê Trịnh, rồi nhà Nguyễn đưa đạo Nho lên hàng quốc giáo, mà Nho học lúc ấy đã là Tống Nho, ở ngay Trung hoa đã trở nên khô cứng cố chấp (thí dụ chủ trương tôn quân hẹp hòi, trung thành với cá nhân ông vua hoặc dòng họ vua) mà lại đi bài bác các tín ngưỡng khác của dân gian. Triều đình dành nhiều biệt đãi cho giới sĩ phu nho học, khiến người ta đua nhau đi vào con đường từ chương khoa cử (chẳng tham ruộng cả ao liền…) nhằm mục đích danh lợi tầm thuờng thì tư tưởng và ngay phẩm hạnh của giới nho sĩ cũng suy kém dần như chính nhà nho học giả Lê Quí Đôn ở triều Hậu Lê đã phê bình trong cuốn Vân đài loại ngữ của ông.

            Thời phân tranh (Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn) thì giới cầm quyền chỉ lo phục vụ quyền lợi dòng họ mình, triều Nguyễn thống nhất thì chủ trương tập quyền độc đoán. Đất nước có bao nhiêu thế mạnh của nước, chỉ cần nói đến 2500 cây số bờ biển, mà Nhà nước chỉ trọng nông về kinh tế, trọng nho (trọng văn, trọng sĩ) về văn hoá, trong khi khinh rẻ công nghệ và thương mại (vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao), coi nhẹ nghề hàng hải (chài lưới, buôn bán đường biển). Ta nên nhớ nhà Trần và nhà Mạc xuất thân từ nghề chài lưới. Lại nữa các chiến công oanh liệt Bạch đằng giang I của Ngô Quyền chặt đứt gông xiềng phương Bắc kéo dài hơn 1000 năm và chiến công Bạch đằng giang II của Trần Hưng đạo phá tan giặc Mông cổ hung hãn tàn bạo nhất thời ấy là nhờ thế mạnh của nước, của thuỷ quân. Ấy thế mà suốt mấy trăm năm của thời kì phân tranh, thế mạnh của nước không được chú trọng đúng mức  (trừ chiến thắng của hải quân Đàng trong do thế tử Nguyễn phúc Tần chỉ huy đánh tan hạm đội Hoà lan vào năm 1643 ở mũi Chân Mây, lúc ấy người Hoà lan định giúp Trịnh đánh Nguyễn), còn thì bờ biển bị bỏ ngỏ cho đến khi người Tây phương đổ bộ lên Đàng trong, Đàng ngoài, rồi cả nước dưới triều Nguyễn, người Pháp dùng chiến hạm và đại bác bắt ta phải mở cửa các hải cảng như Đà nẵng cho họ vào buôn bán; rồi họ lần lượt chiếm Nam kì với thương cảng Sài gòn mở đường thông thương trên sông Cửu long sang Cao mên, rồi chiếm Bắc kì với hải cảng Hải phòng mở đường thông thương trên sông Hồng sang Vân nam, những lớp người cầm quyền vẫn mù quáng cố chấp, bỏ rơi tính động như nước của lòng dân, quên câu “trị dân như đi thuyền trên nước, nước có thể chở thuyền, nhưng cũng có thể làm đắm thuyền”, không chịu từ bỏ chính sách độc tôn độc quyền khiến lòng dân bất phục, bị ức chế nhiều mặt, sinh loạn lạc chia rẽ, thế nước suy yếu, cuối cùng đưa đến nạn mất nước.

            Ấy vậy mà tới giữa thế kỉ này, sau khi dân tộc ta đã đổ biết bao xương máu giành lại được độc lập từ tay người Pháp, các chế độ cầm quyền vẫn không chịu rút ra bài học của lịch sử, cứ tiếp tục đi vào vết xe đổ của người đi trước, gây thảm hoạ điêu linh cho dân tộc cho tới ngày nay.

KẾT LUẬN

            Nếu chỉ nói đến tính nước của văn hoá Việt nam, có thể có người nhận xét rằng nước là một chất lỏng luôn luôn chảy xuôi dòng, tiếp nhận tất cả, nhưng chẳng có cái gì của riêng mình, cứ từ cao chẩy xuống thấp bất chấp đồng bằng hay vực thẳm, gặp chất bẩn cũng cuốn trôi theo thành nước dơ, một ra đi không trở lại, có thể ứng vào cái tính hay bắt chước, kể cả bắt chước kiểu a dua, chạy theo những cái rởm, cái dơ, cái của thừa của thiên hạ đã thải ra:

– Ra đường thấy cánh hoa rơi,

Hai tay nâng lấy, cũ người, mới ta !

và cũng bạc bẽo, hay quên, kể cả quên ơn nghĩa: “bạc như dân, bất nhân như lính”.

            Chúng tôi xin được thêm vài ý để kết luận như sau:

            Đã gọi là bản chất thì không thể thay đổi, bản chất của nước ngoài tính dung nạp, hoà tan và thích nghi, lại còn tính bốc hơi nữa. Cho nên ngoài óc thực tế, tâm hồn Việt còn có khuynh hướng siêu thoát mạnh mẽ nữa: dân tộc Việt rất giàu lòng tín ngưỡng, luôn luôn hướng tới những giá trị tinh thần siêu việt vĩnh cửu. Đó là sự quân bình cần thiết cho đời sống an lạc của một cá nhân, cũng như cho đời sống hoà bình ổn định của một quốc gia.

            Vả lại đất nước Việt nam không phải chỉ có sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Hương, sông Thu bồn, sông La ngà, sông Đồng nai, sông Vàm cỏ, sông Cửu long…chảy ra biển Đông mênh mông bát ngát, mà còn có núi Ba vì, dãy Trường sơn, núi Bà Đen, núi Sam, núi Sập… sừng sững vươn lên bầu trời xanh cao thăm thẳm, tượng trưng cho sự vươn lên cuả dân tộc ta hướng tới những giá trị cao cả vững bền.

            Huyền thoại kể rằng khi chia con với Âu Cơ, Lạc Long quân có dặn rằng:  “… ta đem 50 đứa về Thuỷ phủ, phân trị các xứ, 50 đứa theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi, xuống nước, nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau !”

            Cho nên ý niệm quốc gia của người Việt bao giờ cũng gồm hai thành phần không thể tách rời là non sông hoặc đất nước, hoặc nước non, non nước. Nước tượng trưng cho sự di động phát triển, còn non tượng trưng cho giá trị tinh thần cao cả vững bền như đã nói trên. Nước thấm vào lòng đất cho lúa trổ bông nuôi sống dân, gặp chất dơ thì rửa sạch như quan niệm của người Việt:

– Ông Trạng lấy muối làm ngon,

Lấy nước làm sạch,  lấy con làm giàu.

(cho nên người Việt cũng không ưa thù hận dai dẳng, chóng quên điều giận để mà tha thứ, làm hoà). Nước sông đổ ra biển, bốc hơi lên, bay trở về núi, mưa xuống lại trở thành nước tinh khiết ở ngọn suối nguồn sông, để lại tiếp tục đổ xuống đồng bằng…

            Có lẽ thi sĩ Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu ─ với ngay bút hiệu ông chọn ─ đã cảm nghiệm được cái ý thức về non sông đất nước sâu tận đáy tâm hồn, nên ông đã lồng được mối tình thuỷ chung đời đời giữa “Bố Rồng dưới nước” với “Mẹ Tiên trên non” vào tình yêu nước non chan hoà của người con dân đất Việt trong bài “Thề non nước” :

Nước non nặng một lời thề,

Nước đi đi mãi không về cùng non.

Nhớ lời nguyện nước thề non,

Nước đi chưa lại, non còn đứng không.

Non cao những ngóng cùng trông,

Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày.

Xương mai một nắm hao gầy,

Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.

Trời tây ngả bóng tà dương,

Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.

Non cao tuổi vẫn chưa già,

Non thì nhớ nước, nước mà quên non.

Dù cho sông cạn đá mòn,

Còn non còn nước, hãy còn thề xưa.

– Non cao đã biết hay chưa ?

Nước đi ra bể, lại mưa về nguồn.

Nước non hội ngộ còn luôn,

Bảo cho non chớ có buồn làm chi !

Nước kia dù hãy còn đi,

Ngàn dâu xanh tốt, non thì cứ vui.

Nghìn năm giao ước kết đôi,

Non non nước nước chưa nguôi lời thề.

            Mong rằng tất cả chúng ta, những con dân đất Việt ở hải ngoại, dẫu biển trời muôn trùng cách trở với quê hương yêu dấu, hãy giữ vững cho tình yêu non sông đất nước này vững bền mãi mãi.

Montréal, ngày 09 – 04 – 1994

KHIẾU ĐỨC LONG

            (Bài diễn thuyết tại thư viện Mile-End, 5434, av. du Parc, Montréal, Québec, Canada trong khuôn khổ tuần lễ “VĂN HOÁ VIỆT NAM” do Trung tâm VIỆT NAM HỌC CANADA tổ chức từ ngày 05 đến ngày 09 tháng 04 năm 1994).

Sách tham khảo :

1. Trần Thế Pháp, “Lĩnh Nam Chích Quái”, bản dịch có kèm nguyên văn hán của Lê hữu Mục, Khai trí xb., Sài gòn, 1961.

2. Nhiều soạn giả, “Thời Đại Hùng Vương”, nhà xb. Khoa học xã hội, Hà nội, 1973.

3. Phan Huy Lê, Trần quốc Vượng, Hà văn Tấn, “Lịch Sử Việt Nam”, t. I, nhà xb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà nội, 1983.

4. Trần Quốc Vượng, “Trong Cõi”, nhà xb. Trăm hoa, Garden Grove, CA., USA., 1993.

5. Khiếu Đức Long, “Luận về nền văn hoá tổng hợp của dân tộc Việt nam”, t. I, Trước ảnh hưởng Tây phương, Dân Việt xb., Montréal, Québec, CANADA, 1993.