L’ENSEIGNEMENT FRANCO-INDIGÈNE EN INDOCHINE

Une visite au Lycée Pétrus Truong Vinh Ky par Nguyen tien Lang.(La Dépêche coloniale, 25 avril 1935)
(De notre correspondant particulier)


Saigon, le 6 avril 1935

Sur treize hectares de terrain remblayé, assaini, disposé avec goût par le proviseur, M. Valençot, en parterres et en pelouses gazonnées s’encadrant entre les imposants bâtiments neufs, loin du bruit et de l’activité fiévreuse de Saïgon et de Cholon dont cet emplacement se trouve juste à la limite, dans la fameuse « Plaine des Tombeaux » rendue célèbre par les écrivains voyageurs, le lycée Pétrus-Ky est un des plus vivants et éloquents témoignages de l’effort éducateur de la France.

Il y a dix ans, rien n’existait encore à cette place. Le collège Chasseloup Laubat, créé en 1871 par l’amiral Dupré sous le nom d’« École normale pour indigènes », distribuait depuis 1917 l’enseignement secondaire français, et depuis 1921 l’enseignement secondaire franco-indigène qui venait de naître. Pour développer ce dernier, inspiré par le souci de concilier l’éducation et les éléments de culture française avec les traditions de l’Extrême-Orient et les parties vivaces des doctrines anciennes, le nouveau collège de Cochinchine, dont la construction commença en 1925, dont les deux premiers bâtiments furent achevés en 1927 sous l’impulsion de M. Blanchard de la Brosse, alors gouverneur de la Cochinchine, et qui reçut en 1928 le nom de Pétrus Truong Vinh Ky en souvenir du grand érudit annamite originaire de Cochinchine, fut érigé en lycée. M. le gouverneur général Robin fut le signataire des arrêtés créant le nouvel établissement.
Lorsqu’il prit en main les destinées de l’Indochine, une de ses premières visites fut pour le lycée Pétrus-Ky, où il put constater la fécondité des efforts du dévoué proviseur actuel. Depuis cinq ans, il assume la direction de cette grande maison d’enseignement et d’éducation franco-annamite avec un dévouement qu’éclairent non seulement une haute culture, mais surtout une sympathie profonde et compréhensive pour les Annamites.

C’est un plaisir d’entendre M. Valençot parler de ses élèves :

— « Il faut bien comprendre leur mentalité. Je ne conçois pas que l’on puisse ne pas s’attacher à cette jeunesse, qui dans l’ensemble, présente tant de qualités qu’il nous appartient de développer par une bonne éducation française sachant s’appuyer également sur l’éducation familiale. »

Dans l’immense cité scolaire, nous nous promenions depuis trois quarts d’heure. À travers les galeries, les préaux, les cours, après avoir pu visiter des classes, des laboratoires, la salle de dessin, la bibliothèque, les dortoirs et le réfectoire, tous d’un confort admirable, d’un entretien parfait, nous étions arrivés, le proviseur et moi, devant le vaste terrain des sports. La conversation de M. Valençot est de celles qui ouvrent des échappées nombreuses sur des méditations pleines de fruits, et qui, en même temps, les aident, les orientent, leur fournissent plus que des éléments ou des thèmes. Je me suis instruit beaucoup avec lui :

Nous revenons sur la psychologie de l’élève annamite :

— Le jeune Annamite, dit M. Valençot, surtout s’il est de famille peu aisée, est généralement travailleur, désireux de s’instruire. Le paresseux-type est extrêmement rare. Peut-être se sert-il un peu trop de la mémoire. Du moins, on ne saurait le critiquer excessivement s’il use, pour s’exprimer ou pour écrire, d’expressions toutes faites ou de clichés ; il est inévitable, que, dans la pratique d’une langue étrangère, on se serve des expressions consacrées par l’usage. Mais beaucoup de mes élèves des hautes classes manient le français avec une véritable élégance et assimilent des auteurs comme Marot ou Régnier qui ne sont pas toujours familiers aux élèves des lycées de France. L’élève annamite, très discipliné. joint des qualités de cœur à ses qualités d’intelligence. S’il est souvent susceptible, s’il ne se livre pas facilement, une fois qu’il a compris son maître et note le désintéressement avec lequel on s’occupe de son bien, il montre une confiance sans réserve, manifeste sa reconnaissance, est capable de franchise. »

M. Valençot est intimement convaincu de la valeur de l’internat comme moyen d’imprégner l’éducation française qui doit aider le jeune Annamite à prendre conscience de sa personnalité. Il déplore le tarif actuel de l’internat, qui, en raison de la crise, écarte de l’internat un certain nombre de jeunes gens peu fortunés, ou fils de parents qui comprennent mal l’économie. Si, en effet, on paie moins cher la pension en ville, on perd en même temps le bénéfice des garanties irremplaçables qu’offre l’internat pour le développement harmonieux du caractère de l’élève.

Je crains, dit M. Valençot, cet abandon de jeunes gens en somme livrés à eux- mêmes, dans des pensions où personne ne les surveille, ou chez des correspondants trop souvent choisis au hasard. Si encore c’était vraiment dans leur famille, au sein de l’éducation familiale, qu’ils étaient maintenus. Ici, pour les internes comme pour les externes, je les dirige en plein accord avec leur famille, car je sais l’autorité du père annamite. Souvent, j’ai recours à lui pour des observations ou même des corrections que je n’ai pas à donner, mais que lui, père, d’après la tradition comme d’après le code annamite, il peut et il doit donner. Mes élèves continuent ainsi à se retremper dans leur milieu familial où ils apprennent à observer les traditions séculaires de respect à l’égard des vieillards et des supérieurs, de vénération pour les ancêtres, de reconnaissance pour les maîtres. L’éducation du lycée et celle de la famille ne vont nullement à l’encontre l’une de l’autre. Elles se complètent harmonieusement. »

Qu’ajouter à d’aussi sages paroles ? Ce fut donc avec une satisfaction et une admiration sincères que nous prîmes congé.

Giáo dục Pháp-bản xứ tại Đông Dương

Chuyến thăm Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký

(Nguyễn Tiến Lãng, đặc phái viên báo La Dépêche Coloniale, 25-4-1935)

Sài Gòn ngày 6 tháng 4 năm 1935

Toạ lạc trên mười ba hecta đất được san lấp, vệ sinh sạch sẽ, với những luống hoa và bãi cỏ xanh mướt được ông Hiệu trưởng Valençot bài trí đẹp mắt, Lycée Petrus Ký là một trong những bằng chứng sống động và hùng hồn nhất về nỗ lực giáo dục của nước Pháp. Những toà nhà mới tráng lệ của ngôi trường nằm cách xa khu ồn ào náo nhiệt của Sài Gòn và Chợ Lớn, trong cánh đồng mả (1) nổi tiếng qua ghi chép của những nhà du hành.

Mười năm trước nơi đây chưa có gì. Collège (2) Chasseloup-Laubat, do Đô Đốc Dupré thành lập năm 1871 với tên gọi Trường Sư Phạm Bản Xứ, bắt đầu giảng dạy chương trình trung học của Pháp từ năm 1917 và trung học Pháp-bản xứ từ năm 1921. Chương trình trung học Pháp-bản xứ này xuất phát từ ước vọng dung hoà nền giáo dục và văn hoá Pháp với truyền thống Viễn Đông và học thuyết cổ truyền. Chương trình giáo dục này được phát triển với việc xây cất một ngôi trường mới cho Nam Kỳ từ năm 1925. Dưới sự thúc đẩy của Thống Đốc Nam Kỳ thời bấy giờ, ông Blanchard de la Brosse, hai toà nhà đầu tiên được hoàn tất vào năm 1927. Năm 1928, ông đã đổi trường thành lycée (3) và đặt tên là Lycée Petrus Ký để tưởng nhớ vị học giả vĩ đại người An Nam xuất thân từ Nam Kỳ. Toàn quyền Robin ký sắc lệnh thành lập cơ sở mới này.

Khi nắm quyền cai trị Đông Dương, một trong những cơ sở đầu tiên mà Toàn quyền Robin viếng thăm là Lycée Petrus Ký. Nơi đây ông đã tận mắt chứng kiến thành quả mà vị hiệu trưởng đương thời tận tuỵ cống hiến. Trong năm năm vừa qua, trên cương vị người lãnh đạo của cơ sở giáo dục vĩ đại này, ông hiệu trưởng đã tận tâm cống hiến, không chỉ với một trình độ văn hoá cao, mà trên hết là sự hiểu biết và cảm thông sâu sắc với người dân An Nam.

Thật là thú vị khi được nghe ông Valençot nói về những học trò của mình:

—“Chúng ta phải hiểu tâm lý của họ. Tôi không thể tưởng tượng được tại sao chúng ta không thể gắn bó với những người trẻ này. Họ có nhiều phẩm chất tốt mà một nền giáo dục tốt của Pháp cùng với giáo dục gia đình có thể giúp họ phát triển.”

Chúng tôi đi bộ 45 phút trong khuôn viên rộng lớn của trường. Qua những hành lang, sân trống và sân có mái che, sau khi thăm viếng các lớp học, phòng thí nghiệm, phòng vẽ, thư viện, ký túc xá, và phòng ăn, tất cả đều tiện nghi và được duy trì hoàn hảo, ông hiệu trưởng và tôi đến trước một sân thể thao rộng lớn. Cuộc trò chuyện với ông Valençot gợi mở nhiều suy tư hữu ích, có chiều sâu, thay vì chỉ phớt qua chủ đề hay chỉ cung cấp vài chi tiết. Tôi học hỏi được nhiều từ vị hiệu trưởng này.

Chúng tôi trở lại nói chuyện về tâm lý của học sinh An Nam:

Ông Valençot nói: “Những người trẻ An Nam, nhất là những người xuất thân từ những gia đình nghèo khó, thường rất chăm chỉ và ham học hỏi. Rất hiếm học sinh lười biếng. Có lẽ nhóm học sinh lười biếng này đã lạm dụng trí nhớ của mình. Tối thiểu, chúng ta không thể phê phán họ quá mức khi họ sử dụng cách diễn đạt khuôn mẫu hoặc sáo rỗng khi nói hay viết. Điều không thể tránh khỏi là khi thực hành một ngoại ngữ, chúng ta dùng những mẫu câu có sẳn. Tuy nhiên, nhiều học sinh lớp trên của tôi sử dụng tiếng Pháp rất tinh tế và đồng hoá với những tác giả như Marot hay Régnier. Không phải học sinh nào ở các trường trung học Pháp cũng đều quen thuộc với các tác giả này. Học sinh An Nam rất kỷ luật, kết hợp được phẩm chất tinh thần và trí tuệ. Họ thường nhạy cảm và không dễ dàng cởi mở, nhưng một khi họ hiểu được người thầy của mình và ghi nhận sự vô vụ lợi trong việc chăm sóc cho lợi ích của họ, họ sẽ tin tưởng một cách không dè dặt, bày tỏ lòng biết ơn và sự chân thành.”

Ông Valençot tin tưởng tuyệt đối vào giá trị của trường nội trú như một phương tiện để truyền bá nền giáo dục Pháp, giúp thanh niên An Nam nhận thức được nhân cách của mình. Ông lấy làm tiếc về giá biểu nội trú hiện nay, do khủng hoảng kinh tế, khiến một số thanh niên kém may mắn hoặc là con của những bậc cha mẹ kém hiểu biết về kinh tế không thể ở nội trú trong trường. Thực ra, tuy việc sống trong thành phố ít tốn kém hơn cho các học sinh ngoại trú, họ mất đi lợi ích không thể thay thế được mà nhà trường cung cấp cho học sinh nội trú. Đó là sự phát triển hài hòa nhân cách.

Ông Valençot nói “Tôi lo sợ cho việc bỏ mặc người trẻ sống trong những khu nhà trọ không có người giám sát, hoặc sống với những người giám hộ không được lựa chọn kỹ lưỡng. Phải chi họ được sống với gia đình, được chăm sóc trong sự giáo dục của gia đình. Tôi chỉ thị cho các em học sinh cả nội trú lẫn ngoại trú phải vâng lời gia đình, vì tôi biết uy quyền của người cha trong gia đình An Nam. Tôi thường nhờ những người cha này quan sát hoặc đưa ra những lời chỉnh sửa mà tôi không cần phải làm. Theo truyền thống và quy tắc của người An Nam, đó là việc mà người cha An Nam cần làm. Bằng cách đó, các học sinh của tôi tiếp tục hoà mình vào môi trường gia đình, nơi các em có thể học cách tuân theo truyền thống lâu đời về sự kính trọng người già và các bậc trưởng thượng, tôn kính tổ tiên, và lòng biết ơn thầy cô. Giáo dục gia đình và giáo dục học đường không loại trừ lẫn nhau mà chúng bổ sung cho nhau một cách hài hoà.”

Còn gì để nói thêm vào những lời lẽ thông thái đó? Tôi từ biệt ông hiệu trưởng với sự hài lòng và ngưỡng mộ chân thành.

Ghi chú:

(1) Plaine des tombeaux: cánh đồng mả. Theo Trương Vĩnh Ký (Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs, trang 13, https://petruskyaus.net/ky-uc-lich-su-sai-gon-va-vung-phu-can-saigon-et-ses-environs-p-truong-vinh-ky/) nơi đây là đồn tập trận thời Tả quân Lê văn Duyệt. Xem thêm bài Đồng Tập Trận (Mả Nguỵ) trên trang mạng https://www.hinhanhlichsu.org/2019/04/dong-tap-tran-ma-nguy.html. Trong hồi ức “Hơn bảy mươi năm qua” được đăng trong Đặc San 1 của Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký (https://petruskyaus.net/wp-content/uploads/2020/09/ds-pk-uc-chau-01-e28093-hon-bay-muoi-nam-qua-ghi-an-ong-petrus-ky.pdf), cụ Trần văn Lắm có nhắc đến những nấm mồ này. Cụ là học sinh khoá đầu tiên của trường từ năm 1927, về sau là Ngoại Trưởng và Chủ Tịch Thượng Nghị Viện VNCH.
(2) Trung học đệ nhất cấp, nay là trung học cơ sở.
(3) Trung học đệ nhị cấp, nay là trung học phổ thông.