TS. Nguyễn Duy Chính: “Chúng ta phải có đủ kiên nhẫn bóc từng lớp một để đi tìm sự thật lịch sử…”
Trân Huyền
(bài và ảnh đăng lại từ trang FB của Trần Đức Anh Sơn)
(Nguồn: Winston Phan)
Trong những người nghiên cứu đương đại về triều Tây Sơn, có lẽ ít người viết khỏe như TS Nguyễn Duy Chính. Ở tuổi U80, ông vẫn kiên trì đóng góp, đưa ra những tư liệu và kiến giải mới về một vương triều ngắn ngủi (chưa tới 25 năm: 1778-1802) nhưng quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Gần đây ông có ra mắt hai cuốn sách mới ở Việt Nam nên tạp chí Xưa và Nay có cuộc phỏng vấn do Trân Huyền (TDAS) thực hiện, đăng tạp chí Xưa & Nay số Tháng 1+2/2026 (Chào Xuân Bính Ngọ 2026), trang 31-35.
—-
TS. NGUYỄN DUY CHÍNH: “Chúng ta phải có đủ kiên nhẫn bóc từng lớp một để đi tìm sự thật lịch sử…”
Trung tuần tháng 12/2025, TS. Nguyễn Duy Chính (Hoa Kỳ) đã về Việt Nam để trao đổi học thuật và ra mắt độc giả 2 cuốn sách Gốc tích nhà Tây Sơn (biên khảo) và Quan hệ Việt Nam và Trung Hoa dưới triều Thanh (biên dịch). Nhân dịch này tạp chí Xưa và Nay có tiếp xúc và trao đổi.
—-
XN: Chào ông Nguyễn Duy Chính, xin ông cho biết cơ duyên nào giúp ông xuất bản hai cuốn này ở Việt Nam?
TS. Nguyễn Duy Chính: Cách đây nhiều năm, khi có được một bản PDF luận án tiến sĩ Thanh Việt quan hệ nghiên cứu – Dĩ mậu dịch dữ biên vụ vi thám thảo trung tâm (1644 – 1885) [清越關係研究 – 以貿易與邊務為探討中心 (1644 – 1885)] của Lại Tông Thành [賴淙誠], giáo sư Sử học ở Đài Loan, thì tôi đã có ý định dịch và biên tập lại bộ sách này. Lại Tông Thành đã nghiên cứu về giao thiệp giữa Trung Hoa (đặc biệt triều Thanh) với Việt Nam chủ yếu dựa trên các tài liệu và văn bản gốc của nhà Thanh nên độ khả tín rất cao, bù đắp cho những gì ghi chép trong sử Việt Nam tương đối giản lược và còn nhiều thiếu sót.
Tuy nhiên, sau khi hoàn tất bản dịch, việc xuất bản có nhiều khó khăn vì chúng tôi không thể liên lạc được với tác giả để xin phép nên công việc phải ngưng trệ. May thay, khi bạn tôi là TS. Trần Đức Anh Sơn ở Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) có dịp sang Đài Loan nghiên cứu ở Academia Sinica trong gần 1 năm, đã liên lạc được với GS. Lại Tông Thành để mua bản quyền và chúng tôi đã hợp tác với nhau để xuất bản bản dịch tiếng Việt của luận án này. Tuy luận án này chỉ nghiên cứu một triều đại của Trung Hoa là nhà Thanh, nhưng lại bao trùm lên ba triều đại của Việt Nam, cho thấy toàn bộ cách thức giải quyết vấn đề “tông phiên” giữa Trung Hoa và Việt Nam, và cho chúng ta một bài học lịch sử trong giao thiệp với phương Bắc. Thông qua TS. Trần Đức Anh Sơn, tôi hợp tác với Tao Đàn Thư Quán để xuất bản bản dịch luận án tiến sĩ của Lại Tông Thành, với tựa tiếng Việt là Quan hệ Việt Nam – Trung Hoa dưới triều Thanh.
Tôi cũng vừa hoàn thành biên khảo Gốc tích nhà Tây Sơn, một đề tài tương đối mới mẻ, đánh giá lại nhiều quan điểm lịch sử vốn dĩ vẫn được coi như bất biến, nhưng có nhiều nguồn sử liệu mới, cung cấp cái nhìn khác với trước đây về gốc tích của nhà Tây Sơn. TS. Trần Đức Anh Sơn và Tao Đàn Thư Quán đã tạo điều kiện để bản thảo này được cấp phép xuất bản tại Việt Nam.
Nhờ vậy, đến cuối năm 2025, tôi đã trở lại Việt Nam để giới thiệu hai cuốn sách này, đồng thời nhận lời nói chuyện với một số cơ sở văn hóa và giáo dục trong nước về nội dung, phương pháp và nhất là các nguồn tài liệu tham khảo mà tôi sử dụng để biên khảo và biên dịch hai cuốn sách này.
XN: Từ năm 2013 đến nay, ông đã xuất bản 18 đầu sách ở Việt Nam, trong đó có tới 8 cuốn biên khảo và biên dịch về thời kỳ Tây Sơn. Xin ông cho biết lý do vì sao ông đặc biệt quan tâm đến nhà Tây Sơn, dù triều đại này tồn tại khá ngắn ngủi, so với nhiều triều đại quân chủ khác trong lịch sử Việt Nam?
TS. Nguyễn Duy Chính: Tuy triều đại Tây Sơn khá ngắn ngủi trong lịch sử Việt Nam nhưng đã được nhiều thành phần – hàn lâm cũng như dân gian – quan tâm rộng rãi. Hàng trăm tác phẩm đã được xuất bản liên quan đến vai trò của triều đại này, kể cả nghiên cứu lịch sử, văn học, tiểu thuyết, dã sử…
Một đặc điểm nổi bật trong hầu hết những tác phẩm viết về Tây Sơn là không thể thoát ra được việc sử dụng tài liệu của triều Nguyễn – vốn là kẻ thù không đội trời chung với Tây Sơn – đã khiến cho cơ sở lý luận chủ đạo là miêu tả Tây Sơn theo cách của nhà Nguyễn (vốn dĩ có nhiều cố ý bôi bác kẻ thù) và thay đổi sao cho phù hợp với nhu cầu tôn vinh mới mà bỏ qua cơ bản quan trọng nhất của lịch sử là phải dựa trên sự thật bất kể quan niệm chính trị hay cảm tính của người viết như thế nào.
Tuy nhiên, cũng cùng một đề tài, cùng một sự kiện, khi nghiên cứu văn bản gốc của Thanh triều liên quan đến công tác ngoại giao với Việt Nam, sự thật hoàn toàn khác hẳn với những gì được miêu tả trong vài trang của Ngụy Tây liệt truyện do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, vốn là nòng cốt cho nghiên cứu về Tây Sơn lâu nay, dẫn đến những hiểu biết sai lạc hết sức tai hại. Sau khi sàng lọc và đối chiếu, trong quá trình nghiên cứu về triều đại Tây Sơn, việc bẻ cong lịch sử càng lúc càng gia tăng cường độ và không ít những chi tiết được ngụy tạo để củng cố cho kết quả và phù hợp với chủ đích biến những vinh quang (thực) thành lố bịch (giả).
Những tạo dựng và uốn nắn trước đây vẫn coi như chân lý chẳng hạn việc vua Quang Trung sang ôm gối vua Càn Long; Nguyễn Huệ có tham vọng gây chiến với Trung Hoa để đòi đất Lưỡng Quảng, khiêu khích nhà Thanh và dùng hải phỉ để quấy phá khu vực nam Trung Hoa… đều không có thực. Tai hại hơn nữa, chính ngay sử Trung Hoa và ngoại quốc cũng lại cho rằng việc người Việt chép sử Việt ắt phải chính xác hơn người ngoài, nên cũng phụ họa với những lập luận vu cáo ấy mà cho rằng đây mới là thực sử.
Việc đi tìm lại “công lý” cho tiền nhân và đánh giá đúng mức vị thế của triều đại Tây Sơn trong bối cảnh giao thiệp với Trung Hoa theo mô hình quốc tế không chỉ đem lại câu trả lời cho lịch sử nước ta mà còn có thể đặt lại một cơ sở mới cho sự thay đổi của chính Trung Hoa trong thế kỷ XIX từ khi phái đoàn Quang Trung sang Bắc Kinh, chứ không phải đợi đến những cuộc chiến liên tiếp như bầy cá rỉa mồi thì mới biết rằng nhà Thanh không hùng mạnh như người ta vẫn hình dung.
Luận đề về thời điểm bản lề “Lên và Xuống” của đế quốc Đại Thanh sẽ được tôi trình bày trong biên khảo “Hoàng Hoa đệ nhất bộ”, sẽ xuất bản trong tương lai gần.
XN: Sử liệu về triều đại Tây Sơn ở nước ta không nhiều, phần lớn là do sử gia và các học giả đời sau viết, lại mang nặng thiên kiến chính trị, nhiều thông tin không đúng sự thật, thiếu khách quan. Vậy anh đã sử dụng nguồn tư liệu nào, ở đâu để bổ túc cho sử liệu Việt Nam nhằm làm sáng tỏ những góc khuất về nhà Tây Sơn?
TS. Nguyễn Duy Chính: Triều đại Tây Sơn là một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử nước ta. Nhờ những cơ duyên bất ngờ, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đã làm chủ một khu vực lớn của đất nước. Từ tham vọng làm lãnh chúa một phương, chính nhà Thanh đã đưa họ lên một vị trí mà người xưa coi là “chính thống” khiến cho những người không ưa họ phải ghen thầm.
Sau khi nhà Tây Sơn bị diệt, lịch sử về triều đại này hoàn toàn do triều Nguyễn ghi chép. Vì nhiều lý do, sử chép về Tây Sơn chỉ được thực hiện hơn một nửa thế kỷ sau, phần lớn do tài liệu thứ cấp và đậm tính chất xuyên tạc một “ngụy triều”. Nếu phân tích các chi tiết được ghi trong Ngụy Tây liệt truyện là tài liệu chính yếu viết về Tây Sơn, đối chiếu với các tài liệu tiên nguyên (primary sources) mà nước ngoài còn lưu trữ chúng ta có thể xác định sự sai lầm có chủ đích khi viết về Tây Sơn và Quang Trung.
May mắn thay, nhờ cơ chế bảo quản có phương pháp và qui mô của Trung Hoa tại Bắc Kinh và Đài Loan, nhiều tài liệu gốc vẫn được lưu trữ và gần đây được công bố cho toàn thể học giới tham khảo. Nhiều tài liệu tưởng như không bao giờ có thể tiếp cận nay đã được công khai hóa. Chính những chi tiết về giao thiệp với triều Tây Sơn của nhà Thanh đã giúp cho chúng tôi nhìn lại những vấn đề lớn như đại lễ “bão kiến thỉnh an” không giống như “lễ bão tất” của vua Minh Mạng mới đặt ra, việc cầu hôn công chúa nhà Thanh là một chính sách ngoại giao quan trọng để liên minh quân sự với phương Bắc, việc yêu cầu trả lại những khu vực bị chiếm đoạt dọc theo biên giới là động thái hợp lý rất khả thi dựa trên một tiền lệ của vua Ung Chính nhà Thanh trả lại đất cho nước ta ở vùng Đổ Chú, Tụ Long…
Ngoài ra, những nguồn tài liệu khác của Tây phương, của các thừa sai đạo Thiên Chúa ghi nhận khi thực hiện công tác truyền giáo, tài liệu từ các nhà buôn nước ngoài và gần đây, tài liệu của các khu vực chung quanh nước ta như sử của Xiêm La, Vạn Tượng, Campuchia, Miến Điện… cũng cung cấp thêm nhiều chi tiết để soi sáng lại những thời kỳ mà lịch sử nước ta còn chưa minh bạch. Tôi hi vọng trong tương lai gần, nếu điều kiện cho phép, sẽ tiếp tục công bố những nghiên cứu dựa trên nguồn tài liệu quí giá này.
Tuy nhiên việc nhìn lại những vấn đề lịch sử không phải không có những khó khăn. Trong thời kỳ mà tin tức phổ biến còn hạn chế, việc kiểm chứng tư liệu còn hạn chế, những vấn đề không đúng sự thực ít khi được tìm hiểu cho rốt ráo, nên phần nhiều người ta muốn đi theo lối mòn cũ, là hình thức tương đối dễ dàng, ít nguy hiểm, nhất là nhiều người đã đầu tư cả cuộc đời và sự nghiệp vào những định kiến nên không muốn thay đổi.
XN: Ông đã dùng phương pháp nào để khảo chứng nguồn tư liệu ngoại quốc này? Liệu nó có đảm bảo tính chân xác và khách quan để ông tin dùng khi nghiên cứu về thời kỳ Tây Sơn và biên soạn thành bộ sách đồ sộ về triều đại này?
Tài liệu nghiên cứu tôi sử dụng đều thuộc loại tiên nguyên, nghĩa là những văn bản xuất hiện ngay khi sự việc đang xảy ra và trực tiếp liên quan đến vấn đề đó. Những tài liệu đó đều thuộc dạng văn bản hành chánh để thi hành hay giải quyết một biến chuyển thuộc thẩm quyền của địa phương chứ không thuộc dạng hồi ký hay quan sát từ bên ngoài.
Nghiên cứu về văn bản hành chánh, chúng ta không những phải nắm vững các qui luật tổ chức, truyền đệ, báo cáo và hoàn cảnh thực tế mà còn phải biết chọn lựa những chi tiết đóng góp cho việc giải mã vấn đề chứ không phải chỉ ghi nhận một cách máy móc.
Trong việc tìm hiểu về tình hình giao thiệp giữa triều đình Tây Sơn và nhà Thanh, ngoài những văn bản hành chánh, tài liệu nước ta còn giữ được những “văn bản con thoi” qua lại giữa các cấp trung gian và nhờ đó có thể phục dựng lại những biến chuyển bất ngờ, điều chỉnh lại những tin đồn không đúng sự thật mà người ngoài phao lên khi đánh giá một công tác ngoại giao. Trong cùng một thời kỳ, cùng một sự việc, những góc nhìn khác nhau từ người thân Tây Sơn, từ người thân Lê chống Tây Sơn, hay từ góc độ của triều Nguyễn thù ghét Tây Sơn và đánh giá kẻ địch sau nhiều thập niên, tất cả đều phải được tái lượng giá. Đó là chưa kể những xung động tình cảm và những ý thức chính trị mới cũng góp phần làm biến dạng nhận thức của người nghiên cứu lịch sử.
Một chi tiết tuy không hoàn toàn rõ rệt nhưng cũng cần đưa lên bàn cân, vì ngay từ những ngày đầu nghiên cứu về giao thiệp Trung Hoa – Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, tôi đã ghi nhận là khi tham khảo những bộ thông sử nhiều tập rất qui mô và rộng rãi của Trung Hoa ấn hành ở lục địa cách đây vài chục năm thì tuyệt nhiên không tìm thấy một chi tiết nào về giao thiệp Trung Hoa và Tây Sơn trong giai đoạn này. Ngược lại, các bộ thông sử của Đài Loan thì tuy có chép đến giao thiệp Việt – Thanh nhưng dưới những tiêu đề hạ thấp vai trò của nước ta cho rằng chỉ là việc cầu xin được quay lại thần phục nước lớn chứ hoàn toàn không đánh giá là một thắng lợi ngoại giao.
Về sách vở của Tây phương về thời kỳ này, phần lớn chép lại những chi tiết ghi trong Thanh sử cảo nên cũng lặp lại những sai lầm của sử thần nhà Thanh chép về nước ta mà đến nay còn nhiều người vẫn coi như khuôn vàng thước ngọc. Chính từ những tiêu chí ngoại giao và nghi lễ vốn dĩ là cơ sở quan trọng nhất để phục dựng lại bang giao Thanh – Việt, chúng ta không những có cơ sở đánh giá lại việc chép sử của triều Nguyễn về Tây Sơn mà cũng có có một mô hình để đánh giá lại các công trình khác liên quan đến giai đoạn này dù là do người Trung Hoa hay người Tây phương biên soạn về nước ta.
XN: Vì sao ông chọn dịch luận án tiến sĩ của Lại Tông Thành và đặt lại tựa là Quan hệ Việt Nam – Trung Hoa dưới triều Thanh? Ông đánh giá thế nào về những đóng góp của Lại Tông Thành trong việc phục dựng mối quan hệ Thanh – Việt trong các thế kỷ XVII – XIX?
TS. Nguyễn Duy Chính: Tôi chọn luận án tiến sĩ của Lại Tông Thành để dịch ra tiếng Việt do nhiều nguyên nhân:
– Thứ nhất, giao thiệp và những tương tác trên qui mô chính quyền với chính quyền trước nay chưa được quan tâm và nghiên cứu toàn diện. Chúng ta đã có một số tác phẩm về bang giao Việt – Thanh nhưng đều chỉ viết về quan hệ triều cống, khai thác nhiều về những dật sự ngoại giao, nhiều khi không thật, do các sứ thần ghi chép. Những phương diện khác tuy vẫn được ghi nhận, nhưng không được nghiên cứu như những chính sách quốc gia mà chỉ là sự kiện hành chánh.
– Thứ hai, tài liệu gốc về giao thiệp giữa Trung Hoa và Việt Nam không còn nhiều, phần lớn chỉ là những sao chép còn tồn tại trong các bộ sách tư nhân như Bang giao lục, Lịch triều hiến chương loại chí và một số trước tác tổng quát, chứ chưa được hệ thống hóa có lớp lang và phân đoạn rõ rệt như trong luận án của Lại Tông Thành. Tuy đó chưa phải là biên khảo hoàn toàn đầy đủ, nhưng trên cơ sở sách tham khảo, việc công bố luận án này bằng tiếng Việt sẽ giúp các nhà nghiên cứu Việt Nam có thể rút ngắn được qui trình tìm kiếm tài liệu gốc mà không phải lần mò như chính tôi đã trải qua khi nghiên cứu.
– Thứ ba, tuy nhan đề tác giả chỉ giới hạn vào việc “mậu dịch” và “biên vụ” (tức là việc qua lại buôn bán ở biên giới và các tranh chấp đất đai của các dân tộc thiểu số ở biên cương), nhưng thực ra tác giả đã tìm hiểu rất rộng rãi về nhiều vấn đề ngoại giao khác nên tôi đã đặt lại đề tựa cho minh bạch hơn. Tôi cũng nhắc lại, biên khảo này có thể chưa hoàn toàn đầy đủ, nhưng có thể được coi là đã nêu ra được những vấn đề chủ chốt trong giao thiệp quốc gia với quốc gia và nếu được nghiên cứu thêm qua tài liệu của chính Việt Nam thì nhiều vấn đề có thể có thêm những góc độ mới.
Biểu đồ về số lượng văn thư liên quan nước ta trong “Thanh thực lục”
Cách đây nhiều năm, khi bắt đầu nghiên cứu về giao thiệp Việt – Thanh, tôi có làm một biểu đồ thống kê về số lượng văn thư liên quan đến nước ta trong Thanh thực lục (xem Biểu đồ) và thấy rằng có hai giai đoạn – cuối thế kỷ XVIII (tương ứng với triều Tây Sơn) và cuối thế kỷ XIX (tương ứng cuối đời Tự Đức) – con số văn thư cao vượt bực. Tuy Thanh thực lục chỉ phản ảnh tổng quát việc giao thiệp của Trung Hoa và Việt Nam, nhưng điều đó cũng nói lên cường độ ngoại giao. Thời cuối triều Nguyễn chúng ta có thể hiểu được vì hai nước cần chung tay chống ngoại xâm, nhưng cuối thế kỷ XVIII là giai đoạn mà trước nay chưa được quan tâm đầy đủ.
Nhờ sự mở rộng tài liệu tham khảo và văn bản gốc của Trung Hoa trong cả kho đáng án ở Bắc Kinh và Đài Bắc, ngày hôm nay chúng ta có nhiều cơ hội hơn để tìm hiểu về những giai đoạn còn mù mờ, đánh giá lại những dòng chảy lịch sử bị lãng quên. Trong việc đem lại những góc nhìn mới, tôi sẽ không ngừng lại sau khi dịch tác phẩm của Lại Tông Thành, mà sẽ tiếp tục công bố thêm những tài liệu mới để góp phần làm sáng tỏ những giai đoạn lịch sử của chính mình lâu nay chưa được quan tâm đúng mức.
Một cách thành thực, trong nghiên cứu bổ sung về lịch sử Việt Nam, tôi đã công bố hai bản dịch: Việt Nam và cuộc chiến Trung – Pháp của GS. Long Chương (Nxb. Tổng hợp TPHCM, 2022) và Quan hệ Việt Nam – Trung Hoa dưới triều Thanh của GS. Lại Tông Thành (Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2025), đều do các học giả Đài Loan soạn, nên tôi cũng có ý định chọn ra một số học giả ở Trung Quốc đại lục viết về Việt Nam để độc giả có dịp đối chiếu các nguồn tài liệu về Việt Nam từ nhiều góc độ khác nhau. Những công trình ấy sẽ được công bố khi điều kiện thuận tiện.
Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các học giả, các quản thủ gia trong và ngoài nước đã hết lòng tiếp tay trong việc tìm tài liệu từ những kho đáng án quốc tế. Hệ thống tìm và cho mượn tài liệu của các đại học ở Hoa Kỳ đã giúp cho người nghiên cứu giảm bớt được rất nhiều công lao, tiền bạc mà phương tiện cá nhân thường không kham nổi. Tôi cũng đặc biệt trân trọng công lao tìm và sao chụp các sách vở, báo chí cũ thuộc khu vực Đông Dương do anh Võ Phi Hùng thực hiện và do nhà giáo Huỳnh Chiếu Đẳng công bố trên Kho Sách Xưa đề mọi người tự do tham khảo.
XN: Hầu như học giới học Việt Nam đều tán đồng quan điểm “gốc tích của ba anh em Tây Sơn” là từ Nghệ An, và họ gốc của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ là họ Hồ. Tuy nhiên, trong biên khảo mới xuất bản, thì ông “lật lại” vấn đề “gốc tích” của họ. Ông nghĩ sao khi “lật lại gốc tích nhà Tây Sơn” và điều gì đã được ông làm sáng tỏ?
Lịch sử chép về triều đại Tây Sơn có những lý sở đương nhiên khiến cho phần lớn chúng ta – kể cả tôi trước đây – đều tin tưởng vào một số định đề mà không ai bỏ công tìm hiểu xem sự thực như thế nào và những gì chúng ta biết có thực sự đáng tin không?
Không riêng gì về nguồn gốc anh em Tây Sơn mà người ta căn cứ vào một vài dòng trong Ngụy Tây liệt truyện để khẳng định gia đình họ di cư từ Nghệ An theo những trận càn và đưa người từ miền Bắc vào khai khẩn những vùng mới chiếm. Thế nhưng thân thế họ không ngừng lại ở đó mà tiếp tục được thêm vào chi tiết gốc họ Hồ, vốn dĩ chỉ xuất hiện trong tiểu thuyết thế kỷ XX, rồi dần dần được một số nhân vật khai thác theo nhu cầu chính trị để liên kết với gia tộc của Hồ Xuân Hương hay truy nguyên lên đến Hồ Quí Ly ở thế kỷ XV.
Việc tin tưởng vào những chi tiết có nguồn gốc bông bênh vốn dĩ vô hại nếu dựa trên cơ bản anh em Nguyễn Nhạc là những người dân thuộc khu vực của chúa Nguyễn đã “xướng loạn” chống lại triều đình. Việc coi họ là “ngụy triều” và những hình thức xử tội khi anh em Nguyễn Quang Toản bị bắt cho thấy triều Nguyễn không coi họ như một thế lực đối đầu bị thất thế, mà là thành phần chống lại triều đình bị đánh dẹp.
Khi phân tích sâu xa hơn về nguyên nhân, hậu quả và tiến trình hình thành một khu vực cai trị với mô thức lãnh đạo có những đặc tính khác với mô hình Trung Hoa mà gần gũi hơn với mô hình Nam Á hay đảo quốc, thì việc “nhìn lại gốc tích” của họ cũng giải quyết được những hình thức trước đây chưa từng được đặt ra. Chúng ta thấy anh em Nguyễn Nhạc (và sau này là anh em Nguyễn Quang Toản) đều trị nước theo khuynh hướng một chính quyền quả đầu (oligarchy), chứ không tập trung vào một người duy nhất theo kiểu Trung Hoa. Việc họ nổi lên và có được chính quyền cũng không hoàn toàn “vô trung sinh hữu” mà đi theo cách thức xâm nhập và giành được sức mạnh khi có cơ hội không khác gì những vụ đảo chính cung đình ở Xiêm La, Miến Điện…
Việc đi tìm nguồn gốc anh em Tây Sơn cũng giúp chúng ta nhìn lại được cục thế khu vực cách đây ba, bốn thế kỷ hoàn toàn khác hẵn những phân định giới tuyến, biên giới, chủng tộc mà chúng ta ghi nhận từ thế kỷ XX cho đến sau này. Biên cương khu vực rất co dãn và mỗi lãnh chúa đều có tham vọng bành trướng nên việc một khu vực này dãn nở ra thì cũng đồng nghĩa với một khu vực khác phải co cụm lại. Biên giới linh động, chủng tộc thay đổi theo những đợt di dân tự nguyện hay cưỡng bách khi một nhân vật thắng thế đã tái phối trí nhân sự trong khu vực của mình để hoàn thành các công trình kiến trúc đưa đến những học thuyết mới, nghiên cứu mới giúp lịch sử được nghiên cứu đa chiều và giải thích được nhiều vấn đề chưa có câu trả lời rốt ráo.
Không chỉ tìm hiểu thêm về thân thế anh em Tây Sơn và sự xuất hiện của họ đưa chúng ta đến nhưng câu hỏi trước đây không mấy ai nghĩ đến như có thực họ liên quan đến người Chàm (Chăm) ở miền Trung nước ta (theo cả nghĩa chủng tộc lẫn văn hóa)? liệu có tương đồng với các triều đại của vương quốc Chiêm Thành cũ hay không? Khi đi tìm những câu trả lời sâu xa, rộng rãi hơn về một triều đại sớm nở tối tàn, bùng lên rồi tắt ngúm như triều đại Tây Sơn, chúng ta có thể cũng đang đi tìm một mạch nguồn lịch sử hàng nghìn năm cũ bên dưới những lớp bụi thời gian nay đã bị hậu thế thờ ơ. Thân thế anh em Tây Sơn cũng có thể có những liên quan đến các phái đoàn truyền giáo đến xây dựng cơ sở ở vùng Nước Mặn nhiều thế kỷ trước mà đến ngay giáo hội La Mã cũng không biết rõ khi trộn lẫn với các tôn giáo hay nghi thức cúng tế của bản địa. Việc Nguyễn Huệ được miêu tả cao lớn hơn bình thường cũng có thể cho thấy ông chưa chắc chỉ thuộc về một chủng tộc Nam Á, nhất là khu vực này là một địa điểm giao thoa của nhiều thuyền buôn từ khắp nơi tụ hội.
XN: Theo ông, một người nghiên cứu lịch sử phải làm gì trước những nguồn thông tin đầy nhiễu loạn về vấn đề mà họ đang nghiên cứu, chẳng hạn như đối với nhà Tây Sơn trong các vấn đề: gốc tích của họ, việc bang giao với nhà Thanh sau chiến thắng Kỷ Dậu, việc “giả vương sang Tàu”, việc đòi đất Lưỡng Quảng và cầu hôn công chúa nhà Thanh, và nguyên nhân sụp đổ nhanh chóng của triều đại Tây Sơn?
Nghiên cứu về Tây Sơn nói riêng và khu vực Đông Nam Á cuối thế kỷ XVIII nói chung là một qui trình phức tạp đòi hỏi sự cẩn trọng và kiên nhẫn để tìm hiểu cho rốt ráo và không bỏ sót một chi tiết nào.
Điều không may của lịch sử là việc chép về thời đại này đã không xảy ra ngay khi họ tại thế, mà chỉ bắt đầu nhiều thập niên về sau, dưới ngòi bút của phe đối nghịch muốn bôi đen kẻ địch hơn là đi tìm sự thật. Chính vì thế, khi tìm được những nguồn tài liệu khác đáng tin cậy hơn, chúng ta phải có đủ kiên nhẫn bóc từng lớp một để đi tìm sự thật.
Từ tông tích mơ hồ mà họ xuất hiện rồi lớn mạnh, thực sự họ trỗi dậy không khác gì những thế lực địa phương khác trong vùng ở nhiều nơi, nhiều thời kỳ để tay trắng làm nên sự nghiệp chứ không phai là trường hợp duy nhất. Họ cũng đi theo mô thức tìm cách xâm nhập vào thế lực cầm quyền để chờ cơ hội kể cả dùng hôn nhân (Nguyễn Nhạc gả con gái là Thọ Hương cho Hoàng tôn Dương) theo con đường nhà Triệu, nhà Trần, nhà Hồ… xây dựng quyền hành.
Thế nhưng khi Nguyễn Huệ đánh bại quân Thanh trong một trận chiến chớp nhoáng, vua Càn Long thay đổi chiến lược – thay vì tiếp tục ủng hộ nhà Lê thì quay sang công nhận Tây Sơn – tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để đưa Nguyễn Huệ vào vị trí vốn dĩ đã sắp xếp cho Lê Duy Kỳ để ông này sang dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ. Việc công nhận một họ khác thay thế cho họ Lê tuy khó khăn thật, nhưng với quyết tâm của một đại quốc, nhà Thanh đã mau chóng đưa An Nam trở lại vai trò phiên thuộc.
Trong lịch sử nước ta, việc yêu cầu đích thân quốc vương sang Trung Hoa vốn dĩ là nghi thức đòi hỏi người đứng đầu nước sang cầu phong trước khi được công nhận chính thức. Đây cũng là vướng mắc mà người ta cho rằng vua Quang Trung đã phá lệ mà thi hành. Thực ra việc cầu phong thực hiện trước khi được phong vương vốn dĩ là đòi hỏi ban đầu nhưng hai bên đã sắp xếp để một nghi thức mới thay thế cho đòi hỏi cống người vàng mà nhà Minh trước đây bắt buộc. Hai bên đồng ý đưa một người thân của vua Quang Trung sang đại diện và phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đã nhân danh vua Quang Trung lên Nhiệt Hà dâng biểu cầu phong đồng thời nhận sắc ấn đem về nước.
Sự linh động để giải quyết vấn đề thực ra còn long trọng hơn mọi thủ tục cũ nhưng một phần vì không nắm vững nghi lễ ngoại giao, phần khác cố tình xuyên tạc nên ngoại sử đã bỏ qua phái đoàn Nguyễn Quang Hiển và còn cho rằng chính Nguyễn Quang Hiển đã đóng vai vua Quang Trung sang Trung Hoa, củng cố cho cái thuyết “giả vương nhập cận”. Trong tình hình lúc đó, bước trung gian của một phái bộ thân thần sang cầu phong đã hoàn chình thủ tục nghi lễ và nhà Thanh sai người sang làm lễ phong vương để Nguyễn Huệ kịp thực hiện lời hứa đích thân sang Trung Hoa dự lễ khánh thọ. Đó chính là niềm tự hào mà các văn quan nước ta đã cho rằng mình đã giữ được đạo trung và chữ tín với lân bang khi phái đoàn An Nam quốc vương sang Trung Hoa tham dự đại lễ của nhà Thanh. Một số đồn đoán cho rằng đây chỉ là kế “điệu hổ ly sơn”, một khi vua Quang Trung ra khỏi Nam Quan thì quân Thanh sẽ nhiều đường đánh xuống đã không xảy ra nên nhiều người trong nhóm thân Lê bị hụt hẫng, nẩy sinh ra phao đồn vô căn cứ về chuyến đi này.
Sự thành công của chuyến đi ngoại giao “có một không hai” trong lịch sử tuy đã bị xóa đi không để lại dấu vết và chính sử Trung Hoa cũng cố tình bỏ qua, nhưng tài liệu gốc vẫn còn nguyên trong văn khố. Việc khôi phục lại các văn bản, tái lượng giá nguyên nhân, hậu quả của chuyến đi này là một công tác quan trọng không chỉ đánh giá lại một chuyến công du ngoại giao mà còn giải mã được nhiều tin đồn sai lạc phát sinh do ác ý của người sau. Về một số cáo buộc vu vơ trong Ngụy Tây liệt truyện, nay cũng có cơ sở để giải thích:
– Trước hết việc đòi đất Lưỡng Quảng là một việc không có thực. Tài liệu nước ta còn chép một bản sao việc đòi “bảy châu Hưng Hóa” do Ngô Thì Nhậm chấp bút trong Bang giao hảo thoại, cùng tiến trình bác khước của nhà Thanh lấy cớ việc xảy ra đã lâu nay không giải quyết nữa. Thực tế, nếu không bị ngáng trở mà tờ biểu lên tới triều đình thì việc hoàn lại “bảy châu Hưng Hóa” là điều rất có thể, dựa trên một án lệ cũ của vua Ung Chính (thân phụ của vua Càn Long) đã từng trả lại 40 dặm đất nhà Thanh lấn chiếm của nước ta.
– Thứ hai việc cầu hôn công chúa cũng không phải chuyện bất thường gì, vì nhà Thanh có lệ gả con cho các phiên vương gần gũi điển hình là các thân vương Mông Cổ có cùng nòi giống với người Mãn Châu. Qua những ưu đãi vượt bực mà ông được hưởng, Nguyễn Huệ không quá đà khi ông cầu hôn một hoàng nữ nhà Thanh, mà chính là củng cố liên minh quân sự với phương bắc khi muốn tập trung sức mạnh giải quyết các vấn đề của phía nam. Mọi việc không thể tiếp tục khi ông qua đời khá bất ngờ ở tuổi 40.
Về thất bại của Tây Sơn cho đến nay người ta vẫn cho rằng hoàn toàn chỉ là tương quan nội bộ giữa sức mạnh của Tây Sơn và lực lượng của chúa Nguyễn. Cho đến gần đây, chúng ta mới biết rằng chính nhà Thanh đã yểm trợ cho các phiên thần thân Lê nổi dậy và bí mật thúc đẩy triều đình Phú Xuân đánh ra Bắc. Trong công tác thay đổi triều đại ở An Nam, dư đảng Lê – Trịnh tuy thực sự có vai trò nhưng cũng xôi hỏng bỏng không khi nhà Thanh không muốn nước ta chia thành hai quốc gia như thời Minh mà ủng hộ một nước Việt Nam thống nhất, làm đối trọng với Xiêm La, Miến Điện trong vùng.
Xét vai trò của Trung Hoa đối với cục diện khu vực, việc công nhận hay phủ nhận của họ đối với một triều đại của nước ta không phải là không quan trọng. Khi cần nâng đỡ nhà Lê thì họ lấy chiêu bài hưng diệt kế tuyệt, đến khi không còn yểm trợ thì lại mơ hồ cho rằng trời đã chán ghét họ Lê. Giữ hay bỏ Tây Sơn họ cũng nêu ra những lý do tương tự nhưng ở bên trong nước lớn luôn luôn có nhiều cách để biện minh cho chủ trương của họ mà lỗi lầm luôn luôn là từ phía bên kia.
Việc nhìn những vấn đề lịch sử qua nhiều hướng và giải mã được những khúc mắc không phải lúc nào cũng dễ dàng và tùy tình hình mà lượng giá những biến chuyển mới tuy gai góc nhưng cũng là phần thưởng tinh thần cho người nghiên cứu.
XN: Cám ơn ông về cuộc trao đổi thú vị hôm nay. Chúc ông sức khỏe dồi dào và tiếp tục cho ra đời những biên khảo, biên dịch nghiêm túc, chân thực, xác đáng về nhà Tây Sơn nói riêng, về lịch sử Việt Nam thời trung cận đại nói chung.
TRÂN HUYỀN thực hiện




