CAMPUCHIA, ẢO VÀ THỰC… (Phần 2)

Phạm Nga

Campuchia ao va thuc 05.jpg

3.

Ở con đường mòn đi vào Angkor Wat, một nhóm năm người đàn ông, mù hoặc cụt chân, ngồi dưới đất lặng im trình diễn các loại đàn dây, bộ gõ… của nhạc cổ truyền Khmer. Hướng dẫn viên Trung cho biết đó là những thương phế binh hay thường dân bị tàn phế bởi nạn mìn, bom còn sót lại đầy dẫy trên đất nước này sau mấy cuộc chiến tranh liên tiếp. Trên một bãi cỏ bên con đường ra khỏi đền Ta Prom, người ăn xin ngồi thành hàng, chắp tay trước miệng. Một bà già hom hem, mặc váy xà-rong rách tướt nhiều chỗ, không để ý gì đến con khỉ đít đỏ đang lửng thửng bò đi bên cạnh, chỉ cắm cúi lượm những vỏ chai nhựa bị ai đó vứt bỏ ở các gốc cây, mương nước…

Sáng sớm ngày thứ ba của cuộc hành trình, xe quay về thủ đô Phnom Penh. Tôi nhớ năm 2007, trong cuộc thi hằng năm của Diễn đàn Lãnh đạo thế giới phi chính phủ (NGO) tại London, Phnom Penh được chọn vào số 400 thành phố trên thế giới nhận giải thưởng về môi trường, đồng thời được ca ngợi về sự tiến bộ trong việc kiểm soát lũ lụt và rác thải. Xem ra lựa chọn của tổ chức NGO cũng khá chí lý vì so với Sài Gòn, dù chỉ có mạng điện thoại di động và khó tìm thấy trạm bưu điện nhưng Phnom Penh có vẻ vẫn ít rác rến hơn và hay nhất là ít ồn ào hơn (dân Campuchia không có kiểu bấm còi xe bừa bãi, vô lối như dân Việt trong nước). Ở khu trung tâm thủ đô, trên những con đường rộng rãi, nhiều cây xanh và tiểu hoa viên, đã thấy lui tới toàn là chiếc xe hơi cao cấp, kiểu mới nhất, phổ biến là hiệu Lexus. Dinh cơ, trụ sở của chánh phủ và các đảng phái là những tòa nhà kiểu quá giống nhà chùa, nóc nhọn cao vút, mái cong theo kiểu rắn thần Naga bò ngang bò dọc. Cơ ngơi kinh doanh, trú ngụ của giới thương gia, Hoa kiều, Việt kiều, Ấn kiều… thì theo kiến trúc phương Tây, sử dụng nhiều về chất liệu kính màu.

Nhưng không xa cái mẫu đô thị sạch đẹp, hoành tráng kiểu nửa cổ đại nửa tân thời, lại còn được giải thưởng quốc tế về môi trường như vừa nói, ở ngay bên kia cây cầu Bonivong dẫn vào thủ đô, chỉ thấy phần lớn là những căn nhà gạch, nhà gỗ thấp bé, hay lêu đêu, lỏng khỏng là những căn nhà sàn cột gỗ –  kiểu nhà mang bản sắc riêng của vùng đất thường bị ngập lụt, nhếch nhác và chắp vá.

Bộ mặt ảm đạm của vùng nông thôn – có lẽ cũng chính là diện mạo trung thực nhất của đất nước Campuchia – đã áp sát vào bờ sông Tonle Sap, dường như bị chận đứng trước dốc cầu Bonivong (người Việt thường gọi là cầu Sài Gòn) hay kẹt xe vào chiều tối. Cảnh phân liệt giàu, nghèo lồ lộ giữa hai bên bờ sông đã khiến tôi tưởng như đám nông dân nghèo khó của xứ sở này –nhiều nơi ban đêm còn sinh hoạt bằng đèn dầu hôi và đèn bình ắc-qui – đã bị cái thành phố sáng lóa đèn điện kia thầm lặng cấm cửa từ lâu rồi. Và hằng ngày, trên những chiếc xe đò cũ nát chở đám dân lôi thôi lếch thếch này vào thành phố kiếm sống, hành khách chen nhau ngồi kín cả mui xe, có người ngồi cả vào ô cửa xe đã tháo kính đâu mất, nhoài cả thân người ra ngoài. Được biết trên những chiếc xe có tải trọng 15 người nhưng nhét tới khoảng 50 người ấy, giá vé những chỗ ngồi “phụ trội” kinh khủng như thế rẻ còn 2/3 hay một nửa mà thôi.

Trong lần đi thăm hoàng cung vương quốc này, tôi nhận ra ở đây cũng toàn những đường nét cổ kính, tráng lệ như các đền đài Angkor trong rừng nhưng được cái là không hoang phế. Từ chánh điện thiết triều, tòa văn phòng Bộ hoàng cung, tòa nhà vua Napoleon III tặng cho vua Cam-bốt… cho đến chùa Vàng tất cả đều rực rỡ, huy hoàng. Nhưng trong lúc du khách nước ngoài trầm trồ trước số lượng vàng bạc, đá quí, đồng đen, ngà voi… được đem trưng bày khắp chỗ trong ngôi chùa Vàng thì ngược lại, nhiều người khách bản xứ lại tỏ ra xa lạ với mớ quốc bảo của họ, nhất là đối với các phụ nữ Campuchia lớn tuổi. Các cụ, các bà chỉ lặng lẽ khấn vái, cúng tiền công đức trước những tượng Phật lớn, nhỏ đủ cỡ.

Cũng tuồng như xa lạ đối với người bản xứ là các sòng casino rộng mênh mông, các tụ điểm massage và karaoke, các sân khấu hầu như dành riêng cho du khách với các vũ nữ xinh tươi múa Apsara, các cửa hiệu hào nhoáng của các công ty đá quí hay phòng bouffet cực kỳ sang trọng trong đại khách sạn Tonle Bassac…, luôn chiếm lấy những địa điểm ngon lành nhất giữa thủ đô Phnom Penh để du khách dễ dàng lui, tới.

Còn ở xa khuất thủ đô của vương quốc, hay dưới những cái bóng buồn bã, câm nín của những tòa tháp cổ ở Siem Reap, hoặc dọc theo hai bên những con đường hoang vắng đi qua hay dẫn vào các hương trấn cũ kỹ – đang được gấp gáp “tân trang” chút đỉnh tiện nghi để có chỗ cho du khách ghé rửa mặt, đi vệ sinh  – của các tỉnh toàn đồng ruộng như Svay Rieng, Kampong Cham, Can Dan…, đại đa số dân Campuchia là nông dân nghèo, đời sống không khác nhiều so với người Khmer cổ, nghĩa là chỉ có những mảnh ruộng manh mún, thường xuyên ngập úng cùng những con trâu, con dê ốm đói. Với hệ thống thủy lợi vụn vặt và vô bổ, nông dân xứ Chùa Tháp làm ruộng chỉ nhờ vào nước mưa trời và lớp phù sa lưu lại trên đất khi nước ngập rút đi, nên họ rất hiếm khi phải dùng đến phân bón, hoá chất.

Dù sao, làm nông thì còn cổ lỗ như thế – nói an ủi là ‘thân thiện với thiên nhiên’ –nhưng lại phát sinh một điểm son cho Campuchia, đó là môi trường sống ở nông thôn nước này phải nói là còn lành sạch, ít ra là chưa bị ô nhiễm đáng báo động như ở Việt Nam. Đáng khen hơn là tuy mỗi năm chỉ làm một mùa lúa nhưng đất nước này lại có loại gạo giống địa phương quá ngon như du khách chúng tôi đã thưởng thức và có thể tin lời guide người bản xứ đã giới thiệu một cách tự hào, rằng đây là ‘gạo sạch’ vì không dùng phân bón, hóa chất này khác…

Tôi lại suy nghĩ chệch đi một chút, rằng những món ‘đặc sản’ côn trùng nổi tiếng của xứ Chùa Tháp, như: dế, nhện, bò cạp, cà cuống, ve, niềng niễng…, đem chiên xả, ớt dòn dụm, cũng có thể được tin là những món ăn ‘sạch’, tức thực phẩm an toàn, do bầu trời xứ này có trong lành, đồng ruộng xứ này còn ít hay chưa nhiễm các dư chất thuốc trừ sâu, thì bọn ‘tám chân’ có cánh này mới tha hồ sinh sôi, nảy nở.

Do ngoài ruộng, đồng mới có nhiều côn trùng nên ở vùng thôn quê dọc theo hai bên quốc lộ, nhất là trên địa bàn Kampong Thom, tỉnh nghèo nhất nước Campuchia, người dân thường đặt vô số những cái bẫy bắt côn trùng có cánh. Loại bẫy đơn sơ, rẻ tiền này chỉ gồm một miếng nylon trắng căng rộng bằng một bộ khung tre, giống một tấm màn thả trên một cái mâm đựng nước, kèm theo là một bóng đèn neon được treo đứng giữa tấm nylon. Vào sẫm tối và ban đêm, bọn côn trùng có cánh bay ngoài trời – như dế, cà cuống, niềng niễng…- thấy đèn sáng thì bay tới và vướng vào tấm nylon, rơi xuống mâm hứng (hầu hết làm bằng nylon dày cho rẻ, hiếm khi làm bằng gỗ hay tôn thiếc), chúng chết đuối nhưng không thối vì nước có pha muối. Sáng ra, người đặt bẫy ra thu hoạch, tháo cất đèn neon và cuốn tấm nylon lại cho khỏi rách bởi gió mạnh. Vào mùa mưa ở Campuchia, côn trùng sinh trưởng mạnh nên được biết là hàng ngày, với loại bẫy này mà người dân nghèo có thể cung cấp đều đặn hàng tấn nguyên liệu còn tươi cho các lò chế biến thức ăn từ côn trùng.

Campuchia ao va thuc 03.jpg

4.

Ngày cuối, tôi nhớ khi xe trở về VN thì mưa kéo dài. Nhìn qua làn kính xe đã mờ nước mưa, những cái bẫy côn trùng bên đường trông giống như những vệt trăng trắng vô nghĩa, khi ẩn khi hiện, mờ ảo trên nền cỏ xanh, đất đỏ của vùng quê hiu quạnh, tối tăm. Ngược lại, bức ảnh ngôi chùa Vàng trong Hoàng cung chụp làm bìa cuốn cẩm nang du lịch Campuchia lại quá dư sáng, rực rỡ mọi góc cạnh, rõ nét như cảnh thực.

Tôi chạnh nhớ một bà cụ đầu trọc, dáng gầy gò nghèo khó, nhắm mắt quì mọp trong tư thế bất động rất lâu trước bệ tượng Phật ngọc bích tuyệt mỹ trong ngôi chùa tráng lệ này hôm trước đó… Mọi thứ hình dung lãng đãng, nửa thực nửa ảo ấy đều là Campuchia đặc hiệu.

Mơ mơ màng màng trong cảnh giới tâm linh huyền hoặc của tín lý Phật giáo tiểu thừa hòa trộn với ảnh hưởng của Bà La Môn giáo còn cổ xưa hơn nữa, hình như người Campuchia bỏ mặc đời sống thực tế, bao đời nay họ chỉ lặng lẽ sống với những nhu cầu, tiện nghi vật chất tối thiểu cho thân xác “ngũ uẩn” giả ảo của họ.

Nói gì đến những vùng nông thôn xơ xác – nơi người dân còn kiếm sống hết sức bần hàn, hạ bạc bằng cách bắt côn trùng hoang dã để làm món ăn bán cho du khách, cả khi có được sống ở cái thủ đô hơn 500 năm tuổi đang vội vã lên đời kia thì đa số người dân đất nước Campuchia cũng chỉ muốn hướng về đời sống tâm linh hơn là đời sống vật chất. Từ bao thế kỷ qua, cái gọi là “ đời sống tâm linh” nửa thực nửa ảo ấy của người dân xứ Chùa Tháp cứ chìm ẩn trong những đền tháp, chùa chiền, cung điện kỳ vĩ, xa hoa… mà các triều vua xưa đã ngự trị, còn các chính phủ thời nay thì luôn đưa ra làm bộ mặt biểu trưng cho vương quốc Campuchia trước toàn thế giới bằng những tờ brochure, tấm postcard thật rực rỡ, màu mè…

Campuchia ao va thuc 06.jpg

PHẠM NGA ghi

Xem lại Phần 1