Bước luân lạc của một ngôi trường
Giáo sư Trần Thượng Thủ
(Nguồn: Đặc san Petrus Ký Houston, 1994 do anh Võ Phi Hùng, PK 67-74 scan và gởi tặng)
GS TTT là HS PK và là GS PK (Mất ngày 18 tháng 10 năm 2017).
Năm 1925, kỹ sư Pháp Hébrard de Villeneuve đệ trình họa đồ xây cất vẽ theo qui tắc tách biệt trong môn thiết kế đô thị là dành cho ngôi trường trọn khu đất rộng khoảng 8-9 mẫu nằm gọn giữa bốn con đường là Cộng Hòa (phía đông), Thành Thái (phía nam), Trần Bình Trọng (phía tây) và Nguyễn Hoàng (phía bắc, gần đường xe lửa SàiGòn Mỹtho).
Mặt tiền trông ra đường Cộng Hòa, thuở đó mang tên Nancy, gồm hai song lộ cặp hai bên một luống đất có trồng hàng cây tàn bóng rợp rạp. Ở hai trụ cổng vào có khắc hai câu đối:
“Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Âu Tây khoa học yếu minh tâm”.
Kiến trúc chánh gồm bốn dãy nhà lầu song song theo chiều đông tây. Hai dãy hai tầng ở phía đường Nguyễn Hoàng dùng làm lớp học, cùng với dãy préau (phía cổng chánh) làm hành lang nối liền phòng ban giám hiệu và nhân viên văn phòng với phòng giáo sư, và dãy nhà làm phòng thí nghiệm lý hóa, tạo ra cái khung hình chữ nhựt bao quanh cái sân danh dự (cours d’honneur) mà tại trung tâm có dựng tượng đồng bán thân của ông Petrus Ký. Hai dãy còn lại đều cao ba tầng, ở phía đường Thành Thái, dùng làm phòng tự học cho học sinh (étude) và phòng ngủ cho học sinh nội trú. Phía sau phòng thí nghiệm là hai nhà ăn, một lớn và một nhỏ nằm theo cạnh con chữ L. Gần đó là tháp nước (château d’eau) và sân vận động mà chủ yếu là sân túc cầu.
Kiến trúc phụ gồm có bốn căn nhà lầu hai tầng dùng làm nhà riêng cho Hiệu trưởng (ở cạnh công trường Cộng Hòa), Giám học (ở đoạn giữa), Tổng giám thị (kế ngã ba đường Cộng Hòa và Thành Thái) và Hội kế viên (bên đường Nguyễn Hoàng), nhà trệt cho người gác cổng và lao công phục dịch việc vệ sinh, bếp núc cho học sinh nội trú.
Với danh xưng Collège de Cochinchine (Trường trung học đệ nhứt cấp), trường khai trương vào năm học 1927-1928, và có mở bốn lớp nội trú.
Năm sau, Thống đốc Nam kỳ là Blanchard de la Brosse lấy tên nhà thông thái Petrus Trương Vĩnh Ký đặt tên cho trường để thay thế tên cũ, nhân dịp khánh thành pho tượng đồng toàn thân của nhà uyên bác, đứng thẳng trong bộ quốc phục là chít khăn đóng, mặc áo dài nhiễu đen, đầu có búi tóc — Cụ bình sanh không bao giờ mặc Âu phục, không cắt tóc để chải ma ninh — tay phải cặp quyển sách dày, dựng xéo xéo phía sau nhà thờ Đức Bà hướng về dinh Độc Lập. Trường được chuyển thành trường trung học đệ nhị cấp với danh xưng Lycée Petrus Ký (viết tắt bằng ba con chữ đầu là LPK) với trên 200 học sinh, và hiệu trưởng đầu tiên là Banchelin (1927-1929). Rồi sau đó là: Valencot (1929-1931), Henri Neveu (1931-1933), Valencot (1933-1938), Le Jeannic (1938-1944) và Taillade (1944-1947).
Trường dạy cả hai bậc: bậc cao tiểu gồm bốn năm để thi bằng Thành chung DEPSI, tương đương với bằng Brevet của Pháp, và bậc Tú tài gồm ba năm để thi tú tài. Do đó hằng năm vào đầu lễ nghĩ hè (grandes vacances: bãi trường hai tháng) trường mở hai cuộc thi tuyển:
a) Vào bậc cao tiểu cho nam thí sinh đã có bằng tiểu học CEPCI, thuộc các tỉnh miền đông Nam kỳ (Gia định, Chợ lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Bà Rịa, Cap St Jacques, tức Vũng Tàu sau này) và Sàigòn.
b) Vào bậc tú tài cho cho nam và nữ thí sinh đã có bằng tốt nghiệp bậc cao tiểu, xuất thân từ bốn trường công là Petrus Ký, Mỹ tho, Cần thơ và Nữ học đường, và từ các tư thực như Taberd, Huỳnh Khương Ninh, Lê Bá Cang, Chấn Thanh, Nguyễn Văn Khuê, Đồng Nai, Bassac….
Trúng tuyển, học sinh vào học được xếp theo ba hạng: trọn học bổng (boursier), nửa học bổng (demi boursier) và đóng tiền (payant). Đồng phục đi học là bộ bà ba trắng, mang guốc. Học sinh nội trú ra ngoài mỗi chủ nhật và chiều thứ năm đều mặc đồng phục là quần tây dài và áo bành-tô đều màu trắng, mang giày (da hay bố trắng) hoặc xăng-đanh (sandale).
Cho đến cuối năm học 1937-1938, học sinh nam nữ của trường Petrus Ký đều thi bằng Tú Tài bổn xứ (bac local), chương trình nặng hơn nên khó đậu hơn bằng tú tài chánh quốc (bac métro). Từ năm học sau đó (1938-1939) trở đi, Pháp cho phép dạy để thi bằng tú tài chánh quốc. Do đó, đậu bằng tú tài I rồi học sinh sẽ chọn học ban triết học (Philosophie nói tắt là Philo) hoặc ban toán sơ cấp (Mathématiques Elémentaires, nói tắt là Math Elem) để cuối năm thi bằng tú tài II, được xem là chìa khóa vào Đại Học.
Chế độ nghỉ lễ của học sinh Petrus Ký vẫn giống với những trung học công lập khác vì nó tùy theo các giáo sư Pháp, nhưng nó khác hẳn với ở bậc tiểu học và các tư thực. Do đó, lễ Noel (Giáng sinh) và Tết dương lịch trường nghỉ một lèo 10 ngày. Bù lại lễ Tết nguyên đán chỉ lâu một tuần lễ. Đến lễ Phục sinh (Pâques) thì nghỉ suốt bốn tuần vì tháng 4 dương lịch là tháng nóng nhứt ở Nam Kỳ.
Hằng năm chỉ có cuộc lễ hội duy nhứt cho học sinh toàn trường là lễ Tết Ông Táo có tánh chất truyền thống, tổ chức cũng rình rang rậm đám vào buổi tối thứ bảy trước khi nghỉ Tết nguyên đán. Có dựng sân khấu để trình diễn văn nghệ, gồm vài màn kịch ngắn hài hước (saynète), đơn ca và hợp xướng, màn chủ lực là vở cải lương tuồng tàu hoặc kịch nói (trước Thế chiến II có cả hát bội nữa: théâtre classique); tất cả “đào” (giả gái) kép, ca sĩ đều là học sinh của trường theo lối “cây nhà lá vườn” và “tự biên tự diễn”.
Tưởng đâu dòng đời êm ả trôi qua vì suốt 14 năm học (từ tháng 9 năm 1927 đến đầu tháng 8 năm 1941) mặc dầu phải thay đèn chong bóng trắng bằng bóng xanh dương đậm ở phòng ngủ lúc xảy ra chiến tranh giữa Pháp và Thái-lan, Trường vẫn có tổ chức phát thưởng cuối năm học vào đầu trung tuần tháng 7 dương lịch (1940 phân nửa nước Pháp bị quân Đức quốc xã chiếm đóng, 1941 mặt trận phía đông giữa Đức và Liên Xô mở màn từ ba tuần lễ trước). Nhưng quân Nhựt đổ bộ ồ ạt vào miền Nam Đông Pháp từ ngày 29 tháng 7-1941. Trường Petrus Ký đành phải cấp tốc dọn đi để nhường trường sở cho quân đội Thiên Hoàng trú đóng. Thế là bước chân luân lạc của ngôi trường đồ sộ nổi tiếng cũng bắt đầu từ đây.
Rồi cái “huông” trường học di chuyển được lịch sử cho tái diễn với mức độ qui mô hơn vào đúng 13 năm sau đó!
1. Ở đậu với Trường Nọt-manh, cạnh sở thú SàiGòn.
Ngôi trường Nọt-manh (Ecole normale d’instituteurs de Cochinchine) tọa lạc trên khu đất rộng non 3 mẫu, đâu lưng với Trường thầy dòng (Séminaire), hình chữ nhựt, ba mặt còn lại giáp ranh với ba con đường là đường Lucien Mossard (song song với đại lộ Thống Nhứt ở phía bắc), đường Dr Angier tức Nguyễn Bỉnh Khiêm ở mặt tiền (ở phía đông, ngó qua Sở thú SàiGòn) và đường Palanca (phía nam, về hướng Sở Ba son: Arsenal = Hải quân công xưởng). Cổng trường mang số 7 của đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Vì chuyện dời trường sở nên trường Petrus Ký khai giảng cho năm học 1941-1942 vào ngày Thứ Hai 29-9-1941, tại cơ sở mới mượn một phần lớn của Trường Sư phạm. Kiến trúc chánh trường này gồm ba dãy lầu ba từng nối nhau thành hình chữ U mà dãy lầu đáy chữ U là dãy trung ương. Từng trệt và lầu 1 của dãy này vẫn thuộc quyền sử dụng của Trường Sư Phạm (chỉ còn có mỗi một lớp với khoảng chưa tới năm mươi giáo sinh, được tuyển hằng năm kể từ vài niên khóa trước) và Trường cao tiểu Pháp EPS (Enseignement primaire supérieur). Từng trệt của dãy cạnh đường Lucien Mossard (cánh trái) dành cho Trường Tiểu học Pháp. Toàn bộ dãy lầu phía đường Palanca (cánh phải) với hai dãy nhà trệt bên cạnh, và những tầng còn lại của hai dãy lầu nói trên đều nhường cho trường Petrus Ký tạm sử dụng. Nhà trường cho cất thêm ngay trên đoạn giữa của đường Palanca một dãy nhà trệt, ngăn làm lớp học cho học sinh ngoại trú thuộc ba năm đầu bậc cao tiểu.
Tầng cao nhứt của ba dãy lầu dùng làm phòng ngủ cho học sinh nội trú. Lầu một của cánh trái và cánh phải làm lớp học và phòng étude. Tầng trệt của cánh phải làm phòng làm việc của ban giám hiệu và nhân viên hành chánh sự vụ, phòng giáo sư và nhà ăn.
Sân quần vợt ở cánh trái chuyển thành sân bóng chuyền còn sân quần vợt ở cánh phải thành sân bóng rổ. Vườn trường dùng cho môn làm vườn, phải mượn đất bên Trường nhà dòng. Học sinh tập thể dục ở sân vận động Cognaq, nằm bên kia rạch Thị Nghè (Arroyo de l’Avalanche) nên phải băng ngang sở thú (phía nhà thủy tạ) và qua cầu “đoạn trường” (chiếc cầu gây tang tóc vì nạn khán giả đi xem hội chợ vào dịp lễ Quốc Khánh 26-5-1958 chen lấn nhau, đồn ép nhau trên cầu khi điện thành lình bị cúp!)
Để tranh thủ ảnh hưởng với Nhựt và đồng thời lấy lòng dân ta, bằng cách xóa bỏ chánh sách phân biệt trong đường lối giáo dục — việc xóa bỏ bằng tú tài bổn xứ năm 1938 vẫn chưa tạo được tác dụng mong muốn — giữa người Pháp cùng người có quốc tịch Pháp với người dân thuộc địa, Pháp cho mở tại trường Petrus Ký ban cổ điển chánh quốc (section classique métropolitaine) với cổ ngữ La-tinh, dành cho những thí sinh trúng tuyển ở phần đầu danh sách của 4 trường là trường Petrus Ký, Nữ Học đường, trường Mỹ tho và trường Cần Thơ. Nhờ vậy học sinh lớp này được hiệu trưởng Lejeannic phê là thành phần ưu tú của xứ sở (élite du pays); lớp học mang danh xưng là 6è métro (nói tắt của classe de 6è classique métropolitaine). Như thế vẫn chưa cho rằng đủ “đô” (dose), thực dân Pháp còn cho mở thêm vào năm học 1942-1943 ban cổ điển Á Đông (section classique extrême orientale) dạy chữ Hán ngang tầm quan trọng như chữ La-tinh ở ban métro. Lớp đầu tiên mang danh xưng 6è E.O (classe de 6è classique extrême orientale), cùng cách tuyển chọn như ban métro và tùy sự ưa thích của thành phần ưu tú trong đám tuyển sinh.
- Bảy Nổi Ba Chìm Trong Cơn Binh Lửa
Việc máy bay Mỹ dội bom xuống xóm Chiếu bên Khánh Hội vào khoảng 10 giờ đêm Thứ sáu 05-5-1944 khiến nhà trường đóng cửa ngay hôm sau và học sinh trường công được nghỉ Hè sớm gần hai tháng. Vào đầu năm học 1944-1945, đại bộ phận học sinh nội trú trường Petrus Ký được chuyển về Nữ Học đường vì những học sinh hạng đóng tiền phải ra ngoài học theo chế độ ngoại trú. Nhưng các lớp học vẫn hoạt động tại Trường Sư phạm như ba năm học trước. Tập thể dục tại sân Mayer.
Rồi trận không tập của phi cơ Mỹ suốt ngày Thứ sáu 12-01-1945 – cũng ngày Thứ sáu tuy không phải 13 tây – xuống phi trường Tân Sơn Nhứt và khu bến tàu SàiGòn trong khi toàn bộ học sinh trường chun hầm núp trong Sở thú và trên lề đường Lucien Mossard. Sáng Thứ Hai 15-01-1945, toàn bộ học sinh về học ở trường tiểu học Tân Định; bộ phận nội trú vẫn ở tại Nữ Học đường.
Họa vô đơn chí! Khoảng 11 giờ ngày thứ Năm 08-02-1945 nhằm ngày 26 tháng Chạp năm Giáp Thân, máy bay Mỹ lại đến thả bom xuống sứ quán Anh ở bên cạnh đường Norodom (đại lộ Thống Nhứt). Hiệu trưởng Taillade ra thông cáo cho bãi trường Tết Ất Dậu sớm. Ra giêng các nhật báo Điện Tín, SàiGòn… đăng tin Trường Petrus Ký sẽ hoạt động trở lại tại… Thủ Đức. Rồi quân phiệt Nhựt đảo chánh Pháp vào lúc 9 giờ tối Thứ sáu – vẫn ngày thứ Sáu – 09-3-1945 mở màn cho biết bao biến cố dồn dập xảy đến cho dân Việt chớ không riêng gì cho Trường Petrus Ký. Rõ là: “Thuở Âu Á nổi cơn gió bụi, Giống Rồng Tiên nhiều nỗi truân chuyên!” (lấy Chinh Phụ ngâm khúc).
Nào Việt Minh cướp chánh quyền, nào quân Anh-Ấn đến giải giới quân Nhựt bại trận, rồi quân viễn chinh Pháp tái chiếm những công thự ở SàiGòn trong đêm chủ nhựt 23-04-1945: dân SàiGòn lũ lượt kéo nhau tản cư về các tỉnh lân cận….
- Vẫn còn lận đận sau ngày hồi cư
Đến khoảng giữa tháng 02-1946, thực dân tái chiếm Nam Bộ và lần hồi tái lập bộ máy cai trị. Sau Sơ ước 06-3, trong khi sắp mở Hội nghị ĐàLạt thì ngày 01-4, Trường Petrus Ký mở cửa dạy lại trong Chủng viện Joseph ở đường Luro, vẫn với hiệu trưởng Taillade. Hai ban cổ điển Métro và E.O dĩ nhiên bị xóa sổ để đi vào lịch sử của trường vì hai lẽ: a) Không còn đủ thành phần học sinh ưu tú như trước bởi một số đã đi theo tiếng gọi của non sông, vài người sang Pháp du học và một số đông vì không còn được hưởng tiếp học bổng của chánh phủ và nhà cửa tiêu tan bởi chiến thuật “vườn không nhà trống” và “tiêu thổ kháng chiến” nên đành bỏ học luôn ra đời kiếm sống; b) Giáo sư nòng cốt không còn đến trường vì sang dạy ở trường Chasseloup-Laubat hoặc về Pháp, vì vào bưng kháng chiến chống xâm lăng. Không còn chế độ nội trú nữa.
Mãi đến năm học 1948-1949, tất cả học sinh mới về học tại trường sở hiện tại, với ban giám hiệu người Việt mà hiệu trưởng đầu tiên là Thầy Lê Văn Kiêm tốt nghiệp cử nhân toán ở Pháp, giáo sư toán ban tú tài ở trường Petrus Ký trước ngày Nhựt đảo chánh. Chế độ nội trú vĩnh viễn bị xóa sổ trong lúc bên Nữ Học đường vẫn tiếp tục cho đến thập niên 1950.
Kể từ thời điểm này, tài sản thuộc sở hữu của Trường về mặt diện tích đất đai cũng như những kiến trúc ban đầu, lần hồi bị cắt xén và cấp cho những bộ phận khác, tuy vẫn thuộc ngành giáo dục. Ví dụ: hai dãy lầu ba tầng ở phía đường Thành Thái trở thành trường sở của Trường Đại học Khoa học SàiGòn, nhà lầu hai tầng ở góc đường Cộng Hòa – Thành Thái làm Trung tâm thính thị…, Trường Quốc gia Sư phạm, trường Sư phạm thực hành… được xây cất trên phần đất ở mạn nam Trường Petrus Ký. Nói chi nhà cửa thi đua nhau mọc lên ở phía đường Nguyễn Hoàng, lúc đầu còn theo kế hoạch và thuộc quyền sở hữu của giáo sư và nhân viên của trường, nhưng về sau thì xô bồ xô bộn với lối đi quanh co và chật hẹp, cộng thêm cái nạn sang nhượng để mở tiệm buôn bán, xưởng sửa chữa xe hơi, quán giải khát… Thế là khuôn mặt nghiêm trang khả kính xứng đáng với cụm từ “cửa Khổng sân Trình” hồi thời trước năm 1941 của ngôi trường danh tiếng ở SàiGòn, hiện nay đã biến dạng quá nhiều!
Cũng trong năm học 1948-1949 ấy, hoạt động chính trị thả vòi khủng bố vào ngay lớp học. Một buổi sáng trong tháng 11, hai nam sinh ban cao tiểu là nạn nhân đầu tiên: họ bị bắn chết ngay tại lớp giữa sự ngạc nhiên và kinh hoàng của thầy và trò, đồng thời gây náo động toàn trường. Ghế hiệu trưởng của Thầy Kiêm bắt đầu lung lay.
Cựu hoàng Bảo Đại hồi loan vào tháng 4-1949 và khai sinh Quốc gia Việt Nam với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ nằm ngang, với việc đổi tên đường và tên trường học (Trường áo tím = Nữ Học đường đổi thành trường Gia Long,….) nhưng tiếng Pháp vẫn còn là chuyển ngữ từ bậc cao tiểu trở lên. Đó là nguyên nhân của những cuộc biểu tình xuống đường của nam nữ học sinh SàiGòn – Chợ Lớn, cực lực đòi hỏi Thủ tướng Trần Văn Hữu phải cho dùng tiếng Việt để giảng dạy suốt bậc trung học. Trò Trần Văn Ơn, đang học lớp Seconde (tức lớp đệ tam của chương trình Phan Huy Quát, rồi lớp 11 từ năm học 1971-1972) đã bỏ mình vì trúng đạn của lực lượng an ninh được lịnh giải tán học sinh đang bao vây dinh Gia Long từ 9 giờ sáng Thứ hai 09-01-1950.
Trường đóng cửa… ăn Tết Canh Dần sớm hơn thường lệ. Rồi nhập học lại mới được hai tuần thì nổ ra cuộc biểu tình bạo động xuất phát từ trường tiểu học Tôn Thọ Tường (sau đổi tên là Cô giang) đưa đến việc đốt chợ SàiGòn vào ngày chủ nhựt 19-3-1950, để gọi là “dàn chào” hai chiến hạm Hoa Kỳ mới đến bỏ neo tại bến Bạch Đằng. Thế là trường Petrus Ký lại đóng cửa cho đến ngày khai giảng năm học 1950-1951.
Chương trình giáo dục Việt Nam ở bậc Trung Học chọn tiếng Việt làm chuyển ngữ thay cho tiếng Pháp được ông Phan Huy Quát, tổng trưởng giáo dục, ban hành và áp dụng vào năm học 1951-1952, hồi thời hiệu trưởng Phạm Văn Còn (1951-1955). Thế là yêu sách của học sinh SàiGòn nêu lên trước đó một năm rưỡi được thỏa mãn. Từ năm học này, tại trường Petrus Ký, giảng dạy song song hai chương trình: lớp đệ thất của chương trình Phan Huy Quát và những lớp 2è année… cho đến lớp chót bậc tú tài (classe terninale), mỗi năm chương trình Việt thêm một cấp lớp còn chương trình cũ giảm đi một cấp lớp. Đến tháng 7-1955, Trường Petrus Ký có đợt học sinh lớp đệ tứ đầu tiên thi bằng Trung học Đệ Nhất Cấp với hai môn sinh ngữ là Anh văn và Pháp văn, có phần thi vấn đáp. Rồi đến tháng 9 lại thi khóa 2. Đến tháng 7-1958, Trường có đợt học sinh lớp đệ nhứt đầu tiên thi bằng Tú tài toàn phần. Bên chương trình cũ, học sinh thi bằng Tú tài II vào cuối năm học 1956-1957, đồng thời chấm dứt thời kỳ giáo dục dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ kéo dài ngót ba phần tư thế kỷ.
Hiệp định Genève, ký ngày 20-7-1954, phân qua đất nước với làn sóng di cư vĩ đại. Bao nhiêu trường ở bắc vĩ tuyến 17 đành di chuyển vào Nam, theo cái huông của trường Petrus Ký đã tạo ra từ 13 năm trước đó. Xin tạm nêu lên hai trường nổi tiếng. Trường trung học Chu Văn An phải tạm ở đậu với trường sở thuộc sở hữu của Trường Đại học Khoa học trong vài năm đầu, trước khi xây cất xong trường sở mới ở trong Quận 5, gần nhà thờ Ngã Sáu. Trường nữ trung học Trưng Vương định cư ở khu nam trường Sư phạm gồm dãy lầu ba tầng cánh phải và dãy nhà trệt xây cất ngay trên con đường Palanca.
Năm sau, Trường Petrus Ký lại một phen bất đắc dĩ làm bãi chiến trường giữa lực lượng Công An xung phong đội bê-rê xanh lá cây của hai anh em Lai Hữu Sang và Lai Hữu Tài và quân đội chánh phủ Ngô Đình Diệm trong mấy ngày của tháng 5-1955. Hậu quả là dấu đạn trúng vào mặt của pho tượng bán thân của cụ Petrus Ký! Có phải đây là điềm gỡ báo hiệu pho tượng này bị hạ cùng với việc đổi tên trường, xảy ra đúng hai mươi năm sau chăng?
Thế là lưu tích của một người Việt (quê ở Cái Mơn, thuộc tỉnh Vĩnh Long) được liệt vào sổ vàng: “Toàn cầu bác học thập bát quân tử” hồi hậu bán thế kỷ XIX, mà nay lại bị xóa sạch ở phần đất phía nam của một nước hằng tự hào đã có bốn ngàn năm văn hiến.
* Bài này nhứt định có nhiều chỗ chưa đúng với sự thật vì lẽ tác giả chỉ dùng trí nhớ của mình (hiện đã quá 66 tuổi tròn) chớ không có tài liệu tra cứu bên cạnh. Rất mong các bạn vui lòng “nhổ cỏ dại” và bổ túc cho thì người viết vô cùng cảm tạ.
TRẦN THƯỢNG THỦ
Sơ đồ Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký
- A,B dãy lầu 2 tầng làm lớp học
- C,D dãy lầu 3 tầng làm phòng étude, phòng ngủ
- E,E’ phòng thí nghiệm Lý Hóa
- G văn phòng ban giám hiệu
- H văn phòng hành chánh sự vụ
- I phòng giáo sư
- J phòng giám thị
- K,L nhà ăn lớn, nhà ăn nhỏ
- M tượng bán thân cụ Pétrus Ký
- N cổng chánh
- F hành lang nhà cầu
- 1,2,3,4 Tư thất của hiệu trưởng, giám học, tổng giám thị, hội kế viên.
- 5 nhà người gác cổng
Chú thích:
Sơ đồ Trường Sư Phạm Cạnh Sở thú (nơi Trường Pétrus Ký tạm ở đậu từ 10-1941 đến 12-1-1945)
- A,B,C 3 dãy lầu 3 từng: phần trung ương cánh trái và cánh phải
- D phòng dạy hội họa
- E phòng chiếu phim (nền có bậc thang)
- F phòng dạy nghề mộc
- G sân bóng chuyền
- H Sân bóng rổ
- I nhà bếp
- J nhà nhân viên
- K Kho
- L dãy nhà trệt cắt ngay trên đường Palanca làm lớp học cho học sinh ngoại trú.
- M vườn trường (mượn đất của trường thầy dòng)
- N cổng chánh
- O cổng phụ
- P cổng ra vào cho học sinh học ở dãy Palanca.
Phân Ưu của Hội Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu đến gia đình Thầy Trần Thượng Thủ

