BIỂN THƯỚC TIÊN Y (404-310)

(Bài nầy dành tặng các bác sĩ Việt Nam hải ngoại hành nghề trở lại.)

BS Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

Bien thuoc tien y 01Nói tới Ðông Y, thì người ta chỉ biết có Hoa Ðà (110-207). Ông được người đời coi như tổ sư của nền Y học Ðông Phương. Hoa Ðà được so sánh như Hippocrate của Tây Y. Thật ra ngoài Hoa Ðà, còn có một cao minh cũng tài giỏi, cũng có y thuật thiên phú, nhưng không được người đời tôn sùng như Hoa Ðà. Người đó chính là Biển Thước.

Biển Thước Tiên y ra đời vào thế kỷ V trước Công nguyên, vào thời Ðông Chu Liệt Quốc tức trước Hoa Ðà. Ông sanh năm 401 tại Châu Mạc thuộc tỉnh Hà Bắc. Tên thật là Tần Hoãn tự Việt Nhân. Ông qua đời vào năm 310 vì bị kẻ gian ghen ghét mướn người hãm hại. Mộ ông chôn tại Thiểm Tây, tỉnh Sơn Ðông.

Lớn lên ông mở quán trọ. Có ông lương y Trường Tam Quân thường hay đến chỗ ông ở. Thấy ông là người rất mẫu mực, nho nhã, lo cho mình rất chu đáo, nên lương y thương yêu, tận tâm giúp đỡ, hết lòng chỉ dạy cho người chủ quán trọ. Khi thành thạo, ông ta mới dẹp quán, đổi nghề làm thầy thuốc.

Tiếng tăm ông nổi lên khắp nơi. Ông ghét nhứt là mê tín dị đoan, bùa phép, đồng bóng… Ông soạn quyển Tứ chuẩn: Nhìn, nghe, hỏi và bắt mạch, cùng Nội kinh và Ngoại kinh.

Ông là người tài năng có thể cải tử hoàn sinh, lại có thần nhãn, nhìn đoán được mọi bịnh tật trong cơ thể của con người. Những ngón tay huyền diệu giúp ông chẩn đoán bịnh rất chính xác.

Tài năng đó được thể hiện qua lần chẩn đoán bịnh, chữa trị cho một vị hoàng tử. Khi đi ngang qua vùng nọ, nghe đồn có một hoàng tử bất thần chết nên ông xin vào xem. Nhận thấy mũi hơi nhúc nhích, chân ấm tức chứng thi quyết hay chết giả, còn cứu được. Ông ra tay cứu chữa: lấy đá châm cứu, thoa bóp, hơ nóng, dần dần bịnh nhân tỉnh lại. Từ đó, người đời cho Biển Thước Thần y có thể ‘cải tử hoàn sinh’. Biển Thước khiêm tốn cho rằng: ‘Không phải tôi cứu ông ấy, mà số ông ấy chưa chết đấy thôi’.

Nghe danh ông, nên vị vua đương thời là Tề Hoàn Công nhờ ông khám. Sau khi khám xong, ông nói là nhà vua đã bị bịnh lộ ngoài da, cần chữa trị kịp thời. Nhà vua không tin vì cảm thấy mình rất khỏe mạnh.

Nhà vua bảo ông xem lại, ông cũng nhất quyết cho là nhà vua đau ngoài da nay đã vào nội tạng. Trực tánh, nên thấy sao ông nói vậy. Ông không hãi sợ và xiêu lòng trước mãnh lực nào hết. Nhà vua thì lại cười cười không tin, nhưng cũng không bắt hay buộc ông tội nghịch mạng thiên tử.

Ít lâu sau, nhà vua cho mời Biển Thước xem mạch lại và điều trị cho ông. Sau khi khám xong, Biển Thước liền phủ phục tâu:

‘Bẩm Hoàng thượng, xin tha mạng cho thần. Thần xin chịu tội, vì chưa đủ tài đức để chữa trị cho thánh thượng vì bịnh đã vào tới xương tủy rồi. Trời cũng không cứu nổi”.

Sau đó nhà vua băng hà.

Trong cuộc đời y nghiệp của ông, còn có rất nhiều câu chuyện lý thú ngang trái đáng ghi nhớ như sau:

Một hôm có một người đàn bà trẻ đẹp, đến nhờ Tiên y ra toa thuốc cho bà ta đem về để thuốc chết ông chồng. Chồng chết, mà không để lại dấu tích chi hết, để lúc đó bà ta được tự do luyến ái với người yêu, mà không bị người đời nguyền rủa là ác phụ. Bà ta van lạy Tiên y xin rộng lượng cứu giúp đời bà, vì bà đã quá đau khổ v.v…Suốt đời bà sẽ cám ơn ông. Bà cho biết bà cũng không ngại tốn kém.

Tiên y một mực từ chối, không chấp nhận hành động vô nhân đạo và vô tình nghĩa của người đàn bà ngoại tình nầy. Ông để mặc cho bà ta van xin cầu cứu, vì người thầy thuốc chỉ biết cứu người, chớ không ai nỡ đi giết hại người để lấy tiền bao giờ.

–   Xin tiên y giúp đỡ cho con. Con khổ sở lắm rồi, con chỉ còn có chết đi mới hết khổ cực. Con chết đi được rồi, nhưng không ai lo chăm sóc cha mẹ già và con thơ.

Ông ta cứ thản nhiên mặc cho bà ta lạy lia lịa.

–  Xin tiên ông mở lòng từ bi giúp đỡ cho con. Con van ông, con lạy ông!

– Bà đừng làm như vậy, tổn đức cho tôi lắm. Xin đừng…xin đừng…

Rồi Y sư ngập ngừng, chỉ vì ông không biết phải giải quyết làm sao, trước tình cảnh khó khăn nầy mà thôi.

Ông suy đi nghĩ lại:

    “Giết người là có tội, còn ra toa hay chỉ dẫn cũng có tội, còn ra tay tiếp giúp thì bị tội đồng lõa”.

Ông suy tính mãi để tìm coi có phương cách nào để hành động không. Ông nghĩ nếu mình không ra tay, thì bà nầy thế nào cũng kiếm một lang y ham tiền ra toa cho bà ta thuốc chết chồng, thì còn gì là nhân tâm nữa, còn gì là thiên chức của người lương y nữa?

Hành y là để cứu nhân độ thế, chớ đâu phải sát nhân? Ông nghĩ không lẽ giờ đây mình phải nhúng tay vào tội ác? Tội giết người! Người đời sẽ nguyền rủa. Không lẽ mình đem danh dự và tiếng tăm của mình chôn vùi vì tiền hết sao. Y sư cũng không còn mặt mũi nào nhìn ai nữa!

Ðây cũng là điều mà lương tâm ông không bao giờ cho phép ông làm cả. Trầm ngâm một hồi, bỗng Tiên y gật đầu, chấp nhận lời van xin của người thiếu phụ bất nghĩa bất nhân nầy, một cách vô điều kiện. Ông nói:

– Thấy tình cảnh khổ sở của bà nên tôi tội nghiệp. Tôi biên toa cho bà đem về sắc cho chồng bà uống. Còn nữa bà nên nhớ, là thuốc nầy phải có thời gian mới hiệu nghiệm. Bà phải kiên nhẫn chờ kết quả đừng có hấp tấp sẽ làm hư việc.

Ông lấy bút mực ghi: ‘Hoài sơn (một loại khoai) nấu với lươn’.

Bà ta mừng rỡ, chắp tay vừa lạy, vừa nói:

– Con đội ơn tiên sư ra tay cứu vớt đời con.

Bà ta liền hiến tặng rất nhiều tiền, nhưng ông không nhận.

Ít lâu sau, tình cờ ông gặp bà ta ở ngoài chợ, đầu chít vành khăn tang. Ông rất lấy làm lạ và tự nghi vấn:

– ‘Bà nầy để tang cho ai đây, cha, mẹ, hay ông chồng?’

Khi hỏi ra thì tiên y mới biết quả thật bà ta để tang cho ông chồng vô phúc. Tiên y chết điếng trong lòng, mồ hôi toát lạnh cả người. Như điên như dại, ông ôm đầu, bịt tai và đâm đầu mà chạy. Ông không còn can đảm để nghe thêm nữa. Ông lẩm bẩm: Không thể nào, không thể nào!

Ông bứt đầu bứt cổ, tự hành hạ mình và tự nghĩ:

– ‘Hoài sơn nấu với lươn là toa thuốc bổ mà! Tôi đâu có lầm. Tại sao như thế nầy được?’

Tiên sư tự cho là mình vô ý, nên giết chết người chồng bất hạnh đó, một cách rất oan uổng.

Cảm thấy mình có trách nhiệm trước cái chết nầy, Tiên y rất đau khổ đi lang thang ra bờ sông ngồi trầm tư mặc tưởng, rồi ngẫm nghĩ: ‘cũng một thứ thuốc cứu người, mà cũng là thứ đó lại giết người. Lúc có thời, thì thuốc gì cũng hay như thuốc tiên, lúc hết thời thì thuốc bổ cũng trở thành độc dược’.

Cái khổ tâm của người thầy thuốc, là làm mọi cách để giúp người bịnh, dầu cho bịnh nhân có thập tử nhất sinh, cũng phải moi tim óc ra mà cứu chữa, không ngại gì công lao khó nhọc. Họ làm với tấm lòng vị tha, cao cả không cầu lợi. Niềm hãnh diện và sung sướng của họ là định trúng bịnh, kết quả là trị hết bịnh và nhìn thấy bịnh nhân lành mạnh, yên vui là họ đủ vui rồi. Còn trực tiếp hay gián tiếp làm người bịnh chết cũng có tội. Lương tâm không cho phép họ lơ đãng, vô tâm hay chủ tâm như vậy.

Quá đau khổ vì lương tâm cắn rứt chịu không nổi, ông rờ tay vào túi lấy chùm chìa khóa tủ thuốc, tiện tay ném xuống sông. Ông về nhà dẹp cửa tiệm, không hành nghề y nữa mà sống ẩn cư.

Một hôm ông đi lãng du, tình cờ thấy người kia ngồi bán một rổ lươn. Ông liền mua hết rổ, rồi kêu người bán đổ rổ lươn cho ông quan sát. Lươn lui nhui bò tứ tung, có một con ngóc cái đầu cao nghệu, như dòm ngó ông.

–     Sao con lươn nầy kỳ vậy? Ông hỏi người bán lươn.

–     Dạ, đó là… con rắn đó ông ơi!.

–     Hèn chi!

Ông chỉ thốt lên như vậy rồi bỏ đi luôn, trước sự ngạc nhiên đầy bất ngờ của người bán lươn.

À há rắn mà nấu với hoài sơn là môn thuốc độc! Chính vì vậy nên chồng bà ta chết là phải rồi. Mặc dầu ông biết rõ rằng, ông không có chỉ thuốc độc cho bà ta, trái lại ông còn muốn cứu ông chồng bà ta mà! Tuy nhiên ông cũng cảm thấy đau khổ, nên luôn luôn tự trách mình quá nông nổi.

Ðể giải tỏa nỗi niềm trắc ẩn, ngày đêm ông cứ lo văn thư và nghiên cứu thêm y thuật. Ông chỉ ‘vui thú điền viên, bạn cùng cây cỏ’ cho quên hết sự đời. Ông không màng tới danh lợi nữa. Như con rùa thụt đầu, ông không chịu hành y giúp đỡ hay chỉ dẫn bất cứ ai cả, vì ông hãi sợ sẽ gây thêm tai họa cho người khác, tội lỗi sẽ chồng chất thêm lên.

Một hôm có anh chàng nhà quê, vợ chuyển bụng sanh khó, nên đau quá rên la ầm ĩ. Bà mụ khuyên anh ta cố đến, nhờ y sư mát tay ra toa cho anh  đi bổ thang thuốc, về sắc cho vợ uống, hầu mong khi sanh sẽ được ‘mẹ tròn con vuông’.

Anh ta chạy đến nhà tiên y gõ cửa, xin tiên y ra tay cứu giúp. Anh ta van lạy cách mấy, cửa vẫn đóng. Trì chí, ù lì van xin cầu cứu mãi cho đến khuya, mệt quá anh ta ngủ gục luôn trước cửa mà không hay biết gì.

Ðến lúc giựt mình thức dậy, nghe ông nói trong nhà:

–   ‘Lấy thau nước rửa mặt đi… sổ…sổ’

Ðang mơ màng, nghe ba chớp ba nháng, anh ta mừng rỡ, hớn hở, đâm đầu chạy một mạch về nhà. Vừa thở hổn hển, anh vừa bảo tiên y đã chịu mở miệng lại rồi. Anh ta lấy thau nước lạnh rửa mặt cho bà vợ. Bị lạnh quá, bà vợ rùng mình, xổ ra một bé trai kháu khỉnh. Mừng quá anh ta quì xuống, khấn đầu về hướng nhà tiên y lạy tạ, may nhờ y sư thương tình, mở lời chỉ bảo rất thành công.

Thời gian sau, anh ta đi đánh cá và bắt được một con cá to, mà anh ta chưa bao giờ có được trước đây. Anh ta mang về đưa cho cô vợ cưng, rồi nói:

– ‘Em mang con cá đem bán, lấy tiền sắm đồ đi!’ Nhưng vợ anh ta lại khuyên:

– ‘Mình à! lúc trước mình nói, bữa nào có con cá ngon, mình đem biếu cho tiên y để cám ơn ổng mở lời chỉ dạy. Thôi bữa  nay mình đem tặng ổng đi’.

–   ‘Phải há’, anh ta trả lời. ‘Em thiệt là khôn ngoan và biết điều quá chứ, chút nữa ‘người ta’ quên mất rồi!

Nói xong, anh ta đem con cá đến nhà tiên sư lạy tạ, xin ông nhận ‘công ơn’.

Ông không mở cửa, mà còn kêu gia nhân đuổi anh nhà quê đi. Anh ta phàn nàn:

-‘Cái ông thầy thuốc nầy kỳ cục quá, không nhận thì thôi sao lại đuổi người ta như đuổi tà!’ Nhưng rồi anh tự nhủ:

-“Không được, không được”. Mang con cá về sẽ bị vợ mình rầy la, sẽ quê một cục với bà con lối xóm. Nghĩ vậy, anh ta để con cá ở trướùc cửa, đoạn ra về.

Tiên y nhất định không nhận, lại bảo người nhà đem con cá liệng đi. Gia nhân thấy cá tươi, ngon bỏ không đành, chúng bèn lén làm thịt, lúc mổ bụng cá, bỗng chúng nó ngạc nhiên hết sức vì thấy cái gì kỳ kỳ trong bụng cá, nên cấp báo cho ông hay. Ông xem xét thật kỹ lưỡng và nhận ra ngay đó là xâu chìa khóa tủ thuốc của ông ngày xưa.

Rồi ông ngẫm nghĩ thấy lạ kỳ, thật ra ông đâu có chỉ dạy anh nhà quê nầy cái gì đâu. Ngẫu nhiên ông kêu gia nhân đem nước cho ông rửa mặt mà thôi, và buồn cười thay cái tên gia nhân đó lại có tên là…’Sổ’ !.

Ông nhớ trong sách có nói:

‘Nếu bịnh nhân lã người, lịm đi mà được tạt nước lạnh, sẽ được sảng khoái trở lại. Nếu lúc ấy tinh thần phấn chấn, lấy sức lại, rồi rặn mạnh tức sanh đẻ dễ dàng’.

Ðây là một việc ngẫu nhiên trùng hợp. Cảm hứng ông ngâm lên:

‘Vận khứ hoài sơn… chí tử,

Thời lai thanh thủy khả thôi sinh’.

hay:

‘Hết thời khoai cũng giết người

Có thời nước lạnh tái  tươi sinh linh”.

Tiên sư lẩm bẩm một mình:

– Có lẽ Thánh nhân hoàn trả chìa khóa cho ta, chắc có ý  muốn ta trở lại nghề cũ để giúp người. Con người ta ai cũng có số mạng. Số mình làm thầy, thì thế nào cũng làm thầy. Có lẽ ông Trời đã an bày cho mình phải hành y, giúp ích cho nhân quần xã hội. Ðã là kiếp con tằm thì phải nhả tơ, nhả cho đến hết kiếp mới thôi’.

Ngẫm nghĩ xong, ông vui vẻ mở cửa ’boutique’ khám bịnh giúp đời trở lại. Khách tấp nập đông đúc như xưa.