BÁC SĨ FRED HOLLOWS (4/9/1929 – 10/2/1993) 

BS Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

Khi nghe đài phát thanh loan báo hung tín: Bác sĩ Fred Hollows đã từ trần tại nhà riêng ở Randwich, Úc châu, lúc 8.15 ngày 10 tháng 2 năm 1993, không làm ai ngạc nhiên, mà làm cho mọi người vô cùng tiếc thương. Tiếc thương một vì sao sáng chói, như sao băng rơi rụng trong đêm, lúc ông chưa thực hiện hết hoài bão là cứu chữa giúp người mù từ các nước nghèo khó, trong đó có Việt Nam.

Mến tiếc một tài năng xuất chúng, hiếm có của phẫu thuật nhãn khoa, được Úc đã đào tạo nên. Mến tiếc một người có tấm lòng vị tha, bác ái không màng giàu sang, của cải, đã hiến trọn đời để phụng sự cho khoa học và cứu giúp người nghèo khó, bất hạnh tìm lại ánh sáng.

Mến tiếc một người, tuy đã bị đau đớn do bịnh ung thư cổ họng từ năm 1989, mà vẫn thản nhiên hoạt động tích cực, du hành tới nhiều nước trên thế giới, trong đó có Hà Nội, để chữa trị và huấn luyện bổ túc bác sĩ nhãn khoa bản xứ về những kỹ năng tân tiến, để chăm sóc tận tình đồng bào của họ khỏi cảnh tối tăm mù lòa.

Ông chết đi, nhưng để lại chương trình Fred Hollows chống nạn mù lòa còn đang dở dang. Mọi người, mọi giới đều thương tiếc và ngưỡng mộ tài năng phẫu thuật của ông. Giới nghèo, nhứt là người thổ dân Úc và các nước như: Phi Châu, Châu Mỹ La tinh và Á Châu, đặc biệt là Việt Nam, mến tiếc tấm lòng bác ái của ông.  Giới chính trị Úc nức lời ca ngợi và vinh danh đám tang của cố bác sĩ F. Hollows thành quốc táng.

Hồi tưởng lại những buổi học được cố giáo sư Hollows giảng dạy ở giảng đường của bệnh viện Prince Henry năm 1985. Trong một buổi chiều oi bức, tất cả sinh viên năm thứ tư đang tề tựu trong giảng đường, thì một người đầu tóc không chải chuốt, miệng ngậm ống điếu, áo quần lôi thôi, từ phía sau hậu trường hấp tấp bước xuống. Không có cái gì cho thấy ông ta có dáng dấp một giáo sư đại học như: với cặp kính cận thị, tay xách cặp da hay một nhà quí phái mà tôi hằng mơ ước.

Bac si FRED HOLLOWS 01

Bs Hollows đang khám mắt bịnh nhân tại Việt Nam

Cả giảng đường đang ồn ào náo nhiệt, bỗng im ngay. Ông bắt đầu giảng bài ngay, không một lời giới thiệu dông dài hay giáo đầu cho môn nhãn khoa. Chừng như ông sợ mất thời giờ vô bổ. Ông là người thực tiễn, không dông dài sáo ngữ như một số giáo sư khác.

Mặt ông đầy vẻ vui tươi, tay không cầm phấn hay chi cả, ngoại trừ cái ống điếu sẽ giết đời ông. Tôi có cảm tưởng đây là một tên ‘Cao bồi Úc’. Ông chiếu hình lên màn ảnh, rồi chỉ dạy rất rõ ràng dễ hiểu. Lời giảng có vẻ thực hành, dễ nhớ hơn là từ chương, khoa bảng. Từ đó tôi mới bắt đầu thán phục biệt tài của giáo sư F. Hollows, thật là danh bất hư truyền.

Sau đó tôi được thực tập trong khu nhãn khoa tại bệnh viện Prince Of Wales, làm tôi càng kính nể ông thêm. Ông coi chúng tôi, những bác sĩ  tỵ nạn chịu khó đi học lại, như những người bạn và tận tình hướng dẫn. Tôi có cái may được ông mời sang nhà ông chơi. Ðây không phải là ngôi biệt thự như tôi tưởng tượng, vì hầu hết các bác sĩ nhãn khoa đều hái ra tiền nhiều hơn bất cứ một chuyên khoa nào khác, vả lại ông là một giáo sư  nổi tiếng thì phải biết.

Gia đình ông gói ghém sống trong căn unit ở Randwick dưới đất, ở phía sau dãy phố trước mặt nhà thương Prince of Wales, với bà vợ Gabi và mấy đứa con thơ nheo nhóc. Gia đình ông sống trong nghèo khó, thanh đạm nhưng đầy sung sướng với niềm vui đã giúp đỡ kẻ khác và nhứt là mang lại ánh sáng cho những người mù lòa sống trong cảnh tối tăm. Trong nhà không thấy đồ đạc của cải quí giá chi cả. Cửa nhà không khóa. Tôi hết sức cảm động và kính trọng ông thêm. Từ đó tôi tìm hiểu thêm con người và sự nghiệp của ông, qua sách vở và các câu chuyện với các sinh viên Úc.

Tôi rất thán phục tài năng, lòng hào hiệp và nhân ái hiếm có ở thời đại vật chất nầy. Các đệ tử của ông, không tài năng bằng ông mà kiếm ra khối dollars và sống trong giàu sang phú quí. Riêng giáo sư đã tận tụy với nghề, xả thân làm việc nghĩa, đi tận nơi sơn cùng thủy tận, những nơi cằn cỗi của vùng quê nước Úc, để giúp đỡ và chữa trị mắt cho thổ dân Úc.

Giáo sư còn tự nguyện đi đến các nước nghèo, các nước bị chiến tranh tàn phá, để giúp đỡ người mù tìm lại ánh sáng, để lúc họ mở mắt ra nhìn thấy thân nhân, ngắm cảnh vật và các vẻ đẹp muôn màu của vạn vật, của tạo hóa. Còn riêng ông, cuối cùng khi nhắm mắt lại, nghìn thu vĩnh biệt cõi đời ô trọc đầy cách biệt và bất công.

Thiên tài đó không màng danh lợi, bởi vì ông chỉ có một chí hướng và một tâm huyết, là giúp người nghèo khó và cứu người ra khỏi cái tối tăm, tìm lại ánh sáng, đã bị sự nghèo đói và thiếu vệ sinh cướp mất. Ông không một chút nề hà chi cả. Nơi nào mà người ta có thể cho là : ‘Chẳng có chi để làm’, thì trái lại Fred sẽ làm được một cái gì cho nó. ‘Cái bản ngã sắc không của ông thật là cự phách’. Ðây là lời nói của giáo sư Huge Taylor, giám đốc chương trình nghiên cứu nhãn khoa Úc.

Fred Hollows luôn luôn đứng về phía người nghèo, thế cô, chống lại chính quyền, ủng hộ quyền lãnh thổ và nhân quyền của thổ dân Úc và Nam Phi. Say mê bóng bầu dục, thế mà ông xé bỏ tờ quảng cáo Spingbok Nam Phi. Chỉ cần ngần ấy, cũng đáng cho ông được đề nghị lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình lắm chứ? (Xin đừng hiểu lầm. Úc chỉ được đề nghị, nhưng mà chưa có ai lãnh giải Nobel Hòa Bình cả).

Fred Hollows thực ra là Frederick Cossom Hollows, sinh ngày 9 tháng 4 năm 1929, tại Dunedin, New Zealand. Ông là người con thứ hai trong gia đình có tất cả bốn người con. Cha ông làm việc cho sở hỏa xa. Gia đình ông rất ngoan đạo và theo dòng mến Chúa. Những lời thô lỗ và việc hút thuốc lá bị nghiêm cấm trong gia đình ông.

Cậu bé Fred là học sinh xuất sắc, thích chơi đá banh của trường Palmerston North Boys High School. Cậu cũng đứng đầu về môn Thánh kinh. Sau khi rời trường trung học, Fred vào đại học Otago và chọn môn nghệ thuật cùng thần học, vì cậu ước mơ trở thành giáo sĩ truyền đạo, Fred lại ghi danh vào trường Glenleith College chuyên dạy thần học.

Nhân dịp hè, cậu nhận được việc làm phụ tá trong dưỡng trí viện. Chính nơi đây đã thay đổi hẳn con người của cậu sinh viên Fred. Từ đó cậu xa dần đạo giáo và không còn muốn làm giáo sĩ nữa. Fred chuyển sang Ðại học Wellington, cậu bắt đầu có khuynh hướng nghiêng về tả phái và đi làm để kiếm tiền. Cậu lại trở về đại học Otago học Y khoa.

Fred lại đam mê tửu sắc: Uống rượu như hủ chìm, chạy theo gái như điên, say mê thú trèo núi và chạy xe đạp. Còn nữa chưa hết, Fred lại say mê thụt billard, vậy mà cậu vẫn có credit, cho tất cả các môn mới là lạ. Trong lúc hướng dẫn học sinh leo núi, Fred say đắm cô Mary rồi xin cưới lúc cậu 24 tuổi và chỉ mới là sinh viên năm thứ tư Y khoa thôi. Cuộc tình éo le kéo dài 20 năm, vì Mary bị bịnh tâm thần. Fred có một đứa con trai tên Ben với Mary, sau đó Mary sang Pháp và qua đời ở đó.

Năm 1980, Fred tục huyền với Gabi O’Sulivan, một phụ tá trẻ đẹp. Bà Gabi sanh cho ông năm người con: Cam 10 tuổi, Emma 8 tuổi, Anna 5 tuổi và hai đứa song sanh 3 tuổi, Ruth và Rosa. Ngoài ra còn có cô con gái nuôi Tanya 25 tuổi, cùng đứa con riêng của ông, Ben 17 tuổi.

Sau khi tốt nghiệp Y khoa, bác sĩ Hollows làm việc tại Auckland Hospital và gia nhập đảng Cộng sản, nên bị tình báo Tân tây Lan theo dõi. Bác sĩ  F. Hollows muốn trở thành bác sĩ giải phẫu nhãn khoa, nên sang Anh tu nghiệp năm 1961. Ông làm Registrar nhãn khoa cho Cardiff Hospital, thuộc Royal Infirmary.

Trở về Tân tây Lan, ông làm giảng viên nhãn khoa, nhưng lại phải từ bỏ xứ sở ra đi, vì bị theo dõi.  Sang Úc, ông làm giảng sư cho đại học NSW. Ông lại hội nhập vào phong trào đòi quyền sở hữu đất đai lãnh thổ của người Úc bản xứ.

Ông Hollows viếng thăm sắc dân Gurindii ở Watti Creek thuộc Lãnh thổ Bắc Úc. Chính nơi đây, Fred phát hiện hầu hết trẻ con đều bị bịnh đau mắt hột (trachoma). Một số người lớn mắc chứng bịnh Labrador Keratopathy. Bịnh nầy làm mù mắt do tia tử ngoại gây nên. Ông là người phát hiện bịnh nầy đầu tiên tại Úc.

Fred vận động phong trào phòng chống bịnh đau mắt hột. Trung tâm thử nghiệm đầu tiên ở Redfern được thành lập năm 1971. Sau đó có cả 100 trung tâm khác mọc lên khắp nơi trên toàn đất Úc.

Fred cực lực chỉ trích chính phủ đã bỏ rơi người bản xứ, để họ sống thiếu vệ sinh đưa tới đau mắt hột. Chính phủ đã làm ngơ, không chữa trị đến nơi đến chốn cho người bịnh. Tôi rất tiếc là không nhớ bài ca dao bịnh đau mắt hột, của Gs  Nguyễn Ðình Cát làm cho học sinh học, để tránh bịnh tại Việt Nam trước 1975.

Trung tâm Y tế của người Thổ dân ở Bourke, vùng Viễn Tây của New South Vales là nơi mà ông ưa thích nhứt và làm việc nhiều nhứt. Chính vì vậy mà ông mới ước mơ khi qua đời, thi hài ông được đưa về chôn nơi đây, để kỷ niệm cuộc đời đấu tranh của ông cho quyền lợi người bản xứ.

Chương trình chống nạn đau mắt hột của ông, cuối cùng đã được các đồng nghiệp hỗ trợ. Ông là người cầm đầu ‘Chương trình Quốc gia Ðau mắt và Ðau mắt hột’. Muốn đến những nơi xa xôi như vậy, ông phải di chuyển trên xe hàng tới các vùng quê hẻo lánh, để chữa mắt cho dân chúng.

Trong hai năm trời, ông phải trải qua 465 địa điểm, khám cho 105.000 dân, trong đó có 15.000 người Thổ dân và mổ cho 1.000 con mắt. Trung tâm y tế của ông ở Queensland, bị Thủ hiến J F Petersen đóng cửa, làm ông nổi giận và phản đối kịch liệt. Chính vì hoạt động cho người Thổ dân gặp khó khăn, khiến ông nẩy ra ý định đi chữa trị mắt cho các nước nghèo trên thế giới.

Mặc dầu say mê đá bóng, khi xem trận đấu là ông múa may thích thú như ông là cầu thủ thứ thiệt đang chơi banh. Nhưng ông lại phản đối đoàn bóng Rugby Úc, sang đá ở Nam Phi năm 1971, nên bị bắt. Trước đây có họa sĩ thực hiện chân dung ông, để dự thi Archibal mà không thành công, vì ông không chịu ngồi yên để họ họa.

Vào năm 1973, ông sang Mể Tây Cơ giúp việc điều trị đau mắt, ông cảm thấy thời gian cứu chữa cần nhiều hơn là nghiên cứu, vì ông đã nghiên cứu quá nhiều rồi. Hiện nay có nhiều chứng bịnh mắt còn mang tên ông, như chứng bướu cổ độc ác tính. Tài năng của ông đã được Hội Nhãn Khoa Thế Giới công nhận. Nghĩ sao làm vậy. Rồi từ đó ông không thèm coi các thư từ mời hội họp về nhãn khoa trên thế giới nữa, mà ông dùng thời giờ đó để đi cứu chữa cho những người dân từ các xứ nghèo trên thế giới. Các nước mà ông đặc biệt chú ý nhứt như: Ethiopia, Eritrea, Việt Nam. Ông đã đích thân đến tận các nước chậm tiến đó, để chữa trị và huấn luyện các bác sĩ bản xứ về phẫu thuật tân kỳ của Úc và hiện đại của thế giới. Công việc vừa bổ ích, mà cũng vừa ít tốn kém, lại rất hữu hiệu.

Nỗi khó khăn của ông là lấy tiền ở đâu ra, mà chi dụng cho chuyến du hành và tặng dụng cụ cùng máy móc tối tân cho các quốc gia nghèo, để họ còn có thể tiếp tục giải phẫu sau nầy. Ông cũng muốn xây dựng các nhà máy sản xuất kính, để gắn luôn vô mắt, khi giải phẫu cho nó rẻ.

Ông đích thân gây quỹ, lập xưởng chế tạo kính và nghiên cứu cách chế tạo sao cho nó tốt và rẻ tiền ở đại học Wollongong. Trong một thời gian ngắn, ông đã gây quỹ được 2 triệu đô la Úc, để tài trợ cho Việt Nam. Người tỵ nạn chúng ta chống Cộng, nhưng không bao giờ chống hành động của một vĩ nhân và ân nhân của đồng bào ruột thịt ở quê nhà, đang cơ hàn lầm than trong tăm tối.

Mọi người đều vui vẻ đóng góp ủng hộ phong trào gây quỹ của Fred Hollows. Hãy bỏ qua quan điểm chính trị. Hãy nhìn vào quan điểm nhân bản, cần cấp cứu chữa trị nạn mù lòa của 150 ngàn người sống âm thầm trong bóng tối, mà lẽ ra họ còn có thể nhìn thấy như chúng ta. Hãy giàu lòng vị tha, kẻ có công người có của, giúp cho chương trình Fred Hollows sống còn mãi mãi.

Ông chủ trương làm việc lấy tiền kẻ giàu có, hầu giúp đỡ kẻ nghèo khó. Ông mãn nguyện, khi thấy bịnh nhân lấy lại được ánh sáng. Không cần biết màu da, tôn giáo và quan điểm chính trị, ông chỉ giúp cho người nghèo cần được cứu giúp mà thôi. Thật cao cả thay!

Năm 1991, ông chống nhóm đồng tính luyến ái, vì lo ngại họ gieo rắc bịnh Aids cho người bản xứ Úc, Thổ dân và những người khác. Việc nầy gây nhiều tranh luận với nhóm đó một dạo.

Ông đã được Chính phủ Úc trao tặng nhiều giải thưởng cao quý như:

*    Chọn làm người Úc xuất sắc năm 1990.

*    Companion of The Order of Australia.

*    Human Rights Medal.

*    1993 Rotary International Award.

Tuy là giáo sư nhãn khoa, nhưng ông sống đơn sơ, bình dị với vợ trẻ, con thơ, nhà cửa nghèo nàn. Tâm trí ông chỉ lo nghĩ tới sự thiếu hụt, không đủ tiền để xây cất xưởng chế tạo kính gắn vào mắt, để chữa trị cho 7.000 người mù mắt vì cườm đá ở Nepal, 150 ngàn người ở Việt Nam và một triệu người ở Phi Châu.

Trước khi nhắm mắt lìa khỏi cõi đời ô trọc, đầy bất hạnh của người nghèo khổ, ông yêu cầu khi chết được chôn hài cốt ở Bourke, vùng Viễn Tây của New South Wales, để kỷ niệm lúc ông còn sống đã hòa mình cứu chữa cho người Thổ dân, nơi ông tìm ra rất nhiều bịnh tật và nhờ đó làm cho ngành nhãn khoa Úc tiến bộ thêm. Tiền phúng điếu được gởi tặng hết cho chương trình gây quỹ mang tên Fred Hollows.

Hy sinh cho người, mà quên bản thân và gia đình túng thiếu. Là một anh hùng thời đại, một cowboy cô đơn, ông luôn luôn làm việc và tranh đấu cho tự do và bình đẳng của con người. Phía sau nét thô bạo, khó khăn của ông, là một trí khôn thần sầu, một tấm lòng nhân ái cao cả và một hấp lực lôi cuốn mọi người ủng hộ ông mãnh liệt.

Với ý tưởng thực tế, suy tư chính chắn, tận tâm yêu nghề và xót thương giới nghèo khổ mang bịnh tật mù lòa vì thiếu vệ sinh, thuốc men, dinh dưỡng, thiếu phương tiện chữa trị, GS Fred Hollows đem hết tâm huyết để thực hiện ước mơ của mình. Biết mình sẽ chết, vì bịnh ung thư hoành hành, giáo sư Fred Hollows vẫn phấn đấu với cơn bịnh và thực hiện công trình vĩ đại cho các nước nghèo khổ.

Thật đáng tưởng thưởng! Tên Fred Hollows sẽ lưu danh mãi mãi.

Chương trình Fred Hollows sẽ tồn tại lâu dài, để giúp đỡ các dân tộc nghèo khổ ở những nước chậm phát triển. Ðể tiếp nối chương trình của ông tại Việt Nam, Bs Huỳnh Tấn Phúc thành lập Chương Trình Phòng Chống Nạn Mù Mắt.

Ước mong Chương trình Fred Fellow sẽ được duy trì mãi mãi và được giải Nobel Hòa bình, như những hội Y tế từ thiện, Hội Hồng Thập Tự, Hội Y Sĩ Không Biên Giới. 

 

Sách đọc thêm:

Fred Hollows, an autobiography with Peter Corris, 1991