Ba tôi

Vưu Văn Tâm

Thời giặc Pháp nhiễu nhương, đất Nam-Kỳ được coi là xứ “bảohộ”. Dân tình sống lầm than, khổ sở. Trong bài thơ “Chạy giặc”cụ Nguyễn Đình Chiểu đã phác họa lên khung cảnh điêu tàn, ta thán đó như sau :
Bến-Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng-Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

Ba tôi đã lớn lên trong thời loạn lạc đó. Chữ nghĩa của nhà trường đã dạy cho ba tôi và các anh em, chú bác cùng thế hệ tình yêu nước thương nòi, nổi đau cũng như trách nhiệm của người dân mất nước.

ba toi 01Thấy tụi lính Tây cao lớn, bệ-vệ đi diễn hành trên đường phố mà đôi chân thẳng băng, một người bạn cùng xóm đã nói với ba tôi và các bạn rằng :
– Ê tụi bây, tao thấy mấy thằng Tây tóc vàng, mắt xanh bự sự như vậy mà không có đầu gối. Tụi nó mà té xuống thì coi bộ khó đứng dậy đó đa. Hay là mình tìm cách nào cho nó trợt vỏ chuối rồi hè nhau ra mần thịt cho đã một bữa đi !
Người bạn khác chen vào :
– Đợi bữa nào tụi nó đi ngang, mình rải hột mù-u cho tụi nó té ngữa rồi lao ra giết cho đã nư !

Câu chuyện ngỡ chỉ là một cuộc nói vui của anh em, bè bạn trong lúc trà dư tửu hậu, ai dè đâu mấy chú bác đã lên một “kế hoạch hành quân” thiệt sự, một mất một còn với giặc. Một buổi sớm mai, khi mặt trời chưa lên khỏi đỉnh đầu, dưới chợ đã lố nhố những thằng Tây … không có đầu gối. Một tốp lính Tây đi về hướng dốc cầu, dẫm phải mớ hột mù-u và trợt chân té ngã. Từ trong bụi rậm, mười mấy thanh thiếu niên với tầm-vông vạt nhọn, gậy gộc, giáo mác đồng loạt xông tới. Chúng lồm-cồm ngồi dậy, giương súng và nhả đạn liên tục vào cái đám “An-Nam-Mít” không chịu yên phận của người dân xứ “nhược tiểu” ! Mười mấy xác chết bị liệng xuống cầu, máu nhuộm đỏ cả một khúc sông !

Với chí khí nam nhi nào há sờn lòng, “đất nước lâm nguy, thất phu hữu trách”, mấy chú bác, ba và chú tôi đã thành lập một nhóm thanh niên yêu nước chống Tây. Và không hiểu từ lúc nào và bằng cách nào mà trong nhóm có mặt những người “anh em bên kia chiến tuyến” ! Họ đặt tên cho đám thanh niên tự phát này là đoàn quân vệ quốc, và phân chia thành nhiều tiểu đội. Nhưng lạ một điều là những danh chức đại đội trưởng, tiểu đội trưởng đều do đám người ngoài ấy nắm giữ. Dân trong này không có chức phận gì cả, ngoài cái tên gọi thân thương : “đồng chí” !
Sau nhiều bất đồng chính kiến, ba tôi cũng như nhiều chú bác đã không chịu đựng được sự kỳ thị Nam Bắc nên đã xin phép được giải ngũ. Nhưng không một ai trong nhóm được phép giải ngũ khi chưa được lệnh của “cấp trên” ! Mãi cho đến khi bị một viên đạn lạc vào bắp đùi bên trái, ba tôi mới được phép rời đơn vị và về lại với gia đình chăm lo nương rẫy.
Chú tôi, người em kế của ba, “đào ngũ” và trốn xuống Sài-Gòn làm ăn, thay tên đổi họ cũng như chữ lót và mang cái tên không phải do cha mẹ đặt cho đến ngày lìa bỏ thế gian này !

Mấy chục năm sau, khi miền Nam Việt-Nam bị đồng minh bỏ rơi và lọt vào tay cộng sản, dân chúng còn khổ gấp mấy lần hơn dưới thời cai trị của Tây. Thiên hạ di tản rần-rần trước ngày Sài-Gòn hấp hối. Sau đó, phong trào bỏ xứ đi vượt biên, vượt biển ngày một lên cao, cho dù ngoài biển khơi trùng trùng sóng dữ. Tôi bùi ngùi nhớ đến lời dạy của ba tôi ngày ấy :
– Thấy tụi “dziệt-cộng” ở đâu thì phải né, càng xa càng tốt, ở gần không khéo sẽ mang họa vào thân !
Thời gian lặng lẽ trôi nhanh, tính đến nay, ba tôi đã qua đời hơn ba thập niên và chú tôi cũng ra người thiên cổ hai mươi mấy năm rồi. Từ một nơi xa xôi, tôi nhìn về cố quận mà cõi lòng tan nát. Tôi nhủ với lòng, ước gì “giặc Pháp” cứ tiếp tục đô hộ mình cho đến bây giờ, có lẽ dân mình sẽ đỡ khổ nhiều hơn, và nhất là đám trẻ sau này không phải đi làm nô lệ hay bán rẻ xác thân nơi xứ lạ quê người.

11.11.2018