BA CỦA TÔI

Đoàn Hùng Sơn

(Nguồn: Giai Phẩm Xuân Canh Tý 2020 – Petrus Ký 1966-73 http://veque.com.free.fr/)

Năm 2019 vừa rồi là ba tôi đã tròn 90 tuổi.

Nhân lễ mừng Thượng thọ của ba, nhớ về công ơn sinh thành dưỡng dục đàn con mười hai đứa, nay còn lại mười (vì hai đứa con chết vì bệnh trong đó có một đứa em bị viêm màng não, sống đời thực vật đến năm mười sáu tuổi mới mất), tất cả đều đậu vào các trường công lập (sáu cô gái học Gia Long, ba trai học Petrus Ký, đứa út học trường Hùng Vương), tôi xin được nói về cuộc đời của người cha kính yêu đã nỗ lực xây dựng nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng, thân cô, thế cô.

90 năm nhìn lại cuộc đời, Ba tôi đã kể cho các con nghe câu chuyện ngày xưa:

Năm 1929, tôi hiện diện trong gia đình này ở miền quê Sa Đéc, có ba tôi: ông Lý Sấm là người Quảng Đông và má tôi là Quách thị Học, người Tiều Châu, được nhiều người biết đến vì sự giàu có do tổ chức đánh cờ bạc và cho vay nợ, nuôi trong nhà một lực lượng đàn em hùng hậu. Tôi được mang tên là Lý Minh. Là “cậu ấm” được chăm sóc kỹ lưỡng, ăn ngon, mặc đẹp, nhưng tôi lại thường xuyên đau ốm. Ba má tôi mời thầy về cúng, xin đổi tên cho tôi là MẠNH để gọi hàng ngày.

Khi đến tuổi đi học, ba mẹ vô cùng thương tôi, cắt cử gia nhân cõng tôi đến trường học mỗi ngày vì sợ đường làng làm lấm lem quần áo chân tay. Tôi được cho học tiếng Việt và cả tiếng Pháp nữa. Khi nào nhà có làm món ăn ngon, ba đều cho người đến trường xin thầy cho được cõng về sớm để ăn kẻo nguội!

Má tôi thì không biết chữ nên tôi có nhiệm vụ kiểm tra giúp má các giấy tờ công nợ, tiền bạc giao dịch hàng ngày. Có một ngày, tôi tìm thấy được một tờ giấy học trò đã phai màu, với dòng chữ viết tay nghệch ngoạc và dấu lăn tay: “… vợ chồng tui đồng ý cho con trai của chúng tui đã được bảy tháng tuổi làm con của ông bà …”. Thì ra tôi chỉ là con nuôi! Biết là vậy nhưng tôi vẫn giành hết tình cảm cho ba má nuôi là người đã thương yêu và chăm lo hết lòng cho tôi.

Cuộc đời đâu phải luôn mãi bằng phẳng, êm đẹp. Năm tôi lên 9 tuổi, căn bệnh thương hàn đã cướp đi ba Lý Sấm thương yêu của tôi. Người trụ cột của gia đình bị mất đi.

Má tôi, vì không biết chữ, vì chỉ biết “tòng phu”, lo nội trợ, nên không giỏi chuyện làm ăn. Gia sản cạn kiệt dần. Má tôi phải bán nhà và hai mẹ con tôi phải đi khắp Nam kỳ lục tỉnh tìm kế sinh nhai, buôn bán. Khi lưu lạc đến Nam Vang, thấy việc bán buôn có sinh lời thuận lợi, má quyết định dẫn tôi về Sa Đéc, gởi tôi ở nhà chị Chinh, bà con chú bác, để tôi được tiếp tục việc học đàng hoàng đầy đủ, có học cả tiếng Pháp. Còn má thì lo buôn bán đường dài ngược xuôi.

Tôi nhờ biết chữ, nói được tiếng Hoa, tiếng Pháp, thích giúp đỡ mọi người trong các giao dịch nên được mọi người trong vùng Đất Sét (Sa Đéc) thương mến. Cứ mỗi tối, các trung niên, lão niên trong vùng tụ tập ở sân nhà chị Chinh để được nghe tôi đọc thơ Lục Vân Tiên, chuyện Kiều, kể chuyện Tam quốc, … qua các sách tôi mượn ở trường.

Khi chiến tranh Đông Dương bắt đầu nhen nhúm, việc buôn bán đường dài không còn thuận lợi, má tôi trở về và đưa tôi đến Vĩnh Long kiếm sống. Lúc nầy tôi đã 12 tuổi và hiểu rằng phải phụ má tìm kế sinh nhai. Má làm bánh cam bánh vòng bán, còn tôi xin phụ việc tại lò bánh mì.

Năm sau chiến tranh đến. Pháp bắt đầu chiếm đóng các tỉnh miền Nam, lại thêm các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo tranh chấp quyết liệt, dân chúng hoang mang lo sợ, chạy lánh nạn vào vùng sâu. Má con tôi chạy về nhà ông Ba, một nhà chứa cờ bạc, lánh nạn. Tôi cùng các cháu ông Ba có nhiệm vụ canh gác, báo động, còn má tôi cùng mợ Chín Danh, con ông Ba, lo phần cơm nước cho khách đánh bài. Tôi tuy ở ngay sòng bài nhưng tôi lại rất ghét cái trò lừa lọc gian ác này vì cứ phải chứng kiến bao thảm trạng do nó đem lại! Con người nào vướng vào đam mê đỏ đen rồi là bị mất tất cả! Khi quân giáo phái Cao Đài chạy đến vùng này chiếm đóng, nhà ông Ba bị đuổi đi, sòng bài bị dẹp, má con tôi lại đi tha phương kiếm sống và xin được ở đậu tại nhà cậu Hai Nho. Không có vốn lận lưng, tôi nghĩ ra việc nắn các con tò he cho má tôi đem ra chợ bán. Được cái khéo tay nên công việc của mẹ con tôi cũng tạm đủ qua ngày.

Năm ấy, mùa nước lũ dâng cao, không ra chợ buôn bán được, má tôi lâm bệnh càng lúc càng nặng vì không tiền thuốc thang chạy chửa. Sức khỏe cứ yếu dần.

Quân đội Pháp tiến vào Vĩnh Long, súng bắn rầm trời, dân quá sợ hãi bỏ nhà cửa “chạy giặc” vào tận trong vùng sâu. Chỉ còn một mình má con tôi ở lại. Nhìn quanh chỉ thấy đồng không nhà trống! Tiếng súng của quân Pháp cứ ngoài sông vọng vào. Tới rạng sáng thì má tôi trút hơi thở cuối cùng! Tôi chỉ biết ôm xác má khóc ròng. Một đứa bé 13 tuổi như tôi vô cùng hoang mang, không biết phải làm gì vì không còn ai chung quanh! Quanh quẩn bên xác má đến chiều, phần vì đói và khát, tôi nhìn má nằm chơ vơ rồi gạt nước mắt chạy một mạch tìm người trợ giúp. Mãi đến gần sáng hôm sau, tôi gặp được anh ba Oanh, con cậu Hai Nho và thêm một người đàn bà lạ mặt đồng ý về giúp tôi chôn cất má trong manh chiếu đơn sơ trong khu vườn nhà cậu Hai Nho. Tôi đi theo gia đình cậu Hai Nho xin tá túc.

Quân Pháp đã chiếm được Vĩnh Long, kêu gọi dân chúng hồi cư, và bắt đầu lập sổ bộ, tờ khai nhân dân, sổ gia đình. Tôi là tứ cố vô thân nên xin cậu Hai Nho cho nhập vào gia đình để hợp pháp hóa nhân thân.

Lý Minh bây giờ mang tên giấy tờ vĩnh viễn là Đoàn Ngọc Mạnh, lấy họ của cậu Hai Nho.

Do có biết chút ít tiếng Pháp, tôi giúp mọi người trong việc làm tờ khai để được nhập cư. Biết được các hỗ trợ phiếu vải, nhu yếu của Pháp hỗ trợ cho vùng tạm chiếm, tôi làm danh sách cho bà con được hưởng. Do đó tôi được sống trong sự đùm bọc và thương yêu của mọi người tại làng Long Châu, tỉnh Vĩnh Long. Tôi bắt đầu giao dịch, mua bán với lính Pháp và hưởng lợi rất nhiều! Tôi mua trái cây, trứng, thực phẩm …ở miệt vườn đem trao đổi với họ để lấy đồ hộp, thuốc men, vải vóc đủ loại đem về bán lại, nhờ đó cũng giúp gia đình cậu Hai Nho có được cuộc sống đầy đủ, thoải mái và tôi cũng có được tiền.

Và rồi tôi phải trả giá. Tôi bị Việt Minh khép tội Việt gian. Nhờ bà con báo trước và mợ Hai Nho giúp đỡ tôi trốn ra chợ Thị xã, đến phụ việc sửa xe cho thầy Sáu Thu, thông ngôn của Pháp.

Ở tại đây, tôi quen với người Pháp và đám lính Lê Dương thích uống rượu. Tôi nói với thầy Sáu Thu hãy mở quán bán rượu tại nhà, và tôi sẽ là người lo phần cung ứng rượu.

Quá trình tha phương cầu thực khi trước đã giúp tôi dễ dàng tìm nguồn rượu của dân quê nấu bán với giá rẻ. Rượu đem về tôi tự pha chế theo công thức: một ly rượu + một ly nước dừa xiêm + đường + chanh. Có khi tôi pha rượu có ngâm thêm đại hồi, tiểu hồi để có mùi vị giống rượu Rhum. Với các cách này, chỉ một vốn tôi thu được hai mươi lời! Quán rượu đắt khách vô cùng. Tôi còn tìm người lấy thêm nước đá từ Cần Thơ bỏ mối cho tiệm, vì thời đó tiệm làm nước đá chỉ có ở thành phố lớn. Tôi là con gà đẻ trứng vàng cho thầy Sáu nên rất được thầy yêu mến. Mỗi ngày thầy cho tôi 1 cắc bạc ăn sáng. Tôi ăn tiệc tùng no nê cũng chỉ tốn cỡ hai xu. Lâu lâu mợ Hai Nho có ghé qua hỏi mượn làm vốn buôn bán này nọ tôi đều cho mượn, vì tiền dành dụm dư dả mà tôi thì thân cô độc cũng chả cần gì nhiều. Việc buôn bán ngày càng phát đạt nên thầy Sáu phải kêu thêm cháu ruột về ở phụ việc. Nắm được hết mánh lới bí quyết làm ăn, họ bắt đầu kiếm chuyện để đẩy tôi đi. Với số tiền thầy Sáu đưa khi cho tôi nghỉ việc, tôi đi tìm chỗ trọ khác và xin được việc làm tại quán cà phê ở thị xã với nhiệm vụ rang xay cà phê và đi bỏ mối

Lúc này tôi đã 15 tuổi. Từ đây tôi được quen cậu Năm Triết có một sân tennis. Thấy tôi nhanh nhẹn, thích thể thao, cậu hỏi tôi có thích vào làm ở sân của cậu không, tôi ưng bụng liền. Công việc lúc đầu là lượm banh cho khách tập đánh, rồi khi rảnh rỗi thì tập đánh. Với sức trẻ và lanh lợi, tôi tiến bộ rất nhanh và trở thành tay dợt banh cho những người mới tập đánh tennis. Người tôi lúc này đen nhẻm. Tôi còn giúp cho cậu Năm sửa vợt, vá vợt rách, phụ bán nước giải khát.

Đến năm tôi 16 tuổi, năm 1945, gặp lại cậu Chín Danh. Cậu khuyên tôi có chí có tài nên chọn cho mình 1 nghề nghiệp đàng hoàng ổn định để lập thân. Tôi liền theo cậu lên Sài Gòn học nghề hình ở tiệm hình Nam Quang mới mở, số 31 đường Thuận Kiều quận 5, đối diện Nhà thương Chợ Rẫy. Hồi xưa thợ vào học việc thì đầu tiên là chỉ nuôi ăn ở, chạy lon ton đủ việc rồi tự học. Đứa nào khá, ra nghề, ra được sản phẩm thì mới được hưởng lương theo công việc. Với tư chất thông minh và tính cần cù nhẫn nại, tôi đã nhanh chóng nắm được các công việc và quy trình chấm sửa phim, sửa hình. Khi làm được tốt các khâu đó xong, tôi nhắm đến khâu quan trọng và khó nhất là in rửa hình. Đây là khâu cần thợ chuyên môn lành nghề, lương cao. Ngày xưa, lúc nghề hình du nhập vào thì phim là những tấm kính mỏng được tráng thuốc bắt sáng lên trên, được xếp trong các hộp car­ton bịt giấy đen kín, và tùy kích cỡ đựng trong từng hộp riêng. Máy chụp tại tiệm thì to đùng như máy chém, với mấy cái rập khung để miếng kiếng phim vào theo từng cỡ, và diaframe được đóng mở theo khí nén từ cái bóp tay trên trái poire cao su, thời gian cỡ 1 giây. Khi chụp xong, vào phòng tối hoàn toàn tháo phim để vào các rãnh khay theo thứ tự nhớ kỹ ở trong đầu rồi nhúng vào thuốc tráng. Chỉ một sơ sẩy để phim rơi xuống đất là tiêu tùng, mất ngay kiểu ảnh đã chụp. Do đó nó đòi hỏi người thợ thật thành thục thao tác chính xác trong bóng tối hoàn toàn! Cả việc pha thuốc rửa ảnh, cách in rửa ảnh cũng là bí mật nghề nghiệp của thợ phòng tối.

Tiệm có cậu con ông chủ tiệm học trường Tây, sắp thi Tú tài nên tôi kết thân và được cậu giúp đỡ mượn các sách nhiếp ảnh cho xem, cho nên các công thức pha chế chỉ là chuyện nhỏ.

Cái khó chính là in, rửa. Tôi tự bỏ tiền vào Chợ lớn mua hóa chất, phim, giấy ảnh cất kỹ. Những lúc tối khi người thợ về nhà riêng, tôi vào phòng tối quan sát thật kỹ từng vị trí ngóc ngách bày biện, kể cả các bề bộn lôi thôi của thợ khi ra về, để rồi tự thực tập nắm chắc từng khâu một, xong rồi xóa sạch dấu vết và để lại hiện trường như cũ. Cuối cùng tôi đã thành công khi in rửa được ảnh chất lượng còn có khi đẹp hơn thợ, vì tôi luôn lấy những ảnh thợ vừa làm để làm mẫu so với cái mình làm. Và rồi tới một ngày người thợ bị bệnh phải nằm viện, ông chủ buồn rầu vì sẽ phải mất chi phí khi đem phim chụp đi gia công in rửa tại các tiệm đồng nghiệp. Lúc đó tôi đã gây ngạc nhiên cho mọi người khi làm được mọi việc phòng tối. Tôi đã thành thợ chuyên nghiệp.

Còn việc đứng chụp tại tiệm thì tiệm hình nào cũng là do chủ đảm trách. Rồi cũng có một ngày bị bận việc chủ buộc lòng để tôi đứng chụp thay mà không thể hẹn khách được, và tôi lại gây ngạc nhiên cho ông chủ lần nữa. Ông đâu có biết là tôi đã chú ý nhiều vào cách sắp các kiểu chụp, quan sát các thao tác chụp ảnh kỹ lưỡng nên khi bắt tay vào làm là đầy tự tin và gây được cảm tình với khách. Tôi dường như là thợ đứng máy chụp chân dung tiệm trẻ nhất, mới 18 tuổi.

Năm tôi 19 tuổi, ông bà chủ đem cô cháu gái vừa bị mồ côi mẹ từ dưới quê Tân Châu lên nuôi ở tiệm, cho làm thu ngân quầy và phụ các việc vặt. Mẹ cô ta trước lúc lâm chung nhắn gửi con cho người em dâu, là bà chủ tiệm, nuôi nấng dùm vì lo cho con cảnh mẹ ghẻ con chồng. Quả thật sau đó ba cô ta, là anh kế của ông chủ, đã lấy vợ và sau đó có một đàn con bảy đứa! Cô ấy cũng bằng tuổi tôi, lại cùng hoàn cảnh cô đơn nên chúng tôi yêu nhau và lấy nhau.

Ông bà chủ tiệm, giờ là ba má vợ nuôi của tôi đứng ra làm chủ hôn với một mâm bàn tiệc đơn giản trong gia đình của tiệm hình.

Tiệm có một lầu ván gỗ và một gác xép dưới mái tôn làm cái kho.

Lầu ván gỗ thì là nơi thợ chấm hình và sửa phim làm việc và nghỉ ngơi.

Chỉ còn cái kho ấy thì được dọn đi để làm tổ ấm cho hai vợ chồng.

Ban ngày thì nó nóng như cái lò bánh mì mà tôi đã có làm việc từ thuở thiếu thời, cho nên chỉ vào ban đêm chúng tôi mới kéo nhau lên ở.

Tôi hiện đã là thợ chủ lực của tiệm, nhờ làm giỏi nên tiệm càng đông khách. Tôi lao động rất siêng năng vì luôn mơ tưởng đến căn nhà riêng và gánh nặng đàn con sinh năm một càng lúc càng đông.

Năm 1954, Đoàn Hùng Sơn ra đời.

Câu chuyện bây giờ nhân vật chính là do đứa con trai kể tiếp.

Trên tôi là ba chị, đều sinh năm một, và tôi là đứa con sinh năm một thứ tư, Nam bộ gọi là thằng năm. Đến lúc này, Ba tôi thấy mình đã tạo dựng được gia đình riêng đầm ấm, có sự nghiệp vững vàng nên nói với má là Ba đi về Long Xuyên tìm lại gia đình ruột thịt.

Thực sự ra là lúc trước khi đi lưu lạc qua Long Xuyên làm ăn, mẹ nuôi có chỉ cho Ba thấy Ba ruột của mình, làm nghề đạp xe lôi, nhưng hoàn cảnh lúc đó là chỉ lén nhìn và ghi nhớ địa điểm ngay tại chợ Long Xuyên.

Bây giờ tới chợ dò la thăm hỏi thì biết được là cha đã mất chỉ còn mẹ, chị gái bán chè tại chợ, và hai người em trai. Tất cả đều đã có gia đình riêng. Mẹ thì ở chung bên gia đình người chị. Cuộc trùng phùng cũng đầy nước mắt. Sau đó Ba đưa cả gia đình tôi về Long Xuyên để tìm nhận cội nguồn. Họ bên nội tôi là họ Nguyễn.

Tôi còn phải ở trong cái tổ nóng bức là cái gác xếp đầy rệp đó cho đến khi má tôi sanh thêm hai cô con gái nữa thì Ba tôi mới dành dụm đủ số tiền mua một căn nhà trệt trong hẻm trên đường Lê Đại Hành, ở phía sau nhà xác Chợ Rẫy với giá hai mươi lăm triệu. Đối với đám con sáu đứa chúng tôi, có được căn nhà riêng tương đối rộng rãi và mát mẻ hơn cái gác đó thật vô cùng vui sướng. Nhà gần tiệm nên Ba má cũng dễ dàng thu xếp việc nhà. Ba tôi rất chú trọng đến việc học của các con.

Đứa nào cũng đều cho đi học tại trường Mẫu giáo gần nhà trước khi vào lớp 1, để đám con đông đúc không có đi rong, chơi bời lêu lỏng mà Ba má do rất bận rộn kiếm sống nên không trông chừng quản lý được! Khi bắt đầu vào học Tiểu học rồi thì cứ đứa lớn là trông chừng đứa nhỏ.

Có nhà riêng rồi, Ba rước bà nội lên chơi, chụp hình chân dung, chụp lưu niệm với các con cháu. Rồi Ba rước lần lượt từng gia đình chú thím lên ở nhờ, cho đi học Bình dân học vụ. Biết chữ rồi, cả hai chú được Ba giúp đỡ học thi lấy bằng lái rồi mướn xe Taxi lái kiếm sống. Dần dần cả hai chú mua được nhà định cư ở Sài Gòn luôn.

Năm 1959, Ba tìm kiếm được thông tin về khu quy hoạch mới xây dựng cư xá Lữ Gia trên nền đất rừng cao su phía sau trường đua ngựa, cố gắng kiếm được phiếu mua nhà trả góp. Giá nhà là 70 triệu, trả trước 35, còn 35 sẽ trả góp trong vòng 5 năm, chia ra thu hằng tháng. Ba kể lại là để có 35 triệu đó, Ba phải cầm cố căn nhà cũ, gom hết tiết kiệm, kể cả các kiềng vàng cho mấy đứa con gái đeo dịp Tết mà vẫn không đủ. Tới hạn chót đóng tiền để lấy chìa khóa mà còn thiếu 1 triệu rưỡi, mượn đâu cũng không được, Má đành phải bán đi tất cả nữ trang yêu quý kỷ niệm từ ngày cưới của mình để về được nhà mới.

Tiền lương đi làm công ở tiệm hình không đủ để lo cho gánh nặng đàn con đông đúc, trả góp tiền nhà, nên mỗi chiều tối rời tiệm, Ba đạp xe đạp chở má đến chợ Thiếc mua chuối, đậu phọng, kẹo bánh, … treo nặng chịch trên xe đạp đem về nhà để các chị em chúng tôi ở nhà mỗi ngày bày hàng ra bán cho tụi học trò trường tư thục Thanh Nghị đối diện nhà kiếm thêm thu nhập.

Cực khổ là vậy nhưng Ba vẫn hết sức quan tâm đến việc học của các con. Về nhà mới là Ba mua ngay một tấm carton lớn, sơn đen, chọn bức tường ở gian nhà trước, đóng lên tấm bảng đen lớn. Ba bảo cho các con lúc bắt đầu học ở bậc Tiểu học là phải thi đậu vào trường công. Vì vậy Ba theo dõi bài vở và viết lên bảng các bài toán phải giải cho từng đứa trên bảng. Qua 1 ngày sau mà chưa động tới là sẽ bị ăn đòn!

Về Lữ Gia chưa tròn năm là đứa em thứ tám của tôi bị bệnh viêm màng não phải vào nhà thương Nhi Đồng. Má tôi phải nghỉ làm, vào bệnh viện nuôi em. Ba thì buổi sáng trước khi đi làm và buổi chiều rời khỏi tiệm liền hối hả đạp xe vào Nhi Đồng thăm con. Má tôi phải hoàn toàn tự lực xoay sở, còn tụi tôi thì tự quản và vẫn phải tiếp tục cái quán tại nhà để mưu sinh.

Sau gần ba tuần chạy chữa vô vọng, má tôi đành đưa con về trong tình trạng sống đời sống thực vật. Ba kê cái giường cá nhân ở ngay gần bếp, mua tấm nilon lớn cột phía dưới để dễ làm vệ sinh. Từ lúc trước, khi có nhà riêng ở Lê Đại Hành, má tôi đã nhận nuôi dùm người con gái thứ của người mẹ kế bị tật bệnh câm bẩm sinh, vừa để có người trông chừng nhà cửa và lo cơm nước cho lũ nhỏ. Bây giờ dì Châu này phải lo chăm sóc cho đứa em nằm bất động nên má tôi quyết định nghỉ làm, ở nhà tìm cách buôn bán thức ăn sáng, trưa ở ngay đầu hẻm, vừa trông chừng quán xuyến nhà cửa. Lúc này Ba Má đã có tổng cộng bảy người con.

Ba phải xin phép một ngày nghỉ để hì hục đóng một chiếc xe ba bánh đẩy hàng. Tôi là người trợ thủ đắc lực để hoàn thành cho nhanh trong ngày. Bây giờ mỗi ngày Ba phải thức khuya, dậy sớm để tiếp Má nấu nướng chuẩn bị thức ăn, rồi đẩy xe, dọn hàng cho vợ xong xuôi thì mới đi làm. Chỗ bán ở đầu hẻm nên bọn trẻ chúng tôi chạy ra vào trông chừng tiếp má, cho Má được về nhà lo việc nhà và nghỉ ngơi. Đến chiều Ba đạp xe đi chợ mua nguyên liệu cho ngày bán kế tiếp và về nhà tiếp dọn hàng vô. Tôi nhớ lại khi Má bán cơm tấm, Ba đi mua năm cái thau nhôm nhỏ cho năm đứa lớn ghi tên hẳn hoi, rồi mỗi ngày chia số tấm sẽ được nấu bán ra đều năm thau để nhặt sạn. Cuối ngày thu gom lại đổ vào nồi để khuya Má dậy nấu. Bây giờ khi nhớ đến Má (đã mất sáu năm rồi), ở nhà cũng mua tấm về nấu ăn nhưng không phải bị nhặt sạn khổ cực như chúng tôi lúc trước. Có lẽ các máy móc xay xát hiện đại đã sàng lọc tốt nên không còn hạt sạn nào.

Nhưng không vì bận rộn như vậy mà Ba tôi bỏ qua các bài toán trên bảng mỗi ngày cho đám con nhỏ. Chỉ khi đứa nào đậu vào trường Trung học công lập rồi thì là thoát nạn!

Năm 1961, Ba được tin Phòng nhiếp ảnh bộ Thông Tin tuyển người, Ba đăng ký dự thi. Phần chuyên môn kỹ thuật nhiếp ảnh do Nguyễn Cao Đàm chấm, và Ba được ông khen ngợi. Ba được tuyển vào làm công chức ở phòng ảnh, ông Đàm là sếp trực tiếp. Thời đó, lương được cộng phụ cấp con cái nên Ba lãnh lương cao so với đồng nghiệp, và cao hơn nhiều khi làm ở tiệm mà giờ giấc thì đúng tiêu chuẩn, không bị chủ bắt làm cho đến hết khách mới thôi, lại được thưởng khi vào các đợt cao điểm. Bây giờ Ba đã mua được chiếc xe gắn máy Goebel để đi làm.

Vời tính ham học, Ba nhanh chóng nắm được các dây chuyền in tráng hiện đại của phòng ảnh. Mỗi ngày, các phóng viên khắp nơi trong nước gởi phim phóng sự về rất nhiều và Ba phải tráng rửa thật nhanh để họ xem và chọn ảnh gửi đăng báo. Họ rất hài lòng vì Ba làm vừa nhanh, lại đẹp.

Khi đứa em út thứ 12 ra đời, nó bị bệnh tim bẩm sinh. Má phải nghỉ bán để vào Nhi Đồng nuôi bệnh cho đến vài tháng thì mất. Còn đứa bị sống đời thực vật thì vẫn còn là gánh nặng, nên sẵn dịp phòng ảnh cho thanh lý máy móc để nhập về dàn máy của Mỹ viện trợ, Ba mua về lập tiệm hình Mạnh trong khu Lữ Gia, và Má trông coi tiệm. Ngoài giờ làm ở sở Ba lo phần in rửa ảnh.

Công nghệ in rửa hiện đại của Mỹ có viện trợ qua một loại giấy ảnh đặc biệt. Khác với loại thông thường xưa nay là làm hiện hình dưới ánh đèn đỏ, nó lại dùng với một loại đèn đặc biệt màu vàng nhạt. Do đó nếu mở giấy này dưới ánh đèn đỏ thông thường dùng cho các phòng tối thì nó sẽ bị bắt sáng và bị xám đen. Ông Xây, một tay chạy hàng quân tiếp vụ từ các kho của Mỹ đã mừng húm khi tìm được Ba sử dụng được loại giấy này mà khắp Sài Gòn Chợ Lớn ông ta không bán được cho ai. Do cần đẩy đi nên Ba được mua với giá rất hời. Ba trang bị đèn đặc biệt này và làm hình được lời nhiều. Ba đi lãnh gia công hình rửa cho các tiệm hình vùng lân cận xung quanh. Mỗi chiều khi về nhà là Ba lo hình của tiệm nhà và các hình gia công đến tận khuya mới xong. Sáng ra là Ba chạy đi giao hình cho các tiệm.

Nhà tôi bây giờ đã thoát nghèo. Ba cho xây thêm lầu ở phía sau để thêm chỗ ở cho đàn con đông đúc, mua chiếc xe Honda mới đi làm. Ngoài các con gái học Gia Long thì đã có xe hiệu đoàn chở, chị Hai học Dược, chị Ba học Sư Phạm và tôi học lớp 11 Petrus Ký đều có chiếc Honda PC mới chạy đi học.

Chúng tôi, mười đứa con hiện tại, rất lấy làm tự hào về người cha mẫu mực, phấn đấu hết mình để tìm lấy cho mình một vị thế vững vàng từ hai bàn tay trắng, thân cô thế cô.

Ba đã cho chúng con một bài học sống động để luôn tự tin dấn thân trên đường đời. Chúng con rất hãnh diện về Ba.

Đoàn Hùng Sơn