AN-GIANG TRONG TIM TÔI

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG) 

Ðang lái xe chạy trên đường Tourist Drive vắng vẻ, tự nhiên tôi có cảm giác lòng mình se lại, không phải do sương hay gió lạnh của mùa đông Sydney, mà do cảnh vật nơi đây làm tôi xúc động. Không chạnh lòng sao được, khi cảnh trí nơi nầy gợi về con đường quen thuộc, nơi mà tôi thường đi lại ngày xưa, giờ đây nó lại như bừng hiện ra trước mắt tôi.

Song song với con lộ là con sông George River, bên kia sông lưa thưa ánh đèn trong nhà chiếu ra, lung linh trên mặt nước. Ôi nó nên thơ làm sao! Nó đưa tôi về lại con đường Lấp Vò, từ Sa Ðéc lên Long Xuyên, nhứt là một ngả khác, đó là đường Vĩnh Long đi Long Xuyên, qua ngả Cần Thơ về đêm.

Ai có đi ngang qua những đoạn đường nầy, trong những ngày gần Tết, đều không khỏi mê say thích thú khi nhìn bên kia sông, rải rác những mái nhà lá, thu mình dưới tàng cây ô môi trụi lá, chỉ có những chùm hoa đỏ thắm khoe sắc dưới ánh nắng xuân ấm áp, không thua gì hoa anh đào. Nó thơ mộng như bức tranh thủy mạc, đơn sơ nghèo nàn của quê hương tôi.

Lúc còn là tấm bé, tôi sống đời sống quê mùa, mộc mạc, chỉ biết rong chơi nào là bắt dế, xúc cá thia thia, thả diều, đá banh mớp ngoài đường, mặc dù mưa hay nắng, thấy mệt là chúng tôi cởi đồ nhảy xuống sông tắm, lặn lội hồn nhiên ngây thơ. Thật là vui thú!

Năm 1945, tôi theo gia đình tản cư về quê, theo chiến lược tiêu thổ kháng chiến, và sau đó đất nước chìm đắm trong cơn khói lửa. Tối đến là bị giới nghiêm. Tự do bị giới hạn. Chỉ có đêm 20/07/54, khi Hiệp định Genève được ký kết, là không có giới nghiêm, Tây đầm ăn nhậu, nhảy đầm ngoài bãi biển trước Grand Hôtel ở Vũng Tàu, lúc đó tôi đang nghỉ hè sau khi thi xong Brevet và Diplôme.

Cũng từ đó thanh bình ngắn ngủi (1954-1960) trở lại trên quê hương tôi. Tôi có dịp đi đây đi đó, ngao du tỉnh nầy sang tỉnh nọ, nhưng tuyệt nhiên không biết Long Xuyên và Châu Ðốc, vì sợ binh tướng ‘Hòa Hảo’. Nghe hai tiếng Hòa Hảo, là tôi nổi da gà, cộng thêm tiếng đồn Thất Sơn huyền bí có đạo đâm, đạo bay (1954-57), giết người ghê gớm quá, làm tôi sợ hãi, nên không hề dám bén gót tới đó.  Sợ rồi, cũng phải đến An-Giang. Ðến rồi, lại đi không đành! Vì người dân ở đây rất mộc mạc hiền lành, dễ thương.

Lúc đầu, tôi tới Long Xuyên hai lần trong chớp nhoáng: lần đám hỏi và lần rước dâu. Không có ngao du sơn thủy, tìm hiểu chi cả, bởi vì tôi vẫn còn sợ An-Giang.

Tháng Mười 1966, nhân theo Trung Ðoàn 13 sau đổi lại là16, Sư đoàn 9 hành quân ở Thất Sơn, Châu Ðốc, có dừng quân ở nhà máy nước, ban Quân y chúng tôi đi ăn trưa. Ăn xong tôi đi rảo một vòng, mới biết đây là chợ Long Xuyên. Tôi vội vàng ghé thăm ông bà nhạc, rồi mới đi lên Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng.

 

An-Giang hào khí

Miền Nam là đồng bằng sông Cửu Long, phát nguyên từ Tây Tạng và đổ ra biển Nam Hải bằng chín cửa, thật ra không hẳn là chín. Con số 9 là số hên, là huyền diệu, nó biểu tượng cho hào khí dưng cao lên tột đỉnh, của sự thịnh vượng.

Theo dịch lý, một bên là núi Bà Ðen ở Tây Ninh: tay long, một bên là núi Thất Sơn ở Châu Ðốc: tay hổ, mà cả hai cũng là giáo phái Cao Ðài và Hòa Hảo. Ðây là hai lực lượng chống Cộng mạnh mẽ nhứt Miền Nam.

 

An-Giang thơ mộng

Núi Thất Sơn

Cũng như sông Cửu Long, Thất Sơn không hẳn có bảy ngọn núi. Nó lạ và đẹp, vì giữa cánh đồng lúa lơ thơ, một vài cây thốt lốt đứng sừng sững, phất phơ tàu lá như đón chào người viễn khách, đàng sau lại lô nhô dẫy núi là đà, ngọn cao ngọn thấp xanh rì…Khi chiều tà, mặt trời từ từ khuất núi, đàn cò trắng lơ lửng bay nhởn nhơ trên không trung như không hề hay biết chiến trận đã xảy ra rất ác liệt nơi đây. Ôi cảnh vật thiên nhiên nên thơ và đẹp đẽ làm sao đó! Nó đẹp y như bức tranh Tàu!

Vườn hoa

Công viên Nguyễn Du nằm sát dòng sông An-Giang và hồ nước có cầu ván bắc qua sân quần vợt, rất là thơ mộng. Vườn hoa tuy nhỏ, nhưng thanh lịch và quyến rũ. Người ta cho nó là vườn Bồ rô Long Xuyên (Bồ rô là tiếng trại và nói tắt của chữ Jardin des Beaux jeux ở Sài Gòn). Ðây là nơi nghỉ mát yên vắng, thanh tịnh trong những buổi trưa hè oi bức, mà cũng là điểm hẹn của nam thanh nữ tú, hẹn hò, rủ nhau xuống đò qua cù lao chơi, hái mận, hái xoài, hái vú sữa, vân vân…Bờ sông được cẩn đá xanh ngay hàng thẳng lối. Hàng dừa xanh tươi trĩu nặng trái càng tăng thêm phần nên thơ. Cầu dẫn xuống bến đò lại không có tay vịn, nên nam nữ thân mật dìu nhau xuống, trông rất âu yếm…

Sông An-Giang

Dòng sông An-Giang tiếp nối sông Cửu Long, từ Miên qua Châu Ðốc, Long Xuyên xuống Cần Thơ, tiếp nối bằng sông Bassac rồi đổ ra biển Nam Hải.

Xin thử lắng nghe bài ca đặc sắc:

Dòng An-Giang của nhạc sĩ Anh Việt Thu:

‘Dòng An Giang sông sâu nước biếc

Dòng An Giang cây xanh lá thắm

Lã lướt về qua Thất Sơn,

Châu Ðốc dòng sông uốn quanh

Soi bóng Tiền Giang Cữu Long…

…Ðâu những người thôn nữ xinh duyên dáng chuyền tay dắt nhau múc mấy vầng trăng đổ đi.

Sông Ly Giang mệnh danh là Trung Hoa đệ nhứt phong thủy cảnh, đẹp tuyệt vời với lũy tre, đồi núi vôi tượng hình, y như bức tranh Tàu, mà mình tưởng là các họa sĩ vẽ bịa ra. Tuy nhiên nó có phần ảm đạm u buồn hơn nơi đây, bởi vì nó ở dưới thung lũng. Trái lại sông An-Giang tươi sáng, linh động, do ghe xuồng, ghe máy thương hồ tấp nập. Chính Nguyễn Ánh, trên bước đường lưu vong, đã ngợi khen nó rồi.

Dòng sông quanh co uốn khúc, nước chảy lờ đờ hiền hòa, khi ẩn khi hiện, như cô gái quê đang độ xuân thì, đầy e thẹn núp sau tàng cây mận oằn trái, những cây dừa là đà ngả xuống mé sông.  Vào mùa nước lũ, nước cuồn cuộn chảy xiết, nước đục ngầu như cô gái bất thường, nhảy múa tung tăng ngập lụt ruộng vườn, nhưng không quên mang theo lớp phù sa bồi đắp, bón phân vườn ruộng phì nhiêu xanh tươi, nuôi sống dân lành, được ấm no sung túc quanh năm.

An-Giang độc đáo

* Mắm

Châu Ðốc có loại mắm ruột ngon đáo để. Cá ăn không hết, nên khi mần cá người ta bỏ ruột, có người thấy tiếc mang về gài mắm, ăn rồi mới thấy rất là ngon.

Mắm thái cá lóc trộn với dưa đu đủ, gừng, tỏi, ớt, ăn cuốn với rau ghém, bún, rau thơm… chao ơi ! Nó ngon tuyệt vời và không làm sao diễn tả và quên cho được. Nếu có thêm bông điên điển nữa, thì nó còn ngon hơn, nhậu đến quắc cần câu luôn.

* Bông điên điển

Bông điên điển là bông loại cây thường trồng ngoài ruộng, bông màu vàng đậm tô thêm vẻ đẹp cho cánh đồng xanh phất phơ theo gió, như tà áo màu vàng tung bay của các cô thôn nữ e thẹn ngây thơ… Bông dùng để ăn, thân cây làm củi, rễ dễ mục sẽ là phân bón lúc cày đất.

Bông điên điển mà chiên bánh xèo, xào với tép hay luộc chấm tôm kho tàu, nó ngon đáo để. Nhưng ngon nhứt là bông điên điển nấu canh chua tôm, phải nói là tuyệt vời:

‘Ðiên điển đem nấu canh chua,

Thêm cặp cá nướng, đến vua cũng thèm.’ (Ca dao)

Như vậy quý vị đủ biết là bông điên điển nó ngon tới bực nào.

* Bông bí (rợ)

Bông bí rợ xào, nấu canh hay luộc chấm cá kho khô, ăn rất ngon mà lại đượm mùi đồng quê mộc mạc đầy thâm tình dễ thương:

Chàng ơi theo thiếp về vườn,

Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

(Ca dao)

Còn đây, tuy giản dị, đạm bạc nhưng mặn nồng tình lứa đôi nghèo nàn, nhưng đầy chân thật nơi thôn dã:

‘Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon’

(Ca dao)

 

An-Giang trù phú

“Ba phen quạ nói với diều

Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.’

(Ca dao)

(Có chỗ lại cho: Chiều chiều, quạ nói với diều…)

Long Xuyên có nhiều cù lao, như cù lao Ông Hổ (huyền thoại kể về chuyện ông cọp tu hành giúp người), hay Mỹ Hòa Hưng (quê của Tôn Ðức Thắng), cù lao Ông Chưởng, vân vân…  Những người dân nghèo ở đây cũng được sống thoải mái quanh năm. Ðến mùa cá dại, chỉ có vài ngày thôi, nếu chịu khó bơi xuồng vớt cá linh, cá rói, cá lòng tong từ sáng tới chiều, cũng có tới mấy giạ cá, đem về làm mắm, rồi gài dưa vô, là có nước mắm, con mắm, mắm dưa gang, mắm dưa đu đủ, để dành ăn quanh năm suốt tháng.

* Tát đìa

Vào dịp Tết, người ta thường tổ chức tát đìa rất vui. Trước khi tát, người ta bỏ loại cây thuốc cá vào đìa, quậy một hồi để cho nước đục, làm cho cá tôm ngộp phải nổi lên mặt nước mà bắt hay vớt. Sau đó, mới tát cạn nước. Cá lóc bắt được, rộng để dành ăn, hoặc xẻ khô, gài mắm, nướng trui, quí nhứt vẫn là cái đùm ruột, có người nhậu cả xị đế.

* Dỡ chà

Không thể nào quên được buổi dỡ chà ở cồn Phó Quế, ngang sân tennis vào buổi chiều chủ nhật năm xưa. Sau khi đánh banh xong, tôi đi đò qua sông xem dỡ chà. Rất đông người đứng bao quanh trên bờ vừa xem, vừa la ó inh ỏi. Dưới sông, ghe xuồng bơi xung quanh kêu gọi nhau eo éo ôm xồm.     Thật ra họ đã bắt đầu từ sáng sớm, giăng lưới, dỡ mấy cây chà ra, những người thanh niên trai trẻ lặn xuống túm đáy lại, rồi từ từ siết lưới vào. Thấy cá phóng bay qua lưới, tìm tự do để thoát chết, tôi ham quá, nhảy đại vô trong lưới để bắt cá, nhưng rồi xanh mặt, nhảy lên bờ thiếu điều… không kịp. Không phải gặp rắn hay cá sấu. Quí vị có biết tại sao không?

Ôi cha! Cá lòng tong nó… rỉa! nó rỉa! Dữ quá !!!.

Tôm càng, cá lóc, cá he nghệ vân vân… quá nhiều nên người nhà cân bán cho ghe cá để kịp đem xuống chợ Cần Thơ bán lại.

Người bà con bên bà xã của tôi, bèn nướng trui tôm, cá lóc, bày tiệc ăn ngon và vui đáo để. Giờ đây không biết làm sao mà có những buổi ăn ấm cúng tươi ngon nầy nữa.

* Ðồng ruộng

Ðồng ruộng thì phì nhiêu, cò bay thẳng cánh. Nơi thì lúa chín vàng nặng trĩu, nơi thì mạ hãy còn xanh non phơn phớt, bởi vì nhà nông không trồng lúa sạ, mà trồng lúa thần nông một năm hai hay ba mùa, nhờ họ biết canh tân nghề nông bằng máy móc. Ngoài ra, họ còn trồng hoa mầu khác, bán qua các tỉnh lân cận hay chở lên Sàigòn.

* Nhà cửa

Nhà cửa khang trang, nhưng nó khác hơn quê tôi ở Vĩnh Long, vì phần nhiều là nhà sàn như ở Brisbane, Queensland, xung quanh là nước hay ruộng. Ði sâu vào miệt vườn, thì phải nói là có đủ loại nhà như nhà lá, nhà ngói, nhà gạch, villa với cây kiểng xưa tuyệt mỹ, vườn tược còn nguyên trinh. Nhà nào cũng có vườn cây ăn trái, trâu bò, máy cày, ghe máy đuôi tôm còn gọi là bo bo.

Xung quanh chợ, phố xá được dựng lên như nấm, tô thêm vẻ mỹ miều và sự phát triển nông nghiệp cho thành phố, còn có tượng đài cô gái ôm bó lúa Thần nông bằng đồng, đã bị phá ngay sau ngày 30/04/75.

So với các tỉnh khác, phải công tâm mà nói, An Giang không có dấu vết của chiến tranh tàn phá, ngay cả vào Tết Mậu Thân 1968. Ðây là một tỉnh hoàn toàn ‘thanh bình’ trong một đất nước bị chiến tranh cốt nhục tương tàn dày xéo.

Ðặc biệt nhứt là Long Xuyên có Quân Y Viện lớn, rất khang trang tại đồn ‘san đá’, nhờ sự khéo léo của Y sĩ Trung tá Trương Ngọc  Tích. Trung Tâm Y Tế  với Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia cùng Trường Cán sự và Tá Viên Ðiều Dưỡng, là công lao của bác sĩ Huỳnh Trung Nhì.

Tất cả chuyện vui buồn của tôi, gói ghém trong hai bịnh viện nầy. Chính nơi đây, tôi được các đàn anh và bạn bè thương yêu hướng dẫn như: bác sĩ Nguyễn Nguyên, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Bội Hoàn, Huỳnh Ngọc Phương, Phan Văn Chất, Trần Phước Thọ, Châu văn Tương, Nguyễn Vĩnh Bình, vân vân…

* Kỹ nghệ

Miền Bắc nổi tiếng vớiù lụa Hà Ðông, nhưng không ai ngờ rằng tại Châu Ðốc, có một nền kỹ nghệ đặc sắc: Ðó là lụa Tân Châu. Lụa nầy nhuộm bằng một loại trái cây đặc sản, trái mặc nưa. Nhờ đó mà lụa được mịn, óng ánh mà màu sắc nâu nâu không hề phai. Nó rất được dân địa phương và các vùng lân cận ưa dùng.

* Vía Bà (Châu Ðốc)

Hằng năm, đến ngày 23 và 24 tháng Tư, thường có lễ hội vía Bà Chúa Xứ. Trong hai ngày nầy, dân chúng tứ phương cả từ Saigon, miền Trung, miền Bắc, người ta bao xe đò đến Châu Đốc dự lễ. Kèn trống vui nhộn, mọi người ăn mặc tươm tất. Riêng giới đồng bóng, hay dân lại cái ăn mặc rất sặc sỡ, đủ kiểu đủ cách, họ múa hát tự nhiên. Có người ngồi kiệu tống ôn, lấy cây lẹm tức cây kim dài 20 cm để may bao chỉ xanh, đâm xuyên má, kéo qua kéo lại mà không rên la và không chảy máu. Những người đứng xem cảm thấy rất rùng rợn, nhưng cũng rất thích thú.

Trong miếu đông nghẹt người, chen chân không lọt. Nóng bức và khói hương nghi ngút, mù mịt khó thở, vậy mà người ta cứ ùa vào vái lạy, dưng cúng Bà vì Bà rất linh thiêng: nào là hàng vải, khăn lụa, nào là vàng vòng, nào là tiền bạc. Người ta vay tiền từ Bà và cầu mong Bà giúp cho mần ăn khá, sang năm họ đem tiền hoàn trả lại cho Bà.

* Lễ Ðức Thầy

Hằng năm vào ngày 18 tháng Năm Âm lịch, có lễ kỷ niệm ngày thành lập Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo. Bổn đạo khắp nơi qui tựu về Thánh địa dự lễ. Mọi người đi lại nhộn nhịp vui tươi. Kinh giảng được đọc khắp nơi, nhắc nhở lời giáo huấn của Ðức Thầy.

Ðặc biệt ở đây không những múa kỳ lân rất vui nhộn mà lại có múa long mã. Trẻ con ùa nhau chạy theo coi. Ðây là con thú mình rồng, đuôi ngựa, có kiếm thư trên lưng (cây gươm và quyển sách). Nó không nhiều màu sắc, nhưng rất uyển chuyển, tượng trưng cho nhân ái, hạnh phúc và thái bình:

‘Kỳ lân xuất thế, minh vương ra đời’  (Sấm giảng)

Sau Tết Mậu Thân, tôi được đổi về Quân Y Viện Long Xuyên làm việc, sau chuyển qua Trung Tâm Y Tế Long Xuyên. Có dịp rãnh rổi, tôi ngao du đó đây, say mê với cây trái ngon ngọt, ruộng vườn bát ngát xanh tươi. Tôi mê say cảnh trí thiên nhiên tuyệt vời nầy. Mười mấy năm sống trong thanh bình, an cư lạc nghiệp, nơi đây đã cho tôi biết bao nhiêu kỷ niệm vàng son, không bao giờ quên được.

Người dân chất phác, hiền hòa sống tôn sùng giáo lý ‘Hòa Hảo.’ Họ không hung bạo với bất cứ ai, nhưng họ chỉ oán hận, không đội trời chung với Cộng Sản vô thần, đã hãm hại Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ của họ. Họ sống đời sống sung túc, ấm no trong thanh bình, tự do phát huy đạo pháp và tự do đi lại.

 Chính vì vậy mà tôi đâm ra thương mến tỉnh An-Giang, thương mái nhà, thương dòng sông, thương người con gái quê tắm gội giặt giụa bên dòng sông, theo con nước lớn ròng:

‘Cây trên rừng hóa kiểng,

Cá dưới biển hóa long,

Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong,

Anh đi lục tỉnh giáp vòng,

Ðến đây trời khiến đem lòng thương em.

(Ca dao)

An giang trong tim toi 01

(Công viên Nguyễn Du)

 Ðể rồi:

‘Sông Cửu Long chín cửa hai dòng,

Người thương anh vô số, nhưng anh chỉ một lòng với em’                                              (Ca dao)

Hình ảnh thân thương đó đã bị ngày 30/04/75 cướp mất và kẻ tha phương nầy cũng tưởng chừng như mất nó luôn. Nay có còn chăng, thì An Giang chỉ còn trong tâm khảm mà thôi.