Uoc mo va hien thuc – Lam Vinh The

Tôi đã theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại Trường Trung Học Petrus Ký, và suốt 3 năm (1960-1963) của bậc Đại Học tại Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Khóa 3, Ban Sử Địa.  Trong khoảng thời gian 10 năm đó, cũng như bao nhiêu người khác, tôi đã từng dệt nhiều Mơ Ước.  Mơ ước được trở thành một công dân tốt để phục vụ cho đất nước và xã hội.  Mơ ước được làm một người thầy tốt đào tạo được những học sinh ngoan, giỏi, và có lòng với quê hương.  Mơ ước được tiếp tục đi trọn con đường làm một nhà giáo mà mình đã tự chọn.  Sau khi tốt nghiệp Trường ĐHSPSG năm 1963 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2006, trong suốt thời gian dài 43 năm trời, tôi vẫn tiếp tục những Mơ Ước tha thiết này. Bài viết này là một cố gắng ghi lại những Ước Mơ mà tôi đã từng xây dựng và mong muốn và những Hiện Thực mà tôi đã từng chứng kiến một cách bất lực trong khoảng thời gian hơn 40 năm đó.

Tại Việt Nam

Chuyện Dạy Học

Sau khi tốt nghiệp Trường ĐHSPSG năm 1963, tôi đã dạy học tại Việt Nam trong 8 năm, và làm công tác thư viện trong 10 năm, cho đến khi ra khỏi nước đi đinh cư tại Canada vào năm 1981.

Tôi đã dạy môn Sử Địa tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa trong 3 năm (1963-1966), và đã dạy môn Kiến Thức Xã Hội tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ) trong 5 năm (1966-1971) trước khi, do một tình cờ của định mệnh [1] tôi chuyển sang làm công tác thư viện vào một ngày trong năm học 1970-1971.

Chuyện làm công tác thư viện

Ngày hôm đó, một buổi sáng, tôi vào thư viện để chức mừng một người bạn, anh Nguyễn Ứng Long, mà từ ngày hôm trước, cả trường đếu đã được tin anh vừa được chinh phủ cử làm Giám Đốc Nha Văn Khố và Thư Viện Quốc Gia, phụ trách cả 2 ngành văn khố và thư viện cho cả nước.  Tôi thật tâm nghĩ là anh xứng đáng với chức vụ mới đó vì anh là một trong những người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) từ một trường đại học của Hoa Kỳ.  Chuyện bất ngờ đã xảy ra là sau khi nói chuyện được độ 5 phút, đột nhiên anh Long đề nghị tôi vào thư viện thay thế anh để anh có thể yên tâm rời trường đi nhận nhiệm vụ mới. Cho đến ngày hôm nay tôi vẫn không hiểu tại sao lúc đó tôi nhận lời đề nghị của anh ngay, không một chút đắn đo do dự.  Vài tuần lễ sau, Giáo Sư Hiệu Trưởng Phạm Văn Quảng (tốt nghiệp ĐHSPSG, Ban Anh Văn, Khóa 1, 1961, và Cao Hoc Giáo Dục – Master of Education – từ Đại Học Ohio của Mỹ năm 1965) cử tôi đi học một khóa huấn luyện căn bản thư viện học tại Sài Gòn, được tổ chức bởi Cơ Quan Phát Triển Thư Viện (Library Development Authority = LDA), một đơn vị của Cơ Quan Viện Trợ Mỹ (United States Agency for International Development = USAID).  Sau khóa huấn luyện, người đứng đầu LDA là Ông Cố Vấn John Lee Hafenrichter (mà về sau bọn tôi đều gọi tắt cho dễ nhớ là Ông Haf) đã nhiều lần lên viếng thăm thư viện của Trường KMTĐ.  Ông rất hài lòng trước những phát triên mà tôi đã thực hiện cho thư viện, và quyết định đề nghị và được USAID chấp thuận cấp cho tôi một học bổng đi du học Hoa Kỳ trong 2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, thuộc Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University = SLSSU), tại thành phố Syracuse, tiểu bang New York. 

Du Học Hoa Kỳ Hai Năm (1971-1973)

Trong thời gian 2 năm này, tôi đã có được một may mắn lớn là theo học và được hướng dẫn tận tình bởi Ân Sư Pauline Atherton (về sau, khi đã lập gia đình với đồng nghiệp cùng trường là Giáo Sư John Cochrane, Bà đổi tên thành Pauline Atherton Cochrane).[2]

Tôi đã học với Ân Sư 3 giáo trình trong 12 giáo trình đòi hỏi của chương trình cao học của Trường SLSSU:

• LSC 503: Organization of Information Resources

• LSC 630: Advanced Topics in Organization of Information Resources

• LSC 998: Readings and Research in Library Science

Cuối tháng 5-1973, tôi hoàn tất mỹ mãn tất cả 12 giáo trình đòi hỏi đó với điểm số rất cao (9 giáo trình đạt điểm A, và 3 giáo trình đạt điểm B), và được xếp vào nhóm sinh viên ngoại quốc ưu tú (outstanding foreign students).

Dưới đây là phóng ảnh của Bảng Điểm (Transcript) và bằng MLS của Trường SLSSU do Phòng Học Vụ (Registrar) của Viện Đại Học Syracuse cung cấp:

Bàng Điểm (Transcript) do Phòng Học Vụ (Registrar) Đại Học Syracuse cung cấp

Bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science  = MLS) của Đại Học Syracuse

Hội Thư Viện Việt Nam

Đầu năm 1974, tôi đã ra ứng cử và đã đắc cử chức vụ Chủ Tích Ban Chấp Hành của Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN):

Danh Sách Ban Chấp Hành Hội Thư Viện Việt Nam – Nhiệm Kỳ 1974

Ban Chấp Hành HTVVN gồm 9a số là các anh chị em trẻ tuổi, chỉ trên dưới 30 tuổi thôi, có nghiệp vụ cao và có tinh thân hoạt động bất vụ lợi, đã đề ra một chương trinh hoạt đọng rất tích cực như sau:[3]

• Xuất bản Thư Viện Tập San (TVTS)như một quý san, ba tháng ra một số, một năm đủ 4 số; đồng thời cũng xuất bản tờ Bản Tin (BT), mỗi tháng ra một số, giữa các số của TVTS

• Tổ chức 2 Khóa Huấn Luyện Căn Bản Thư Viện Học dành cho hội viên

• Tổ chức một Đại Hội Hè để thảo luận một số vấn đề chuyên môn và nội bộ của Hội

• Chấn chỉnh và kiện toàn tình trạng hội viên của Hội

• Ấn hành một số tài liệu chuyên môn

Để có phương tiện tài chánh thực hiện các dự án công tác này, tôi, với tư cách Chủ Tịch HTVVN, đã đích thân đi gặp ông Julio Andrews, Chủ Tịch Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (President, The Asia Foundation) để xin tài trợ.  Ông Andrews đã tiếp tôi rất niềm nở và đồng ý tài trợ phần lớn các dự án.  Số tiền tài trợ lên đến trên 2 triệu đồng, một số tiền rất lớn lúc đó.

Nhờ sự tài trợ lớn lao này, HTVVN đã thực hiện được hầu hết các dự án công tác đã đề ra, đặc biệt là 2 khóa huấn luyện.  Các buôi lễ khai giảng và mãn khóa đều đã được tổ chức rất long trọng tại Đại Giảng Đường 19 của Viện Đại Học Vạn Hạnh dưới sự đồng chủ tọa của Thượng Tọa Thích Mãn Giác, Phó Viện Trưởng, Viện Đại Học Vạn Hạnh, và Giáo Sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa:

Giáo Sư Bùi Xuân Bào đọc diễn văn tại Lễ Khai Giảng Khóa Huấn Luyện

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn,trao Chứng Chỉ Tốt Nghiệp cho Học viên Khóa Huấn Luyện

Tiệc trà sau Lễ Bế Giảng Khóa Huấn Luyện tại Câu Lạc Bộ của Viện Đại Học Vạn Hạnh Ban Thư Viện Học

Được chứng kiến tận mắt khả năng chuyên môn cao và tinh thần hoạt động bất vụ lợi của anh chị em trong Ban Chấp Hành của HTVVN, hoàn toàn phù hợp với đường lối giáo dục của Viện Đại Học Vạn Hạnh, Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viện Trưởng, Viện Đại Học Vạn Hạnh, quyết định thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH) cho Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, lúc đó Khoa Trưởng là Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, và cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên cho BTVH.

BTVH đã khi giảng học kỳ đầu tiên vào đầu năm học 1974-1975 với 70 sinh viên và với các giáo trình và giảng viên như sau:[4]

Học Kỳ 1:

• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I

• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện

• Ông Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu

• Ông Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện

Học Kỳ 2:

• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II

• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn

• Ông Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát

• Ông Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I

Học Kỳ 2 khởi sự vào khoảng tháng 3-1975 đã không bao giờ được kết thúc vì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975 chấm dứt sự hiện hữu của VNCH.  BTVH của Đại Học Vạn Hạnh đã bị chết non, chưa đào tạo được một vị Cử Nhân Thư Viện Học nào cho VNCH cả.

Tại Canada

Tại Montréal

Sau 6 năm (1975-1981) sống rất khó khăn dưới chế độ Cộng Sản, tôi đã may mắn đưa được gia đình tôi rời Việt Nam đi định cư tại Canada do Anh Tư tôi [5] bảo lãnh.  Gia đình tôi đặt chân xuống phi trường Mirabel, Montréal, vào buổi chiều ngày 23-9-1981

Người dân cũng như chính phủ Québec rất kỳ thị người Anh và tiếng Anh.  Vì thế nên, trong thời gian hơn nửa năm sống tại Montréal, tôi không thể tìm được viêc làm chuyên môn trong ngành thư viện, và đành phải chấp nhận làm một công việc lao động khuân vác trong một kho hàng trong gần 6 tháng cho đến khi tìm được một việc làm hợp đồng (contract job) trong thư viện của Bộ Canh Nông tại thủ đô Ottawa, vào ngày 1-4-1982.

Tại Ottawa

Công việc làm tại đây là chuyển đổi các thẻ thư mục đã được đánh máy (typed catalog cards) sang dạng ký lục thư tịch điện tử (electronic bibliographic records) cho bộ sưu tập tạp chí (journal collection) rất lớn (lên đến 30.000 nhan đề) của thư viện.

Bộ Canh Nông đã lên kế hoạch thực hiện dự án công tác này trong 5 năm (1980-1985).  Khi tôi nhận việc thì là bắt đầu của năm thứ ba, nên tôi yên tâm làm việc vì cứ nghĩ là còn có thể ký hợp đồng thêm 2 năm nữa, Nhưng quả thật đúng như Ông Bà mình thường dạy con cháu là: ”Chuyện đời khó nói.  Ai mà biết trước được chuyện tương lai.”  Mới làm việc được nửa năm thì tôi được thông báo là Bộ Canh Nông đã bị cắt ngân sách và dụ án công tác này phải chấm dứt vào cuối tài khóa liên bang 1982-1983, tức là vào ngày 31-3-1983.

Sau đó, tôi đã trải qua hơn 1 năm lận đận, làm toàn những công việc hợp đồng ngắn hạn, khi thì 6 tháng, lúc thì 3 tháng, thâm chí có một lần chỉ có tháng thôi, thay thế một nhân viên thư viện bị thương nhẹ trong một tai nạn xe cộ, phải nằm bệnh viện 4 tuần lễ.  Việc này chỉ chấm dứt khi tôi tìm được việc làm ổn định (stable), thường trực (permannt), toàn thời gian (full-time), và lương cao (high-salaried) trong thư viện của một cơ quan liên bang chuyên về thông tin an toàn lao động có tên là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS) = Centre canadine d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST) tại thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, vào tháng 9-1984.

Tại Hamilon

Tôi đã làm việc cho CCOHS trong khoảng 8 năm và trải qua các chức vụ như sau:

• Inventory Cataloguer: 1984-1985

• Manager, Online Catalogue: 1985-1986

• Manager, Database Development Department: 1986-1988

• Manager, Database and Information Resource Development Department: 1998-1992

CCOHS được thành lập từ năm 1979 khi Đảng Tự Do (Liberal Party = Parti libéral), chủ trương ủng hộ giới công nhân, cầm quyền; nay là n8m 1992, Đảng Bảo Thủ (Conservative Party = Parti conservateur), chủ trương ủng hộ giới chủ nhân, đã chiếm được chính quyền.  CCOHS trở thành một cái gai trong mắt họ, và họ quyết tâm phá hoại CCOHS.  Chuyện đầu tiên họ làm là cách chức ngay lập tức Tiến Sĩ Gordon Atherley, President của CCOHS, một chuyên gia về an toàn lao động hàng đầu của cả thế giới, và thay vào dó họ cử một ông Trung Tướng (tướng 3 sao) đã về hưu, tên Arthur St.-Aubin, không biết gì hết về an toàn lao động.  Ông St.-Aubin làm áp lực để cho các vị Giám Đốc (Directors) phải từ chức, rời khỏi CCOHS.   Kế tiếp,ông cho nghỉ việc tất cả các vị Trưởng Ban (Managers), và tôi, Manager, Database and Information Resource Development Department, bị cho nghỉ việc vào ngày 30-9-1992.

Năm Năm Trời Lận Đận (1992-1997)

Sau khi bị mất việc tại CCOHS, tôi lại đã trải qua một khoảng thời gian 5 năm trời (1992-1997) lận đận, làm toàn những việc hơp đồng tại các thư viện của các cơ quan của chính phủ liên bang tại thủ đô Ottawa như Bộ Sắc Tộc và Bắc Vụ (Department of Indian and Northern Affairs), Bộ Tư Pháp (Department of the Solicitor General), Tối Cao Pháp Viện của Canada (The Supreme Court of Canda). 

Đầu tháng-1997, một hôm đọc báo The Globe and Mail, tờ nhật báo lớn nhứt của Canada, tôi thấy có một thông cáo tuyển người cho chức vu Trưởng Ban Biên Mục (Magager, Cataloguing Department) của Thư Viên của Trường Đại Học Saskatchewan, tai thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan, trong Vùng Đại Bình Nguyên của Canada (Canada’s Grande Prairie).

Tôi nộp đơn ngay xin dự tuyển, được phỏng vấn vào ngày 2-6-1997.  Đầu tháng 8-1997, tôi nhận được điện thoại của ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện, thông báo là tôi đã được nhận, và tôi đã chính thưc bắt đầu làm việc cho Thư Viện của Đại Hoc Saskatchewan từ ngày 2-9-1997, được xếp vào ngạch Librarian 3, với thời gian thử thách (probation period) là 3 năm (1997-2000).   

Làm Việc Cho Thư Viện Đại Học Saskatchewan

            Đây là cái may mắn lớn cuối cùng trong đời đi làm việc của tôi, vì đây chính là công việc làm mà tôi đã mong ước nhứt từ khi đặt chân đến Canada từ năm 1981: Trưởng Ban Biên Mục Cho Một Thư Viện Đại Học, và nay Mơ Ước đó đã trở thành Sự Thật (nói theo người Anh-Mỹ là: A Dream Come True).

            Ban Biên Mục lúc đó gồm có tất cả 22 nhân viên như sau:

• 2 Librarian 4 (bậc cao nhứt của Librarin), làm việc toàn thời gian (full-time)

• 1 Librarian 3, làm việc bán thời gian (part-time)

• 19 nhân viên thư viện trung cấp (Library Assistant = LA) gồm:

–      4 Tổ Trưởng (Team Leaders) là LA-5 (cấp cao nhứt của LA)

–      15 nhân viên còn lại đều là LA-4 hoặc LA-3

Một đa số rất lớn các nhân viên trung cấp đều thuộc loại nghề dạy nghề, sống lâu lên lão làng, không hề được đào tạo chính quy.

Sau khi đã nắm vững quá trình đào tạo của nhân viên, tôi đã soạn thảo một chương trình huấn luyện 4 ngày cho họ và trình lên Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC), và được LMC chấp thuận và cho phép thực hiện.  Chương trìng có chi tiết như sau:[6]

  • Ngày thứ nhứt (27-4-1998):
    • Phần Một: Các Nguyên Tắc Về Biên Mục
      • Các chức năng của Thư Mục
        • Các mục tiêu của Thư mục: Giúp tìm tài liệu và Giúp tập hợp tài liệu
        • Tác động của các đổi mới về công nghệ đối với Thư mục
        • Phát triển của Thư mục: từ thẻ đến Thư mục trực tuyến trên Web
      • Tính đồng nhất của các Điểm Truy Cập
        • Các mối quan hệ về thư tịch
        • Lý do: Chức năng tập hợp tài liệu của Thư mục
        • Thực hiện: Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn
      • Cơ cấu truy cập theo chủ đề
        • Tính hai mặt của truy cập theo chủ đề
        • Truy cập theo đường thẳng: Số phân loại
        • Truy cập đa chiều: Tiêu đề chủ đề
        • Tiềm năng tăng cường truy cập theo chủ đề: Bảng Mục Lục của sách
    • Phần Hai: Tầm quan trọng của Mô tả
      • Các Nguyên tắc về Mô tả
        • Tài liệu đang nắm trong tay
        • Các nguồn thông tin
        • Tiêu chuẩn quốc tế về mô tả ISBD (International Standard Bibliographic Description)
      • Tổ chức việc mô tả
        • Các vùng mô tả
        • Thứ tự mô tả
        • Mô tả trực tuyến: Khổ mẫu MARC
      • Thứ tự quan trọng của các đơn vị mô tả
        • Nhan đề
        • Tùng thư
        • Ấn bản
        • Năm xuất bản
      • Tầm quan trọng của ghi chú
        • Lý do: Tại sao và khi nào làm ghi chú
        • Cơ cấu của ghi chú: Cách làm và thứ tự
    • Phần Ba: Các điểm truy cập
      • Điểm truy cập chính và phụ
        • Tác giả hay Nhan đề là Điểm truy cập chính
        • Điểm truy cập chính trong môi trường trực tuyến
        • Các điểm truy cập phụ trong chức năng Tìm tài liệu và Tập hợp tài liệu
      • Các điểm truy cập theo tên
        • Tên cá nhân: Tên tiếng Anh và Tên các ngôn ngữ khác
        • Tên tập thể: Hội đoàn, Chính phủ, Hội nghị
      • Các điểm truy cập theo nhan đề
        • Các hình thức khác nhau của nhan đề
        • Nhan đề đồng nhất
      • Các điểm truy cập theo tùng thư
        • Tùng thư được ghi
        • Tùng thư không được ghi
        • Tùng thư ghi một cách khác
      • Các điểm truy cập theo chủ đề
        • Các số phân loại
        • Các tiêu đề chủ đề
      • Các điểm truy cập khác
        • Các số tiêu chuẩn (ISBN, ISSN)
        • Các loại số khác
      • Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn
        • Các hệ thống: Tên và Chủ Đề
        • Các thủ tục: Thủ công và trực tuyến
        • Hệ thống sẽ trang bị: LTI (Library Technologies, Inc.)
  • Ngày thứ nhì (28-4-1998)
    • Phần Bốn: Số phân loại và Tiêu đề chủ đề
      • Hệ thống Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
        • Lịch sử
        • Cấu trúc
        • Các bảng phân loại
        • Các bảng cập nhật
        • Chính sách của Thư viện Đại Học Saskatchewan về Văn Học và Luật
  • Ngày thứ ba (29-4-1998)
    • Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
      • Cơ cấu
      • Các tiểu phân mục
      • Các bảng cập nhật
      • Kiểm soát tiêu đề chuẩn
    • Hệ thống phân loại Dewey [5]
      • Lịch sử
      • Cơ cấu
      • Phân mục 370: Giáo Dục
  • Ngày thứ tư (30-4-1998)
    • Phần Năm: Các dụng cụ làm việc
      • Cataloger’s Desktop
        • Khổ mẫu USMARC
        • Cẩm nang Biên mục chủ đề (Subject Cataloguing Manual)
        • Giải thích các Quy tắc Biên mục của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (LC Rule Interpretations)
      • Classification Plus
        • Các Bảng Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
        • Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
      • Các dụng cụ có trên Internet
        • WebCATS
        • TPOT
        • Cẩm nang biên mục các tài liệu ngoại quốc
        • Cổng LC Z39-50

Vào cuối Khóa huấn luyện, các học viên đã được yêu cầu điền vào Bảng Đánh Giá Khóa Học (Evaluation Form).  Đa số học viên đã đánh giá khóa học từ Rất Tốt đến Xuất Sắc (from Very Good to Excellent).

Thăng Cấp Tai Đại Học Saskatchewan

Đàu năm 2000, tôi hoàn tất tốt đẹp 3 năm thử thách, và được Đại Học nhận cho vào biên chế thường trực (Permanent Status, hay cũng gọi là Tenure) chính thức từ ngày 1-7-2000, với văn thư của Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ (Vice-President, Academic Affairs) với lời lẽ như sau:[7]

“The University Review Committee has concluded its consideration of recommendations for tenure.  I am pleased to advise you that the Committee voted to recommend to the Board of Governors that you be granted permanent status effective 1 July 2000.

The award of tenure is an extremely important step for both you and the university.  In addition to being an important stage in your own career development, the awarding of tenure represents the University’s long-term commitment to you in recognition of the satisfactory performance of your duties during your first years at the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học đã xem xét khuyến cáo cho ông vào biên chế thường trực và đã có kết luận.  Tôi rất vui mừng thông báo cho ông là Ủy Ban đã bỏ phiếu tán thành và sẽ khuyến cáo lên Hội Đồng Quản Trị của Viện Đại Học để ông được vào biên chế thường trực kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2000.  Việc ban tặng quy chế thường trực là một bước tiến vô cùng quan trọng đối với ông cũng như đối với Viên Đại Học.  Ngoài việc thể hiện một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của ông, việc ban tặng đó còn thể hiện sự cam kết lâu dài của Viện Đại Học đối với ông qua việc công nhận ông đã công tác tốt trong những năm đầu tiên tại Đại Học Saskatchewan,”)    

Mấy tuần lễ sau đó, tôi được LMC thăng cấp lên làm Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division), phụ trách luôn cả 2 Ban là Ban Biên Mục mà tôi đang làm Trưởng Ban, và Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department) chuyên lo việc mua sắm sách báo tài liệu cho thư viện của trường và trao đổi sách báo tài liệu với các thư viện đại học bạn.

Và với chức vụ mới này, tôi cũng đã đương nhiên trở thành một nhân viên thường trực của LMC luôn.

Thăng Cấp Lên Librarian 4

Đầu tháng 9-2000, đã xong thời gian 3 năm thử thách, và với sự hỗ trợ mạnh mẽ cũa ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện, tôi đã nộp đơn lện Viện Đại Học xin cứu xét cho tội được thăng cấp lên Librarian 4.  Vụ việc này kéo dài hơn 6 tháng và đã là một kinh nghiệm hết sức cay đắng cho tôi.  Câu chuyện như sau: mặc dù tôi đã đáp ứng hết tát cả những đòi hỏi về tiêu chuẩn thăng cấp ghi rõ trong tài liệu University Library Standards for Promotion and Permanent Status (Các Tiêu Chuẩn về Thăng Cấp và Biên Chế Thường Trực của Thư Viện Đại Học), đã được Viện Đại Học phê chưẩn từ ngày 21-4-1992, một nhóm Librarian 4 trong Thư Viện vẫn chống đối gay gắt do bản chất xấu là ganh tị, nhỏ nhen, rất là unprofessional.  Tiến Sĩ Michael Atkinson rất bực mình, và đã đơn phương quyết định cho tôi thăng cấp lên Librarian 4.  Ngày 20-3-2001, tôi nhận được văn thư chính thức của Ông với lời lẽ như sau:[8]

“On behalf of the University Review Committee, I am pleased to inform you that the Committee has recommended to the Board of Governors that you be promoted to the rank of Librarian IV effective July 1, 2002.  Congratulations!  You should receive a letter from the Board of Governors later this month.

The documentation provided supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date.  Our recommendation to the Board of Governors is a vote of confidence in you as a senior member of the university community and in your continuing contribution to the academic life and vitality of the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thay mặt Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học, tôi vui mừng báo tin cho ông là Ủy Ban đã khuyến cáo với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học để ông được thăng cấp lên Quản Thủ Thư Viện Bậc IV kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2002.  Xin chúc mừng ông!  Ông sẽ nhận được văn thư của Hội Đồng Quản Trị vào cuối tháng này.  Hồ sơ đã được đệ trình để hỗ trợ cho trường hợp của ông đã chứng minh rằng các đồng nghiệp của ông tại trường cũng như từ khắp Canada, và cà quốc tế, đã công nhận những thành quả mà ông đã đạt được cho đến ngày hôm nay.  Khuyến cáo của chúng tôi với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học là một lá phiếu xác nhận sự tin tưởng của chúng tôi đối với ông với tư cách là một thành viên cao cấp của cộng đồng đại học, và đối với sự tiếp tục đóng góp của ông cho sự nghiệp và sức sống của Đại Học Saskatchewan.”)

Nghĩ Phép Đi Làm Công Tác Nghiên Cứu (Sabbatical Leave)

Giống như tât cả các đại học tại Bắc Mỹ, Đại Học Saskatchewan cũng có quy chế cho phép các giáo sư được nghỉ phep dài hạn để đi làm công tác nghiên cứu gọi là Sabbatical Leave: 1) Nghỉ 6 tháng và hưởng 100% lương sau khi đã làm việc được 3 năm; và 2) Nghỉ trọn 1 năm và hưởng 80% lương sau khi đã làm việc được 6 năm.  Ngoài ra, Đại Học Saskatchewan còn có thêm một quy chế đặc biệt nữa là xếp các quản thủ thư viện vào chung một nghiệp đoàn với các giáo sư, với đầy đủ tất cả nhiệm vụ và quyền lợi như các giáo sư.  Chính vi vậy mà bản thân tôi, tuy chỉ là một quản thủ thư viện, cũng được nghỉ Sabbatical Leave.

Tôi đã chính thức nghỉ trọn 1 năm, từ ngày 1-7-2003 cho đến ngày 30-6-2004, và đã hoàn tất được 2 dụ án nghiên cứu.  Sau đó, tôi đã trình bày kết quả trong 2 bài báo sau đây:

• “Quality Control Issues in Outsourcing Cataloging in US and Canadian Academic Libraries,” Cataloging & Classification Quarterly, v. 40, no. 1, pp. 101-122.

• “A Web-based Database of CIA Declassified Documents on the Vietnam War,” (with Darryl Friesen) Online, v. 28, no. 4, pp. 31-35.

Trở Về Trường Và Nghỉ Hưu

Ngày 1-7-2004, tôi trở về làm việc lại tại Thư Viện của Trường Đại Học Saskatchewan, và, thực hiện đúng theo sự thỏa thuận giữa tôi và ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện, tôi không giữ các chức vụ chỉ huy nữa, và chỉ làm công tác chuyên môn thôi, với chức vụ là Biên Mục Viên Nguyên Thủy Cao Cấp (Senior Original Cataloguer) trong 2 năm cho đến khi chính thức nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006.

Thay Lời Kết:

Bây giờ, sau hơn 60 năm, ở năm 2026 này, nhìn lại quảng đường dài đã đi qua, tôi không khỏi phần nào hãnh diện về những chuyện mà tôi đã thật sự làm được tại Việt Nam, quê hương nơi tôi đã sinh ra, và tại Canada, nơi tôi đã đến định cư từ gần nửa thế kỷ (1981-2026).  Đồng thời, tôi cũng phần nào cảm thấy chưa được thỏa mãn đối với một số chuyện mà, mặc dù đã cố gắng hết sức mình, tôi đã không thể hoàn tất được.  Tôi thật sự tâm đắc câu nói của người xưa: “Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Tại Thiên.”

GHI CHÚ:

1. Lâm Vĩnh-Thế.  Một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: : https://petruskyaus.net/mot-nga-re-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-the/

2. Pauline Atherton Cochrane, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Pauline_Atherton_Cochrane

3. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, tr. 52.

4. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 62.

5. Anh Tư tôi tên Lâm Vĩnh-Tế (1939-2000), tốt nghiệp Tiến Sĩ Hóa Học tại Đại Học Montréal năm 1967, Giáo Sư Trưởng Ban Hóa Hoc tai Trường Đại Học Cộng Đồng CEGEP Bois-de-Boulogne, Montréal (CEGEP = Centre d’Eseignement Général Et Professionnel).

6. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 130-133.

7. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 135-136

8. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 139.