TƯỞNG NIỆM NHÀ THƠ DU TỬ LÊ (1942-2019)

Biên soạn: Phan Anh Dũng

(nguồn: cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1407&Itemid=45)

bar_divider

Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả ‘Khúc Thụy Du,’ qua đời, hưởng thọ 77 tuổi

Đỗ Dzũng/Người Việt – October 9, 2019

DuTuLe-01

GARDEN GROVE, California (NV) – Thi sĩ Du Tử Lê vừa qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai, 7 Tháng Mười, tại tư gia ở Garden Grove, hưởng thọ 77 tuổi.

Tin này được cô Orchid Lâm Quỳnh, ái nữ của ông, cho nhật báo Người Việt biết lúc 11 giờ tối Thứ Ba.

Cô kể: “Em báo tin này hơi trễ vì bây giờ mọi việc mới xong. Thực ra, tim bố ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai. Lúc đó, em vẫn gọi 911 và đưa bố vào bệnh viện. Bây giờ thì bố đã thật sự vĩnh viễn ra đi.”

Theo trang nhà dutule.com, nhà thơ Du Tử Lê, tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam.

Năm 1954, ông theo gia đình di cư vào miền Nam.

Ông là cựu học sinh trường Chu Văn An, Trần Lục, rồi đại học Văn Khoa Sài Gòn, nguyên sĩ quan QLVNCH.

Ông làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến trong vai trò phóng viên chiến trường, trước khi làm thư ký tòa soạn nguyệt san Tiền Phong.

Năm 1969, ông theo học khóa tu nghiệp báo chí tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana.

Năm 1973, ông được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn Thi Ca, với thi phẩm: “Thơ Du Tử Lê 1967-1972.”

Ông định cư tại Hoa Kỳ sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975.

Khởi sự làm thơ rất sớm, từ năm 1953 tại Hà Nội, với nhiều bút hiệu khác nhau, bút hiệu Du Tử Lê được ông dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai.

Thơ của ông xuất hiện trên nhiều tạp chí trong và ngoài nước. Ông có thơ đăng trên nhật báo Los Angeles Times, 1983, và New York Times, 1994.

Năm 1993, Giáo Sư Neil L. Jaimeson chọn dịch và phân tích một bài thơ của Du Tử Lê in trong cuốn “Understanding Vietnam,” do hai đại học UC Berkeley và UCLA và nhà xuất bản London ấn hành, là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại Hoa Kỳ và Âu Châu.

Vẫn theo tác giả này, cùng với Nguyên Sa, sự đóng góp trí tuệ của Du Tử Lê cũng như Linh Mục Thanh Lãng và Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam là điều không cần phải hỏi lại (Understanding Vietnam, trang 344).

Du Tử Lê là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ thứ 20, có thơ được chọn in trong tuyển tập “Thi Ca Thế Giới Từ Thời Thượng Cổ Tới Ngày Nay” (World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time) do nhà xuất bản W.W. Norton New York, New York, ấn hành năm 1998.

Thơ của ông cũng được một số đại học dùng để giảng dạy cho sinh viên từ năm 1990.

Ký giả Jean Claude Pomonti, một nhà báo hàng đầu của tạp chí Le Monde của Pháp, đã chọn một bài thơ của Du Tử Lê để dịch sang Pháp ngữ và phê bình trong tác phẩm “La Rage D’Être Vietnamien” do Seuil de Paris xuất bản năm 1975.

Du Tử Lê là một trong bảy nhà thơ miền Nam, được cố nhà văn Mai Thảo chọn là “Bảy Vì Sao Bắc Đẩu” của nửa thế kỷ thi ca Việt Nam. Sáu người kia là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, và Tô Thùy Yên.

Du Tử Lê là tác giả của trên 70 tác phẩm đã xuất bản.

Thi phẩm đầu tiên của ông xuất bản năm 1964.

Tùy bút của ông bao gồm “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời,” do công ty Văn Hóa Cổ Phần Phương Nam, Sài Gòn, ấn hành Tháng Tư, 2017; “Mẹ về Biển Đông,” do Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội, xuất bản Tháng Sáu, 2017; Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” do Phanbook, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018; Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” và truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (in lần thứ ba), do Saigon Books xuất bản Tháng Bảy, 2018.

Nếu không kể những tác phẩm được tái bản thì tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” là tác phẩm thứ 73 của họ Lê, tính đến Tháng Bảy, 2018.

Là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, thơ của ông cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và trở thành những bài nhạc nổi tiếng như “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn,” “Hạnh Phúc Buồn (Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi),” “Giữ Đời Cho Nhau (Ơn Em),” “Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển,” “Khúc Thụy Du,” “K Khúc Của Lê,” “Khi Cuộc Tình Đã Chết,”….

Từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến Harvard University để nói chuyện về thơ của mình.

Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Ngoài thi ca, Du Tử Lê còn là một họa sĩ.

Kể từ Tháng Bảy, 2011, nhiều tranh của ông được dùng làm bìa sách cũng như in nơi trang bìa của một số tạp chí xuất bản tại Hoa Kỳ.

Tính tới 2012, ông đã có hai cuộc triển lãm cá nhân, một tại Houston, Texas, và một tại Seattle, Washington.

Cuộc triển lãm cá nhân lần thứ ba của Du Tử Lê, vào Thứ Bảy, 30 Tháng Ba, 2013, tại Virginia, là triển lãm mở đầu cho năm.

Và năm 2014 của họ Lê được đánh dấu bằng cuộc triển lãm bỏ túi ở Coffee Lover, San Jose, California, với bảy tác phẩm hội họa, được bán hết trong vòng 45 phút.

Cuối năm 2012, với sự hướng dẫn của Giáo Sư Diêu Thị Lan Hương, cô Trần Thị Như Ngọc, cư dân Hà Nội, đã chọn thơ Du Tử Lê cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Lý Luận Văn Học, với tựa đề “Thơ Du Tử Lê Dưới Góc Nhìn Tư Duy Nghệ Thuật,” được hội đồng giám khảo chấm đậu và được phép dùng để giảng dạy. Luận văn này hiện được lưu trữ tại Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, thuộc Đại Học Quốc Gia Hà Nội, mã số: 60 22 01 20.

Chưa hết, thi sĩ Du Tử Lê còn viết văn và biên khảo văn học.

Bước vào năm 2015, tác phẩm truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (tái bản lần thứ nhất) của nhà thơ, và bộ sách dầy 700 trang, tựa đề “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 1, được cơ sở H.T. Productions xuất bản, công ty Amazon in và phát hành. Ngoài ra, bộ sách “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 2, đầu sách thứ 67, của nhà thơ Du Tử Lê cũng được công ty Amazon in và phát hành giữa Tháng Chín.

Riêng năm 2018, tại Sài Gòn, đã có bốn đầu sách của Du Tử Lê được xuất bản cũng như tái bản, trong số đó, có các tuyển tập như:

-Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du,” tác phẩm thứ 72, do PhanBooks, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018.

-Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu,” tác phẩm thứ 73, do Saigon Books xuất bản Tháng Bảy, 2018.

-Tuyển tập tùy bút “Giữ Đời Cho Nhau” II, do PhanBooks, Sài Gòn, xuất bản Tháng Sáu, 2018.

Đỗ Dzũng

DuTuLe-02.jpg

Du Tử Lê, Orchid Lâm Quỳnh, Hân, Hạnh Tuyền

bar_divider

TRANG NHÀ CỦA NHÀ THƠ DU TỬ LÊ:

blinkingblock https://www.dutule.com/

blinkingblock THƠ DU TỬ LÊ thivien.net

bar_divider

CaoPho-DuTuLe2019

bar_divider

Đưa chân Du Tử Lê về với đất: ‘Đi với về cùng một nghĩa như nhau”
Ngọc Lan/Người Việt – October 27, 2019

DamTangDuTuLe-01

Đưa tiễn nhà thơ Du Tử Lê về cõi vĩnh hằng. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV) – Sau những ngày nắng cháy da, sáng nay, mặt trời bỗng quên rực rỡ, để khoác lên người một chiếc áo nhạt màu. Âm u. Ảm đạm. Trong làn gió thổi phất phơ, nhẹ nhàng, mà lạnh thấm, gia đình, bằng hữu, người ái mộ cùng tề tựu lại nơi phòng số 5 của nhà quàn Peek Family ở Little Saigon để tưởng niệm và đưa chân nhà thơ Du Tử Lê về với đất, dù ai cũng hiểu, với ông, “Đi với về cùng một nghĩa như nhau.”

Du Tử Lê là nhà thơ lớn, “là ngôi sao thứ bảy trong chòm sao Bắc Đẩu” như cách nói của cố nhà văn Mai Thảo – một trong những đại thụ của nền văn học Việt Nam trước 1975 – nên nhiều người đến dự đám tang ông, dự buổi tưởng niệm ông cũng là những tên tuổi lớn.

Người ta có thể thấy nhà văn Doãn Quốc Sĩ đã ngoài 90 vẫn chầm chậm từng bước vào viếng nhà thơ. Người ta có thể nhìn thấy nhà văn Nhã Ca, dù không thật khỏe vẫn thay chồng – nhà thơ Trần Dạ Từ – đến để gửi gắm những lời sau cùng đến với người bạn vong niên vừa ra đi rất đột ngột.

DamTangDuTuLe-02

Chân dung tự họa (dưới) và chân dung rất tươi của nhà thơ Du Tử Lê. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Và tài tử Kiều Chinh, họa sĩ Trịnh Cung, ca sĩ Lệ Thu, nhà văn Ngọc Hoài Phương, nhạc sĩ Đăng Khánh, ca sĩ Nguyên Khang, nhạc sĩ Diệu Hương, nhà thơ Đỗ Quý Toàn, nhà báo Đinh Quang Anh Thái, nhạc sĩ Trúc Hồ, ca sĩ Nhật Hạ, nhạc sĩ Trần Duy Đức… và rất rất nhiều người nữa cùng đến để tiễn đưa bạn mình – nhà thơ Du Tử Lê – chứ không phải đến để người ái mộ biết có sự hiện diện của họ.

Trong số người đến, có lẽ hình ảnh của tác giả “Mắt lệ cho người” khiến người ta dễ xúc động. Bởi lẽ, bản thân ông, nhạc sĩ Từ Công Phụng, đang phải gồng gánh trên người nỗi mệt nhoài của căn bệnh ung thư, mà từ Oregon, ông vẫn theo hiền thê mình xuống Little Saigon để lần cuối được “chạm mặt” người bạn Du Tử Lê.

Ông lên phát biểu, tiếng ông yếu lắm, nhìn ông mệt lắm. Vậy mà không ngờ ông lại hát “Tạ Ơn Em” – bài hát ông phổ từ thơ Du Tử Lê – hay đến lạ, như một lời cám ơn về một tình bạn bền vững qua bao năm tháng. Lại còn hóm hỉnh trong cách nói, ánh mắt và nụ cười rất Từ Công Phụng, “Nhiều người thắc mắc về ý nghĩa một số ca từ trong bài, tôi nói hãy đi hỏi ông Du Tử Lê, rồi ông ấy giải thích cho” để nhiều tiếng cười phải bật lên.

DamTangDuTuLe-03

Quang cảnh tang lễ nhà thơ Du Tử Lê, với thân hữu đến chia tay lần cuối. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Dẫu vậy, lời chia sẻ của ông với phóng viên Người Việt thấm đẫm nỗi niềm của một tình bạn vong niên, “Tôi đã làm bạn với Du Tử Lê từ hơn nửa thế kỷ qua. Nên có rất nhiều kỷ niệm với nhau. Sự ra đi của Du Tử Lê là một sự mất mát lớn lao trong đời tôi. Có nhiều điều tôi muốn nói với Du Tử Lê nhưng chưa kịp nói. Có nhiều điều muốn tâm sự mà cũng không còn dịp tâm sự…”

Cũng trong cảm xúc đó, Nguyên Khang hát “Khúc Thụy Du” cũng trong một niềm xúc động đặc biệt, “Bài ‘Khúc Thụy Du’ Khang hát rất là nhiều, đi đâu cũng được đề nghị hát. Nhưng hôm nay Khang không ở trong tâm trạng hát, tại vì nỗi mất mát này với Khang quá lớn, mình mất đi một thói quen gặp gỡ với ông, vì mỗi tuần hai bố con gặp nhau ít nhất là 3 lần tại quán phở Hạt Ngò, điều này không thể thay thế được.”

“Khang gọi nhà thơ Du Tử Lê là bố,” ca sĩ Nguyên Khang kể. “Hai bố con biết nhau trong một dịp tình cờ khi ông mời Khang hát trong một show có những bài hát được phổ từ thơ ông, rồi từ đó trở thành thân với nhau lúc nào cũng không biết.”

Người ca sĩ có giọng ca trầm ấm tiếp tục, “Ai đã từng gần với nhà thơ Du Tử Lê đều biết ông là một người rất ấm áp, và là một người biết lắng nghe. Ông có thể ngồi nghe mình nói cả tiếng đồng hồ, đó chính là lý do vì sao hai bố con thường ra quán cà phê ngồi chuyện trò chia sẻ với nhau, vì Khang cũng là một người nói rất là nhiều, nói đủ chuyện trên trời dưới đất. Ông nghe rồi lâu lâu lại đưa ra ý kiến bố nghĩ là như vầy, nên là như vầy sẽ hay hơn. Để từ đó Khang học được rất nhiều thứ. Cho nên sự ra đi đột ngột của ông, với Khang, là một mất mát lớn quá.”

DamTangDuTuLe-04

Ca sĩ Nhật Hạ và nhạc sĩ Trần Duy Đức cùng tiễn đưa nhà thơ Du Tử Lê. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Có mặt tại buổi tưởng niệm, nữ ca sĩ Lệ Thu mỉm cười “tiết lộ”, “Tôi biết đến tên Du Tử Lê là một người đào hoa trước khi biết đến những bài thơ của ông. Ông là người đào hoa giống như tên gọi của ông: Cự Phách.”

Ca sĩ Lệ Thu là người cất tiếng hát đầu tiên trong buổi tưởng niệm, điều mà như cô nói “với người ca sĩ phải hát vào buổi sáng là một cực hình nhưng tôi vẫn muốn thực hiện điều này thay lời cám ơn anh, nhà thơ Du Tử Lê.”

Là một trong những người phổ nhiều thơ của Du Tử Lê, nhạc sĩ Đăng Khánh, từ Houston, Texas bay về dự tang lễ, tâm sự, “Nói về giao tình giữa nhà thơ Du Tử Lê và tôi thì từ 40 trước, khi tôi chạm vào thơ tình lộng lẫy của thi sĩ Du Tử Lê thì nói thật là sự rung động và cảm phục đã tạo nên một mối tình chân thật và tha thiết trong tôi đối với ông. Nhìn vào khối tác phẩm đồ sộ cũng như dòng thi ca trác tuyệt mà Du Tử Lê để lại, thì quả thật sự ra đi của ông không thể nào không để lại sự luyến tiếc và lỗ hỏng lớn trong trái tim mỗi người yêu tiếng Việt, yêu quê hương Việt Nam, yêu văn hóa Việt Nam, yêu văn học việc Nam, và nhất là yêu thơ tình Du Tử Lê.”

DamTangDuTuLe-05

Nhạc sĩ Từ Công Phụng (phải) và ca sĩ Nguyên Khang tại lễ tang nhà thơ Du Tử Lê (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Cũng có mặt từ sớm là nhạc sĩ Vũ Thành An. Rất nhẹ nhàng, thanh thản, tác giả của loạt “Bài Không Tên” bất hủ, cho biết, “Tôi học chung với Du Tử Lê từ lúc đệ thất, đệ lục, cho đến hết trung học, thành ra tôi đến đây với tư cách một người bạn cũ với Du Tử Lê. Tôi mừng khi Du Tử Lê qua đời nhưng để lại cho đời rất nhiều tác phẩm. Tôi có hai bài hát phổ thơ Du Tử Lê cũng mấy chục năm rồi nhưng chưa có dịp để gửi đến quý vị, cũng như tôi và Du Tử Lê hứa hẹn với nhau là sẽ sáng tác chung một bài để làm kỷ niệm, nhưng chưa kịp làm thì ông đã đi rồi. Nhưng tôi tin là sau đời sống này thì chúng ta lại có một đời sống vĩnh cửu mai sau. Tôi tin là sớm muộn gì anh và tôi cũng sẽ gặp nhau, nơi mà chúng ta vẫn thường gọi là thiên đàng hay niết bàn đó.”

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, người từng biết đến sự nổi tiếng của nhà thơ Du Tử Lê từ năm 1973, khi còn là một sinh viên, nhận xét, “Tôi nghĩ anh Du Tử Lê đã đi rồi nhưng mai sau này người ta vẫn nhớ hoài những câu như ‘Nhớ ai buồn ngất trên vai áo. Mưa ở đâu về như vết thương,’ hay ‘Đi với về cùng một nghĩa như nhau, hoặc “Trong tay thánh nữ có đời tôi’ chẳng hạn. Tôi cho rằng niềm hạnh phúc lớn nhất của một người nghệ sĩ là khi mọi người nói với nhau về thơ, về nhạc của họ, dù người ta có thể không biết rằng câu thơ đó, bài hát đó là của tác giả nào, nhưng điều đó cho thấy rằng tác giả và tác phẩm của họ đã đi vào lòng người. Anh Du Tử Lê có niềm hạnh phúc đó.”

Nhạc sĩ Trúc Hồ có mặt trong suốt buổi tưởng niệm, nói một cách mộc mạc, chân thành, “Hôm nay tôi có mặt ở đây xin nói lời cám ơn nhà thơ Du Tử Lê, qua thơ Du Tử Lê mà Trúc Hồ làm giàu thêm được vốn ngôn ngữ của mình. Lâu lâu làm nhạc mà bí, Trúc Hồ lại vào tìm để ‘chôm’ vài chữ của nhà thơ Du Tử Lê.”

Trong khi đó, nhà văn Đỗ Vẫn Trọn, chít trên đầu vành tang trắng, trong vai trò của một người điều hợp chương trình buổi tưởng niệm, cố nén xúc động, chia sẻ, “Khi anh Du Tử Lê đi, tôi có cảm giác mình bị thiếu một cái gì đó. Thiếu một con đường đi, một hướng đi. Tôi và anh Du Tử Lê như có một cái duyên với nhau, anh em đã quen biết từ 47 năm qua, chưa bao giờ có điều gì giận hờn nhau. Anh Du Tử Lê đi, trong tôi có một sự hụt hẫng, một nỗi niềm mất mát lớn.”

DamTangDuTuLe-06

Toàn thể gia đình nhà thơ Du Tử Lê lưu luyến cùng nhà thơ Du Tử Lê lần chót. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Một người bạn khác của tác giả “Trên Ngọn Tình Sầu” là nhà thơ Ngọc Hoài Phương. Nhà thơ Ngọc Hoài Phương kể về những ngày cà phê với Du Tử Lê từ lúc còn ở Sài Gòn, qua đến Mỹ, vẫn tiếp tục cà phê.

“Những quán cà phê là do Du Tử Lê chọn. Từ cà phê Tao Nhân, đến Lan Hương, Tài Bửu, Lê chọn quán nào thì đi mãi quán đó, chỉ có quán bỏ Lê, thay tên đổi chủ, chứ Lê chưa bao giờ Lê bỏ quán. Mà những quán Lê chọn đều cùng nằm trên con đường Westminster. Nhưng lần này thì cà phê Hạt Ngò vẫn còn đó mà Lê đã ra đi. Tôi xin được chúc cho Lê một chuyến đi vui, an lành. Tôi không nói lời từ biệt với Lê,” nhà thơ Ngọc Hoài Phương nói.

Cũng trong tinh thần “xem cái chết nhẹ tựa hồng mao”, Bác Sĩ Phạm Gia Cổn nhẹ nhàng chia sẻ, “Chúng tôi là bạn của nhau trên nửa thế kỷ rồi, rất là thân thiết, quý mến nhau, dù mỗi người trên mỗi phương diện. Hôm nay đến đưa anh Lê, tôi không có gì nói nhiều ngoài sự luyến tiếc. Anh Lê coi như đã bước qua cõi tạm này rồi để đến một cõi khác vui hơn ở đây. Tôi buồn vì vắng bạn nhưng lại mừng cho bạn đã bước qua được cuộc đời nhiều rắc rối này. Rồi đây thì anh em chúng tôi cũng sẽ lại gặp nhau ở một nơi nào đó tốt đẹp hơn ‘ở chốn nhân gian không thể hiểu’ này, dù Lê nói ‘đi với về cùng một nghĩa như nhau’.”

Thay mặt gia đình, cô Orchid Lâm Quỳnh, được xem như người con gái gần gũi nhất của nhà thơ Du Tử Lê, lên kể chuyện bố mình trước giờ tiễn đưa ông.

“Nhớ có lần trong bữa cơm, cả nhà nói chuyện với nhau về kiếp sau, tôi hỏi ‘nếu có kiếp sau bố muốn làm đàn ông hay đàn bà?’ thì bố trả lời ngay là ‘Bố muốn làm phụ nữ, bố không muốn làm đàn ông nữa.’ Cả nhà bật cười. Tôi lại hỏi tiếp, ‘Vậy nếu là phụ nữ thì bố sẽ lấy ai làm chồng?’ Nghe tôi hỏi bố ngồi tỏ vẻ suy nghĩ rất lâu, như bỏ nhiều tâm huyết vào để tìm câu trả lời. Tôi ‘giải mã’ cho ông bằng câu gợi ý ‘Có phải nếu kiếp sau làm phụ nữ thì bố sẽ lấy bác Trần Dạ Từ làm chồng không?’ thì ông mỉm cười có vẻ đồng ý lắm.” Cô kể một trong nhiều mẩu chuyện về nhà thơ – người được cả nhà quan tâm, thương yêu và chăm sóc như một đứa con – khiến ai cũng phải bật cười.

DamTangDuTuLe-07

Cháu đích tôn Lê Du Vĩ bên ông nội thân yêu. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Con gái nhà thơ kể tiếp, “Ông luôn lấy gia đình ra làm bia đỡ đạn, khi ông muốn từ chối ai hay không muốn đi chơi với ai thì ông hay nói ‘để anh về hỏi ý kiến chị Tuyền’ nhưng mà ông hề hỏi bao giờ. Khi bị bà nói ‘Sao anh cứ bắt em làm vai ác hoài vậy!’ thì ông bảo ‘anh xin lỗi’ và sau này ông mang hai đứa cháu ngoại là Rock và Roll làm bia đỡ đạn. Khi muốn từ chối ai, ông sẽ lấy cớ ‘Anh phải về nhà trông cháu’.”

Giống như ca sĩ Lệ Thu đã nói, “Ông đào hoa giống như tên gọi của ông: Cự Phách”, và người ta luôn tò mò với nhau về chuyện vợ con ông đã phải “chịu đựng” nhà thơ nổi tiếng đào hoa này như thế nào.

Ngày hôm nay, Orchid Lâm Quỳnh đã có câu trả lời cho tất cả.

“Cả nhà vẫn chìu ông, như một đứa trẻ. Một đứa trẻ vốn rất nhiều lỗi lầm, mà lỗi lầm lớn nhất của ông, theo tôi, là ông đã bay về trời, để lại nến luôn cháy đỏ mỗi ngày. Lâm Quỳnh, mẹ, và cả Rock and Roll sẽ nói với ông rằng ‘đã thương con rồi thì thương suốt đời, và thương cả những lầm lỗi của con. Đối với gia đình, nghìn năm con vẫn là đứa trẻ.”

Nụ cười ông, gương mặt ông, mà mỗi người bắt gặp qua tấm chân dung phóng lớn nơi trước cửa nhà quàn, chính là nụ cười hồn nhiên nhất của “đứa trẻ” luôn được yêu thương và tha thứ cho hết thảy lỗi lầm, bởi gia đình ông – những người yêu thương Du Tử Lê nhất mực trên đời.

Trời ngả chiều. Dòng người từ từ theo chân nhau đưa ông về với đất. Đâu đó, trong miền sâu thẳm, câu thơ “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa…” như một tiếng ngân, xao động. (Ngọc Lan)

DamTangDuTuLe-18

blinkingblock TIỄN ĐƯA THI SĨ DU TỬ LÊVIDEO CỦA NGƯỜI VIỆT ONLINE

bar_divider

KhucThuyDu

Nguyên Khang hát AnimatedNotesKHÚC THỤY DU” – Thơ: Du Tử Lê – Phổ nhạc: Anh Bằng

KhucThuyDu-DTL-AB-p1.jpg

KhucThuyDu-DTL-AB-p2

blinkingblock DU TỬ LÊ VIẾT VỀ BÀI THƠ “KHÚC THỤY DU”  (PDF)

bar_divider

CoThom-PhanUuDuTuLe2019

bar_divider

blinkingblock MỘT KỶ NIỆM VỚI NHÀ THƠ DU TỬ LÊ Ở HOA THỊNH ĐỐN, MÙA THU NĂM 2011

IMG_1535-1.jpg

Du Tử Lê ra mắt tùy bút “Trên Ngọn Tình Sầu” – Virginia 2011

Phan Anh Dũng, Tâm Hảo, Nguyễn Ngọc Bích, Trương Anh Thụy, Du Tử Lê, Trần Bích San, Nguyễn Đức Thụy

SachTrenNgonTinhSau-DuTuLe

bar_divider

Du Tử Lê đang về với biển

Đỗ quý Toàn

Du Tử Lê vốn tên Lê Cự Phách, lúc học lớp đệ thất trường Chu Văn An thì cũng vào Thiếu Đoàn Tây Hồ, Hướng Đạo Việt Nam, trở thành một đội sinh của tôi cùng đợt với người bạn cùng lớp là Nguyễn Gia Phái. Trong Hướng Đạo có điều luật bảo mọi người phải coi nhau như anh em ruột thịt. Nhưng không cần phải cố gắng theo luật chúng tôi cũng tự nhiên thân thiết nhau vì cả hai đều mồ côi cha từ lúc còn rất trẻ! Thời đó các trưởng hay đến thăm tận nhà từng đội sinh của mình và tôi hay đến nhà, cho nên biết nhiều về Du Tử Lê.

Một điều tôi biết được là Du Tử Lê thích làm thơ, vì lúc đó tôi cũng làm thơ. Tôi nhớ có lần tôi chép những bài thơ của Tagore, viết bằng tiếng Anh, đem cho Du Tử Lê coi. Hình như tôi đã tìm thấy tập thơ Tagore tại Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, Sài Gòn. Tôi không nhớ mình đã chép những bài thơ nào, và chắc hồi đó tôi cũng không hiểu Tagore nói chuyện gì! Du Tử Lê chắc cũng vậy.

Khi tôi ngưng hoạt động trong thiếu đoàn thì cũng không còn hay gặp Lê Cự Phách nữa; chỉ nghe tin Phách đã nhập ngũ, như phần lớn thanh niên thời đó. Cho đến khi nghe tên Nhà Thơ Du Tử Lê tôi cũng không biết đó là chú đội sinh cũ của mình.

Nhưng Du Tử Lê làm thơ rất nổi tiếng, được nhiều người biết đến và được ưa chuộng hơn anh đội trưởng của mình! Nhiều nhạc sĩ phổ nhạc các bài thơ của Du Tử Lê, nhiều ca sĩ đã trình diễn suốt mấy chục năm qua. Dù những người không hay đọc thơ cũng phải biết những bài hay những câu thơ Du Tử Lê được truyền tụng. Những câu như “Ở cõi nhân gian không thể hiểu” hầu như ai cũng biết, dù không biết tên tác giả. Một bài thơ mang tựa “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển” nhiều người biết tên dù chưa đọc bao giờ.

Du Tử Lê sắp được toại nguyện. Chú em Hướng Đạo của tôi đã qua mặt đội trưởng, ra đi trước đàn anh, trong tình thương tiếc của gia đình và bè bạn. Cầu chúc em về nơi bình an hơn cõi thế gian không thể hiểu này.

bar_divider

DuTuLe-ThuHoa-VanTanPhuoc

Thành kính phân ưu cùng toàn thể tang quyến

Văn Tấn Phước / Paris

bar_divider

Một Cõi Cho Mình

Vũ thư Hiên

 Tôi kính trọng những nhà thơ. Trong mắt tôi, họ là những người dũng cảm bậc nhất. Hoặc gan lì, cũng bậc nhất luôn.

Giữa thời thiên hạ tối tối dán mắt vào ti vi, sáng sáng lướt rao vặt trên báo chợ, ngốn tiểu thuyết trinh thám trên xe điện ngầm, trên máy bay… mà vẫn cứ có những nhà thơ, những nhà thơ này vẫn bình tĩnh làm thơ được, mới lạ. Ngó vào số lượng in ở trang cuối mỗi tập thơ lại càng thêm kính phục họ. Các nhà thơ hậu duệ của Beaudelaire, Verlain, Apollinaire, của Goethe, Schiller… đều ngán ngẩm khi nói đến tình trạng thê thảm của sự đọc thơ thời bây giờ – đời thuở nhà ai mà một tập thơ bán được một ngàn bản đã là của hiếm trên đất nước đông đúc bảy tám chục triệu dân cơ chứ. So với họ, các nhà thơ Việt của chúng ta ở hải ngoại còn dũng cảm hơn nhiều. Và cũng may mắn hơn nhiều, nếu so số lượng xuất bản trên tỷ lệ số dân.

– Dũng cảm gì đâu. – Du Tử Lê cười hiền lành – Không hề. Gàn dở, thì đúng hơn, ông ạ. Khốn nạn, tôi, và tất cả tụi làm thơ chúng tôi, chạy không nổi khỏi nó. Nó là cái nghiệp, là sự chìm đắm vừa đau đớn vừa êm đềm, một thống khoái khó hiểu, đối với nhiều người, không trừ chính kẻ làm thơ…

Chúng tôi ngồi ở một bàn ngoài của một quán cà phê với một loạt ghế trên hè, rất Paris, ngay trước tượng Thần Tự Do giương cánh trên đài kỷ niệm Bastille. Quán cà phê bình dân này không phải là La Rotonde ở Montparnasse, nơi những danh nhân lịch sử của nước Pháp từng lai vãng, nhưng vào buổi chiều thu ấy cũng đông nghịt, bên trong không còn một bàn trống. Du Tử Lê xuề xòa, nói ngồi ở các bàn ngoài thú hơn, giống ở Sài Gòn hơn. Vừa nhàn nhã nhâm nhi ly expresso, ngắm cảnh xe cộ bá tính tấp nập ồn ào trên quảng trường ghi dấu cuộc cách mạng vĩ đại 1789, vừa bàn về văn chương thơ phú, thật thú vị.

Hình như các nhà thơ đều hiền lành. Tôi chưa gặp một nhà thơ dữ tợn nào. Những người dữ tợn không làm thơ. Tôi đòi Du Tử Lê đọc một bài thơ mà anh ưng ý hơn cả. Du Tử Lê nhìn tôi như cách người ta nhìn một con quạ trắng.

– Bài nào tôi cũng khoái, nhưng chỉ trong lúc đang làm ra nó thôi. Bài ưng ý nhất là bài mà mình sắp làm cơ, ông ạ.

Ấy là người đã có một lượng tác phẩm đồ sộ, hơn bốn chục thi phẩm, nếu tôi không nhầm, nói thế. Nhưng chiều tôi, Du Tử Lê ngâm se sẽ vài câu:

đêm về theo bánh xe qua
nhớ em Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh
nhớ em kim chỉ khíu tình
trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do
nhớ nghĩa trang quê bạn bè
nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường

đêm về theo vết xe lăn
tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào…

Nhớ Sài Gòn khi Paris sống động trước mặt là trúng lắm. Chẳng có nơi nào gợi nhớ những thành phố quê hương bằng Paris. Cách chúng tôi mấy bước là một cái nắp cống bằng gang in hệt những nắp cống trên hè Hà Nội hay hè Sài Gòn, đọc những hàng chữ trên nắp cống mới biết chúng cùng một lò sản xuất. Mấy chiếc lá vàng lềnh bềnh trên dòng nước rãnh dọc hè, y như ở Hà Nội.

Người đọc biết đến Du Tử Lê không phải với tư cách nhà thơ lục bát truyền thống, hoặc thơ mới các kiểu hàng loạt. Du Tử Lê được thiên hạ biết đến, được nhớ đến, là nhờ những bài thơ không vần với những chấm, phẩy, gạch nối, ngoặc đơn, ngoặc kép và những ký hiệu toán học. Những cái đó là tốt, là xấu, là hay, là dở, tôi không bàn. Trong địa hạt này tôi là kẻ ngoại đạo. Nhưng điều tôi thấy rõ là Du Tử Lê đã và đang làm một cái gì đó chưa từng có. Anh là kẻ khai phá. Cái mà anh đang khai phá rồi đi đến đâu là chuyện về sau. Nhưng ngay bây giờ tôi đã bắt gặp đâu đó những người theo chân anh. Như thế, anh không hề đơn độc.

như / con sông / sẽ không ra biển!??
nhan sắc đi / về ngang vết thương.
thịt / da từng tấc chăm, nuông nghiệp –
mỗi ngón tay:
– thơm một nỗi niềm.
như mưa / nắng / sẽ không cư, ngụ!?!
lọn tóc xin tình mãi thiếu niên –
nuôi vai chia nhánh vào ly, biệt…
thương, nhớ nào xanh(?)
những mặt bằng!?!!!

Tôi không hỏi Du Tử Lê vì sao những dấu chéo (/) đặt giữa những chữ như / con sông / sẽ không ra biển…; vì sao giữa từ kép ly biệt lại phải có một dấu phẩy ngăn cách để thành ly, biệt; cũng như tôi không hỏi vì sao sau câu như / con sông / sẽ không ra biển!?? lại có một dấu than với hai dấu hỏi, mà ở câu thương, nhớ nào xanh(?)[xuống dòng] những mặt bằng!?!!! sau một dấu than, một dấu hỏi lại có đến ba dấu than nữa?

Tôi không hỏi vì không muốn Du Tử Lê phải dằn lòng cắt nghĩa cho tôi rằng thơ là cái để mà cảm, chứ không phải cái để mà lý giải. Trong cái sự cảm ấy, tôi thấy, hoặc tôi lơ mơ hiểu dường như Du Tử Lê muốn dùng những ký hiệu toán học, những dấu biểu cảm ngữ nghĩa như một cách chơi nhạc, để ngắt chữ ngắt câu, để nhấn mạnh, để khêu gợi, để bắt người đọc đi tiếp con đường suy tưởng của/cùng anh (tôi dùng một dấu chéo theo cách Du Tử Lê rồi đấy). Cái “thi tại ngôn ngoại” của Du Tử Lê phong phú, nó gọi ta bước qua những chữ cụ thể để lướt đi xa hơn nữa trong liên tưởng, như từ một nốt nhạc nẩy lên ta nghe vang vọng một toàn hài.

Cái mà người đọc cảm được, thấy được trong thơ Du Tử Lê là những cảm giác Du Tử Lê cũng là cảm giác của mình, dù đó là những suy tưởng về ý nghĩa thời gian, tình nhân loại, những niềm vui hồn nhiên, những phút buồn vô cớ.

rất nhiều khi tôi khóc một mình
những hạt lệ không giúp ai no
những hạt lệ không làm ai đỡ đói,
nhưng nó vẫn là những giọt lệ
chính nó,
một mình –
không có tôi đứng cạnh.

thay vì cloning cho tôi con cừu
hãy tạo sinh vô tính cho tôi buổi chiều,
quê cũ.

một lần trong đời nhau
đêm, nghìn sâu tiếng gọi
ngọt ngào gối, chăn đau
thịt, da gào kiếp mới
soi mặt gương đời, sau
giọt máu còn chói lọi

một lần thân thể nhau
tôi rạng ngời: địa ngục!?!

nuốt trọng chính mình, như ngọn lửa
cháy một tôi: kẻ tự lột da
nhìn em: chảy máu trong yên, ắng
nghe giữa bọng cây: rộ đóa hoa.

Tôi viết: Du Tử Lê không đơn độc trong sáng tạo, trong khai phá một lối đi mới cho chính anh, độc đáo trước hết cho chính anh, không cần ai chấp nhận.

Cũng cái cung cách như thế ở trong nước có Dương Tường, một hồn thơ gần gụi với Du Tử Lê. Dương Tường cũng khai thác âm hưởng của những con chữ trong thơ, với những hàm ý không dễ hiểu, và dường như không cần ai hiểu. Dương Tường có những câu thơ thế này:

tôi nhìn nước Mĩ
qua mềm mại em phi lí
chéo
qua phụ khoa em hơ hớ
chéo
qua nhục dục em ngao ngán
chéo
qua thân hình em ngạo ngược
chéo
qua năng động em vô vọng
chéo
qua nụ bè he em bối rối
chéo

Có Trời hiểu những chéo in đậm nọ mang nghĩa gì. Trong tập “Thơ Dương Tường” (xuất bản năm 2005) có một câu “chẳng thể nào xuất” với hai gạch chéo hình chữ V nằm ngang (<) đi tiếp chỉ vào hai chữ “tinh” và “thần” để ta có thể đọc theo hai dị bản “xuất tinh” và “xuất thần”, hoặc gộp cả hai lại: “xuất tinh thần”; trông cứ như một công thức cấu tạo phân tử. Có khác gì Du Tử Lê với những ký hiệu toán học đâu. Trong tình hình nhiều năm mọi kênh thông tin trong ngoài bị đóng kín, hai người không được đọc thơ của nhau, nhưng Dương Tường và Du Tử Lê đều có những hoài bão khai phá như nhau và lối khai phá khá giống nhau. Về sự sử dụng nhạc tính trong thơ hai người hơi khác nhau chút ít. Có thể nói nếu thơ Du Tử Lê là euphonic thì thơ Dương Tường thiên về cấu trúc dodecaphonic. Dù sao thì ở đây ta cũng thấy hiện tượng những trí lớn gặp nhau.

Ở đây vấn đề muôn thuở được đặt ra: ở đâu, cái cảm giác chừng mực của sự biểu cảm? Chưa tới thì không được. Một chút quá là hỏng.

Nhưng với chủ thể của sự sáng tạo Du Tử Lê vấn đề trên bất thành vấn đề. Tôi quen Du Tử Lê chưa đủ lâu để có thể nói rằng tôi hiểu anh thật nhiều. Nhưng tôi dám nói như thế từ những quan sát của mình qua những lần gặp gỡ bao giờ cũng ngẫu nhiên và hồn nhiên.

Tôi hỏi Du Tử Lê:

– Khi viết ông có nghĩ tới người sẽ đọc thơ ông không?

– Hoàn toàn không.

– Vậy ông nghĩ gì khi làm thơ.

– Tôi chẳng nghĩ gì cả. Một tứ thơ chợt đến, và tôi cầm lấy bút.

Thế đấy. Du Tử Lê không làm thơ, có thể hiểu như thế. Thơ tự đến với Du Tử Lê, như cái duyên số phận, có đi tìm cũng không thấy, muốn chế tạo cũng không được. Trong Du Tử Lê mọi điều kiện cần thiết cho thơ đã có sẵn để cho thơ nảy nở. Cái sự khai phá mà tôi nói đến ở trên cũng nằm trong cái duyên ấy, không phải do một ý chí nào. Chính vì vậy mà Du Tử Lê làm thơ không quan tâm đến đối tượng sáng tạo, không cần biết họ hiểu được hay không hiểu, cảm được hay không cảm được.

Trong cõi riêng của mình.

bar_divider

Thư Cho Bố

** Orchid Lâm Quỳnh – 11 Tháng Mười 2019 **

Cách gì, thì Bố con mình cũng sẽ không đi Ambulance với nhau một lần nào nữa!

DuTuLe-08.jpg

Đã từ lâu, Bố tập cho con một thói quen: Không dùng chìa khóa. Vì bao giờ, mỗi trưa đi dạy về, Bố đều ra mở cửa. Tôi lái xe về nhà sau một đêm trong ER cùng Bố. Tôi gạt kính xe liên hồi, nhưng kính xe vẫn nhạt nhòa, nước trần gian, vị mặn. Tôi mở cửa, cơn gió lùa vào, cắt ngang da thịt. Về đến nhà, lục tìm chìa khóa. Tôi gào lên: “Sao Bố không mở cửa!” Mắt tôi nhòe đi. Thoang thoảng bên tai: Tiếng “Hoa cỏ phải lên trời”, tiếng “Thú lìa rừng, chim chóc lạnh từng đôi”. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mình thất lạc.

Nhưng thôi, cách gì, thì Bố con mình cũng sẽ không đi Ambulance với nhau một lần nào nữa!”

Đã từ lâu, Bố tập cho tôi một thói quen: Sáng thức dậy, việc đầu tiên là làm café cho hai bố con, trước khi tôi đi dạy, và trước khi Bố đi café cùng bạn. Vậy là kể từ hôm nay, tôi tiết kiệm được một phần café. Sự tiết kiệm mà không ai, dẫu chỉ một lần, muốn chạm.

Cách gì, thì Bố con mình cũng sẽ không đi Ambulance với nhau một lần nào nữa!

Đã từ lâu, Bố tập cho tôi một thói quen: phải làm việc ngoài phòng khách, để Bố cần gì, thì bay tới ngay để phụ. Sau mấy lần bạo bệnh, Bố yếu đi khá nhiều. Tay chân lọng cọng nên làm gì cũng sai, bưng gì cũng đổ. Tôi có nhiệm vụ “canh” Bố buổi trưa, và Mẹ “rình” Bố buổi tối. Tội nghiệp. Đường đường là một tên tuổi lớn, mà luôn bị rình rập bởi 2 người phụ nữ trong nhà.

Cho đến ngày xuất hiện người phụ nữ thứ 3, tên Roll.

DuTuLe-07

Đã từ lâu, Roll tập cho Ông Ngoại một loạt những thói quen: Không được đi giày vô nhà, không được chơi phone nhiều, sẽ hư mắt, không được ăn trên giường, và không được hút thuốc lá… Thế mà Ông Ngoại răm rắp nghe theo.

Hôm qua, khi đi học về, Roll hỏi Ông Ngoại đã về chưa, để Roll khoe hình mới. Tôi bàng hoàng bảo Roll, chính con là người đã thấy Ông Ngoai lên Trời mà. Roll cãi lại: “Nhưng Ông Ngoại đi lâu quá”. Rock còn nói thêm: “mà Rock không thấy Ông Ngoại ở trên Trời.” Tôi phải giải thích rằng: “Rock N Roll buổi sáng đi học, mẹ đi làm, mình không thấy nhau, nhưng Rock N Roll biết chắc là Mẹ vẫn còn đây. Đã đến lúc cả nhà phải tập thói quen: Dẫu không nhìn thấy Ông Ngoại, nhưng hơi ấm của Ông, vẫn nguyên vẹn góc trái.

“Cách gì, hai đứa cũng phải hiểu rằng, mẹ và Ông Ngoại cũng sẽ không cùng nhau đi xe ambulance một lần nào nữa!”

-Rock: Daddy, how come Grandpa doesn’t come back. I miss him so much.

-Daddy: Grandpa is in the sky. You can always feel him in your heart.

-Rock: But I want to hug him. How can I hug him for a long time?

-Daddy: But he can drink coffee with friends without driving now. He is no longer sick. He is happy. You want Grandpa to be happy right?

-Rock: Yes Daddy. But I miss him so much.

Bố ơi, con sẽ cố gắng tập làm quen, việc Bố đã “mở đầu nhân loại: cuộc chơi riêng”.

Những người tới chia buồn, luôn an ủi con: “he is in a better place”. Con không tin điều đó. Con tin rằng: Không có nơi nào ấm áp, bình an hơn gia đình mình.

Nhưng thôi,

Orchid Lâm Quỳnh
October 9, 2019

bar_divider

‘Thơ với ông là một!’

“Du Tử Lê là Thi Sĩ Một Đời. Thi sĩ Viết Hoa,” tôi viết và biết về thi sĩ như thế. Ông không chỉ làm thơ. Ông sống với thơ. Sống bằng thơ. Thơ với ông là một.

Thưa chị Hạnh Tuyền,

Thi Sĩ Ra Đi. Xin được cùng chị và bạn hữu nhớ thơ chàng: “Đốt thành tro, bụi vẫn yêu thương.”

Trân trọng cám ơn từng hạt bụi nhà thơ để lại cho chúng ta!

Nhà thơ Trần Dạ Từ

DuTuLe-13

bar_divider

PhanUu-DuTuLe-01

bar_divider

Một số Youtube về DU TỬ LÊ

TranhDuTuLe-03

Chuyện đời thường Du Tử Lê qua lời kể của gia đìnhOrchid Lâm Quỳnh

The Jimmy Show | Nhà thơ Du Tử Lê (1942-2019)

ĐÊM, NHỚ TRĂNG SÀI GÒN – Nhạc: Phạm Đình Chương; Thơ: Du Tử Lê – Biên soạn: Phan Anh Dũng

DU TỬ LÊ – Trên Cọc Nhọn Trăm Năm – Phương Nguyễn thực hiện:   blinkingblock Phần 1     blinkingblock Phần 2

Nhà Thơ DU TỬ LÊ và Tác Phẩm ‘Tôi với người, chung một trái tim‘ – Nhà báo Phạm Trần

VĨNH LẠC PHỎNG VẤN DU TỬ LÊ

TRIỂN LÃM HỘI HỌA DU TỬ LÊ – Houston Texas Oct 7, 2012

TranhDuTuLe-04

bar_divider

Chung Quanh Dấu Phết (,)

14 Tháng Giêng 2010

LNĐ: Phần dưới đây chỉ là Bản Tóm Lược Chi Tiết (bản tiếng Việt,) của nhà thơ Du Tử Lê, dùng trong những buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, từ đầu thập niên 1990.
Nói cách khác, ông dùng bản summary này làm căn bản để khai triển thành bài nói chuyện với những nhập vào, đi ra, thí dụ khác nhau, tùy nơi chốn, thời gian và thành phần cử tọa…

Trước khi nói về dấu phết: xin nói qua về điều căn bản là:

a./ Sự hình thành của ngôn ngữ nhân loại.

b./ Căn bản hay yếu tính của bộ môn Văn Học và Nghệ Thuật

A.- TIẾN TRÌNH HAY LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA NGÔN NGỮ NHÂN LOẠI

Thoạt tiên chỉ là những tiếng kêu ngắn bày tỏ sự kinh ngạc, sợ hãi, vui mừng, buồn bã. Như Ô, A, Á, Ao, Ố…

Nhu cầu truyền đạt tư tưởng khi nhân loại bước vào giai đoạn sống thành bầy, thành đoàn, hay bộ lạc.

Những bộ lạc lớn, mạnh thôn tính những bộ lạc nhỏ, yếu. Chiến lợi phẩm không chỉ là tù binh, đàn bà, gia súc, thực phẩm, mà còn áp đặt ngôn ngữ của lên những bộ lạc bị thôn tính.

Với thời gian, dần dần ngôn ngữ nhân loại quy về hai loại: Ngôn ngữ

Tượng Hình: Hieroglyphic Script và Mẫu Tự La Tinh: Roman Alphabet.

(Cho thí dụ chữ Tử vẽ người nam và chữ Nữ vẽ người nữ. Hai chữ này đứng cạnh nhau có nghĩa là Hảo, là tốt lắm. Quý vị nam nhi nào đang có một người nữ ngồi cạnh thì rất tốt. Đừng để mất. Sẽ một dời không tìm nổi đâu, Như tôi đang đứng đây, chỉ có 1 mình là…bất hảo; là không tốt.

Tùy theo khí hậu, địa thế sinh sống mà hai nhánh cây ngôn ngữ này, lại chia thành hai nhánh nhỏ là Đơn Âm: Monosyllabic hay Polysyllabic tức Đa Âm.

Ngôn ngữ Việt Nam theo nhánh cây Roman Script tức Alphabet. Và là Đơn Âm / Monosyllabic.

Có lẽ, để bổ túc cho khuyết điểm đơn âm của mình, bên ngôn ngữ Việt Nam thường có những Chữ Lập Lại Chính Nó / Take-After-Itself, như ầm ầm, ào ào, ì ì, uồm uồm, vân vân… Hay Tiếng Đôi / Double-Word như buồn bã, rầu rĩ, nhớ nhung, đau khổ, xa lạ, bần thần, rã rượi, bâng khuâng, biêng biếc, vân vân…

B.- CĂN BẢN HAY YẾU TÍNH CỦA BỘ MÔN VĂN HỌC và NGHỆ THUẬT:

Mở đầu: hầu hết các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ của chúng ta khởi nghiệp bằng khả năng thiên bẩm, lòng đam mê với bộ môn nghệ thuật thích hợp với mình. Ở lâu trong nhà, kinh nghiệm trở nên dồi dào, phong phú, giầu có. Ít ai bỏ thời giờ để tự hỏi: căn bản hay yếu tính của bộ môn văn học và nghệ thuật là gì?

Khởi nguồn, văn học và nghệ thuật hình thành từ ba căn bản dưới đây:

1. Quan sát, ghi nhận đưa tới Mô Tả/ Description.

Thí dụ:

“Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
(Kiều, Nguyễn Du)

Quan sát, ghi nhận, suy, tưởng đưa tới So Sánh/Comparison. (Bằng, hơn, kém.) Muốn xử dụng thể so sánh, người ta phải dùng như liên tự / Conjunction như các chữ so sánh bằng, so sánh hơn, so sánh kém.

Thí dụ:

Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
TNga, Thơ Nguyên Sa)

Quan sát, ghi nhận, suy, tưởng đưa tới Liên Tưởng / Connect in Thought. Muốn xử dụng thể liên tưởng, người ta dùng những chữ như Giống Như Likeness hay chữ Như / As.

Thí dụ.

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
(Tràng Giang, Thơ Huy Cận)

Sau đó, do những khao khát đổi mới của những thiên tài lớn là những người khai sinh thành những trường phái hay những phong trào, mà lịch sử văn học, nghệ thuật có những trường phái, phong trào khác nhau. Như những người theo trường phái lãng mạn ở đầu thế kỷ thứ 19 cho rằng yếu tính của văn học, nghệ thuật là lãng mạn. Những người theo trường phái tượng trưng, thì lấy tượng trưng làm căn bản. Những người theo trường phải hiện thực xã hội thì lấy hiện thực xã hội làm căn bản, những người theo trường phái lập thể của bộ môn hội họa thì lấy hình khối làm căn bản, vân vân…

Tuy nhiên, dù theo trường phái nào, văn học và nghệ thuật vẫn phải dựa trên 3 yếu tính căn bản nêu trên như ba chiếc chìa khóa cần và đủ để mở cánh cửa văn học và nghệ thuật.

II. PHƯƠNG DIỆN VĂN PHẠM CỦA CÁC DẤU TRONG THƠ VĂN

A.- TẠI SAO PHẢI CẦN ĐẾN CÁC DẤU / PUNCTUATION MARKS

1- Giải thích vắn tắt tương quan giữa hơi thở hay nhịp đập của trái tim với tiếng nói.

2- Nhiệm vụ của từng dấu. Chỉ nói sơ qua về nhiệm vụ của các dấu như Phết. Chấm phết. Chấm. Chấm hỏi. Chấm than.

3- Tóm tắt: vừa để thích hợp với hơi thở vừa làm sáng tỏ câu văn. Gọi là văn sáng sủa.

B.- NHỮNG NHIỆM VỤ TÔI CHỦ TÂM GẮN THÊM CHO DẤU PHẾT

Ngắt nhịp / punctuation như bình thường.

Thí dụ:

 Huyền thoại buông màn. Cổ tích chôn
Chị Hằng, tảng đá: ai là trăng?
Cây đa, chú cuội, và con thỏ
Là bốn? Hay là một chữ không?

2- Thay thế cho liên tự NHƯ (hay As tiếng Mỹ.)

Thí dụ

 Những cây nến cháy như da thịt
Trơ nỗi sầu, đau, đụng tới xương

3- Tất cả những Phần tử / Elements trong mệnh đề đều bị chi phối bởi ý nghĩa của danh tự, động tự hay trạng tự nằm sau dấu phết chỉ thị.

Thí dụ:

 Phố cao, gió nổi, bóng mờ
Đêm lu, trời nặng, tôi gù lưng, đi.

Hoặc:

Em ở đó bờ sông còn ấm cát
Con sóng tình vỗ mãi một âm, quên

Hoặc:

Chỗ một đời em vẫn để, dành.

Dấu phết như một ký hiệu đem chữ đứng sau dấu phết xuống hàng dưới

Thí dụ:

 Hiu quạnh. Trùng tu từng cuộc đời
Người, trùng tu mãi giấc mơ, khuya
Mây, trùng tu những cơn mưa, muộn
Tôi đợi trùng tu: một cửa về.

Dùng dấu phết để chẻ những chữ kép thành những chữ đơn để:

a- Thêm nghĩa cho chữ.

Thí dụ:

 Chẻ đôi con gió: cây ly, biệt
Tim chấn thương cùng môi tháng, năm.

b- Làm sáng tỏ nghĩa của chữ và do đó nghĩa của chữ trở nên mạnh mẽ hơn, giầu có hơn.

DU TỬ LÊ

bar_divider

Tâm Hảo hát: AnimatedNotesTRÊN NGỌN TÌNH SẦU

Thơ: Du Tử Lê – Nhạc: Từ Công Phụng – Hòa âm: Nguyễn Ngọc Châu

BiaSachTrenNgonTinhSau-01.jpg

Tranh của Họa sĩ Đinh Cường vẽ cho bìa sách nhạc “Trên Ngọn Tình Sầu” năm 1970 (ở trên) và 1983

BiaSachTrenNgonTinhSau-02.jpg

TrenNgonTinhSau-DTL-TCP-p1

TrenNgonTinhSau-02.jpg

Khúc Thêm Cho Huyền Châu
(Du Tử Lê – 1967)

hạnh phúc tôi từ những ngầy nước lớn
trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng
bầy sẻ cũ hom hem chiều ngói xám
trời xanh xao chân ngỏ cũng không về
cây mộng nở từng ngón tay lá nõn
nôi tương tư cỏ ấm thịt da người
tôi hiu hắt từ mắt em ngắt tạnh
môi thâm khô từ thuở định xin hôn
ngày tháng hạ khi không mà trở rét
em khi không mà trở mặt điêu ngoa
tay trông ngóng hương đưa mùi tóc mạ
ngọn me xa theo ký ức rì rào
chiều qua đó chân ai còn ríu rít
lời ai say cho trời đất lại gần
kỷ niệm tôi từ những ngày vỡ tiếng
nhản nha gom từng cọng thiết tha rơi
con dế nhỏ lớn lên đằm tiếng hát
khi đêm về ru giọng đớn đau hơn
cây niên thiếu cũng thui mầm trong sáng
lá oan khiên lả tả mái hiên người
tôi èo từ những người cả gió
con dế buồn tự tử giữa đêm sương
bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ
ngọn me xưa già khọm tiếc thương hờ
em ở đó bờ sông còn ẩm cát
con sóng tình vỗ mãi một âm quên

bar_divider

‘Ngậm ngùi khóc bạn’

Nhạc sĩ Từ Công Phụng

DuTuLe-03

Như vậy là Lê đã vĩnh viễn ra khỏi cuộc đời ô trọc này, bỏ lại sau lưng những điều mà “Nhân gian không thể hiểu,” những điều mà Lê cho rằng “Đi và về cùng một nghĩa như nhau” và còn rất nhiều điều nữa kể cả những điều mà Lê chưa kịp nói ra.

Sáng nay tôi bàng hoàng sửng sốt khi nghe tin Lê ra đi một cách đột ngột. Cho đến bây giờ khi viết cho Lê mấy dòng vĩnh biệt này tôi vẫn chưa định thần được là phải bày tỏ cảm xúc như thế nào trước sự mất mát này. Nhớ lại khi tôi đang nằm miệt mài trên giường bệnh thì vợ chồng Lê đã cất cánh từ Santa Ana đến Portland thăm tôi. Tình bạn thắm thiết từ hơn nửa thế kỷ qua đã làm cho tôi xúc động tột cùng khi nghe tin Lê đã ra đi không một lời từ biệt. Từ hơn 10 năm trước trong cơn bạo bệnh tôi tưởng tôi đã ra đi trước Lê nhưng không ngờ tôi ngậm ngùi khóc cho bạn 10 năm sau.

Những kỷ niệm của lúc chúng ta mới quen biết nhau ở Pleiku, của một thời chúng ta cùng chia nhau từng điếu thuốc, chúng ta cùng ngồi tán gẫu với bạn bè bên ly cà phê đắng ở La Pagode Sài Gòn, tất cả tất cả những kỷ niệm cũng đứng lên rồi tan biến vào hư không! Nhưng dù sao tôi với Lê đã để lại chốn nhân gian này những “Trên Ngọn Tình Sầu”, những “Ơn Em” và “Đừng nữa nhé chia lìa” như dấu vết của tình bạn từ hơn nửa thế kỷ.

Không thể nào nói được gì hơn nữa trong cơn bàng hoàng xúc động này. Vĩnh biệt Lê và chúc Lê bước qua phố đời bên kia bằng con đường thênh thang âm vang những nốt nhạc mà tôi đã dành riêng cho Lê.

TCP-DTL

Du Tử Lê, Kim Ái,Từ Công Phụng, Hạnh Tuyền

Từ Công Phụng hát AnimatedNotesƠN EM” – phổ nhạc từ thơ Du Tử Lê (Houston, Texas 2012)

bar_divider

CDNhacPhoThoDuTuLe

blinkingblock Thơ Du Tử Lê phổ nhạc- CD “Giữ đời cho nhau”

bar_divider

Một vài kỹ thuật trong thơ Du Tử Lê

Đặng Phú Phong (*)

TranhDuTuLe-01

Tranh tự họa của Du Tử Lê

Theo dõi thơ Du Tử Lê từ những năm năm mươi của thế kỷ trước đến hiện nay là tập thơ “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” mới nhất của ông, về vần, âm, điệu ta thấy có một đặc trưng là cách sử dụng vần trong thơ đều là vần lơi hay hơn thế là chẳng có vần, trong những đoạn tứ tuyệt 7 chữ hay 8 chữ và 5 chữ, cả ở thể thơ lục bát. Du Tử Lê đã tự đặt nguyên tắc cho mình như thế đó. Đây không phải là một sự bứt phá mà là làm mới cho những khổ thơ 3 vần hay cách vần theo chiều hướng để câu thơ rộng ra theo âm điệu, mênh mang hơn, giàu nhạc điệu hơn.

Tôi thấy ra rằng ông nhốt 3 kỹ thuật làm thơ là vần, âm, điệu chung thành một kỹ thuật là “vần-âm-điệu.” Như vậy là sao? Có nghĩa là Du Tử Lê chăm chút cho thơ mình không những từng câu mà từng chữ. Ông cứ để từng chữ thơ rơi tự nhiên, sự tự nhiên dựa theo cơ bản từ tâm thức gieo xuống, trong những con chữ đâu đó trong đoạn thơ mang vần, mang âm của chữ được mặc định là âm chủ, bất kỳ âm bằng hay âm trắc. Đó là vần ẩn. Hoặc là những chữ có liên quan với vần chủ, trong bất kỳ (những) chữ nào của khổ thơ. Hoặc là dùng những hình ảnh có liên quan với nhau. Những kỹ thuật ấy đan xen với nhau rồi quyện, tỏa thành một nhạc tính riêng trong thơ của Du Tử Lê.

Tôi xin đưa một vài đoạn thơ trong bài Khúc Thụy Du, ông viết năm 1968:

“như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đờ
i”

Đoạn này ông áp dụng vần cách, nhưng thực ra chữ “năm” không vần được với “đời” thì ở đây ta thấy ông dùng 2 hình ảnh rất liên quan một cách thắm thiết, đó là chim bói cá và chiếc cọc nhọn. Và:

mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài

Ta chú ý đến những chữ như: “mịn màng như” “hoang đường như” – “thơ” “nở” và “không bay” “không khép” “không thưa” tất cả những cụm từ này đan quyện lại với nhau làm cho đoạn thơ này có âm hưởng quấn quýt với nhau. Ông đã dùng kỹ thuật vừa âm (mịn màng, hoang đường), vừa vần chỏi (thơ, nở), vừa điệp âm, láy điệu (ba chữ nàng, ba chữ không) tự chúng tạo nên một nhạc tính riêng. Người nhạc sĩ nào bắt được cái nhạc tính riêng từ những bài thơ của ông sẽ tạo nên giai điệu phù họp, dễ đi vào lòng thính giả. Cứ thế, thơ quyện vô nhạc, nhạc hòa với thơ biến thành những bài hát phù trầm, miên man như suối chảy. Điều này có thể giải thích tại sao đa phần những bài nhạc phổ thơ Du Tử Lê trở nên nổi tiếng, được nhiều người yêu thích.

Tim Lomas là một giảng viên về tâm lý học từ Đại Học East London có đề ra một dự án tên là Positive Lexicography Project (tạm dịch dự án thuật ngữ tích cực) nhằm tìm kiếm những từ ngữ từ nhiều nước khác mà tiếng Anh không có để diễn tả những cảm xúc của con người. Trong một bài viết về Tim Lomas, ký giả David Robson của BBC như sau: Lomas cho rằng việc làm quen với những từ này có thể thay đổi cách chúng ta suy nghĩ về bản thân, bằng cách chú ý đến những cảm xúc mà từ lâu chúng ta đã không để ý đến.

Ông dẫn lời Tim Lomas như sau:

“Trong ý thức của mỗi người, có rất nhiều cảm xúc diễn ra cùng một lúc, đến nỗi có thể chúng ta không thể xử lý kịp và để chúng vụt đi mất. Những cảm xúc mà chúng ta có thể nhận biết và phân loại là những cảm xúc mà chúng ta để ý đến; thế nhưng có rất nhiều cảm xúc khác mà có thể chúng ta không hiểu. Vì vậy tôi cho rằng những từ mới này sẽ mở ra những xúc cảm khác mà lâu nay ta chỉ biết thoáng qua.”

Tiếng Việt ta cũng vậy nên rất nhiều những văn thi sĩ đã tự mình tìm những từ khác để diễn tả cảm xúc của mình nhưng nó không trở thành phổ thông hay lâu dài được. Thi sĩ Du Tử Lê cũng vận dụng hết sức mình để tìm những từ mới, thay đổi vị trí tính từ, động từ, trạng từ trong câu thơ. Ông cũng dùng dấu chấm, dấu slash để cách tân. Như vậy Du Tử Lê đã vận dụng cả về mặt hình thức và cả âm-vần-điệu để diễn tả những cảm giác mà ngôn ngữ chưa diễn tả được, còn diễn tả được bao nhiêu, như thế nào thì xin chờ những nhà ngôn ngữ học đánh giá. Tôi nghĩ nếu Tiến Sĩ Tim Lomas đọc được tiếng Việt, cũng rất có thể ông sẽ mượn ở Du Tử Lê một số từ ngữ để bổ sung thêm cho tiếng Anh đấy.

Trong bài nói chuyện tại Hoa Thịnh Đốn, Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã nói về dấu slash của thơ Du Tử Lê như sau:

“Như một tráng sĩ đi tiên phong, Du Tử Lê đề nghị dùng gạch chéo/Slash/như một đao pháp để hoán chuyển chữ trong một câu thơ. Chẳng hạn trong 2 câu:

“còn/rừng/gương/ soi cho tôi
bao dung/núi/đợi. nghiêng vai/sông/ chờ”

Có đến 7 gạch chéo để người đọc có thể hiểu và hoán vị thành “tôi soi gương” hay “rừng soi gương” hay “rừng còn soi gương” hay “gương soi rừng.” Lối hoán vị này đã cởi những trói buộc cho thơ. Sau này… tôi tin chắc có nhiều bạn trẻ khi làm thơ lục bát đổi mới, sẽ thầm cảm ơn Lê đã chỉ đường vạch lối cho họ…”

Giáo sư đã chơi chữ trong khi ông dùng từ “đao pháp” từ những dấu slash chéo ngang như nhát chém của một đường đao, thật mạnh bạo, để chúng ta thấy rằng Du Tử Lê đã mạnh dạn chặt câu thơ của mình mở đường cho người đọc tương tác cùng ông những câu thơ khác tùy theo cảm nhận của mọi người. Riêng cá nhân tôi, hai câu thơ nầy tôi cảm như sau:

“soi cho tôi còn gương rừng
nghiêng vai núi đợi bao dung sông chờ”

Lối tương tác để thành một câu thơ khác, giúp chúng ta hiểu nhiều hơn, sâu hơn thơ của tác giả là một phương pháp rất khả thi nhưng độc đáo vậy.

Cũng theo lối tương tác này, chúng ta thấy những chữ mang âm hưởng hài hòa với nhau trong một đoạn hay bài thơ xuất hiện cùng khắp, không theo một sắp xếp như Tứ Tuyệt, Lục Bát v. v. mà nó ở bất kỳ và tạo thành một nhạc điệu cũng bất kỳ nhưng dễ cuốn hút người đọc.

Cũng trong kỹ thuật “vần, âm, điệu” của Thi sĩ Du Tử Lê, không những ông dùng điệp tự trong một đoạn mà cả trong một câu ông cũng dùng một chữ để lập đi lập lại nhiều lần. Đặc biệt hơn nữa là ông lập lại nguyên cả một số câu thơ trong mỗi đoạn thơ như trong tập thơ mới nhất mang tên: “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” Trong bài thơ “thơ ở mai thảo” ông đã dùng 5 lần 3 câu:

“đã lâu. không còn ai hăm hở hay vội vã,
bước lên căn phòng lầu hai
(sau này là căn phòng dưới chân cầu thang”

Có phải chăng ông muốn nhấn mạnh cái thang thương trong cuộc đời hữu hạn?

hay trong bài thơ “thơ ở nguyễn trọng tạo” ông dùng 3 lần mấy câu sau đây:

“không thể biết bao giờ chúng ta được gặp lại nhau?
trên quê hương đất nước của mình?
nhưng tôi biết…

Đó là những điều tác giả muốn lập đi lập lại để nhắc nhở những điều đã mất, để nhân rộng tiền đề của từng phân đoạn thơ, gây ấn tượng mạnh cho người đọc.

Không thể không nói đến phép ẩn dụ và liên tưởng trong thơ của Du Tử Lê. Ẩn dụ là phép dùng từ ngữ dựa trên sự liên tưởng và so sánh ngầm. Liên tưởng là nhân sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ tới hiện tượng liên quan khác. (theo Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học). Chúng ta có thể hiểu ẩn dụ thiên về sự việc có tính nhân sinh, triết lý còn liên tưởng thiên về hình ảnh hay sự việc hơn. Trong thơ của Du Tử Lê rất nhiều ẩn dụ và liên tưởng. Lấy một thí dụ trong tập “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” (trong hàng ngàn thí dụ): Bài thơ “đêm, vẩy thìa cháo trắng trên hè phố” đây là một tựa đề và cũng là một câu thơ vậy. Câu thơ có cả ẩn dụ và liên tưởng. Ẩn dụ là tác giả muốn nói đến cúng cô hồn; còn liên tưởng là giúp ta tưởng tượng đến sự việc, hình ảnh những cái chết oan uổng, tức tưởi thành những cô hồn lang thang vất vưởng.

Riêng về cách điệp từ nhiều lần chỉ trong một câu như trong bài “Tôi nào?” viết từ năm 1990: “tôi Lê. Lê. Lê. Lê nào?” câu thơ như một tiếng kêu trầm thống.

Ai cũng hiểu trong mỗi chúng ta đều có nhiều “con người.” “con người” cô đơn, “con người “hạnh phúc,” “con người ”tham lam, “con người” vị tha, vân vân và vân vân. Để diển tả ý tường này (đây cũng là phép ẩn dụ) ông chỉ dùng 2 chữ “tôi… nào” kèm giữa 4 chữ Lê gây ra hệ quả một tràng âm thanh vang xa, gặp trùng điệp núi rừng dội lại những vọng âm và tìm trong vọng âm ấy “con người” nào là của chính mình trong khoảng thời gian và không gian ấy.

Ẩn dụ và liên tưởng của câu thơ này chưa đủ diễn tả hết ý tưởng của ông nên ông lại đưa nó lên giá vẽ. Câu thơ đã biến thành bức chân dung của tác giả đang đội chiếc nón lưỡi trai, cặp mắt kính bị bẻ làm đôi, một con mắt nằm ở vị trí bình thường, một con mắt nằm tuột xuống dưới cầm và đặc biệt có môt chấm tròn màu đỏ nằm trên cái lưỡi trai, ngay tầm của con mắt đã bị dịch chuyển. Phải chăng và rất có thể, tác giả muốn cho chúng ta biết rằng, ông, trong một phút giây nào đó chợt nhận ra một “con người” khác của ông đã vì phải sống trong cõi đời ô trọc này nên đành phải nhìn đời chỉ bằng một con mắt. Còn con mắt kia chảy đỏ máu, cho cảnh đời đau khổ này được dấu kín trong sâu thẳm tâm hồn. Câu thơ đã nằm trong những màu sắc nhạt nhòa, vàng thổ của đất, những vòng tròn, những tam giác có lúc khép kín có lúc đứt quãng tạo cho người xem cái cảm giác buồn bã, dở dang của mọi việc trong đời. Nhưng, như vậy vẫn chưa đủ, chưa hết những ý tưởng từ câu hỏi: “tôi Lê. Lê. Lê. Lê nào?” nên ông đã vẽ nó ít nhất là 3 bức.

Nhiều nhà văn, nhà thơ đã bước sang lãnh vực hội họa đều có chung mục đích là dùng màu sắc, đường nét để diễn tả những gì thơ văn không nói được, Du Tử Lê cũng thế. Nhưng ông có khác một chút là ông vẽ câu thơ của mình, thường là đã có. Những dấu hỏi mặt người, những cây cột có đầu người trong tranh đã trở thành những câu thơ có màu, có sắc, vang vọng trong lòng người xem. Ta có thể nói tranh và thơ của Du Tử Lê đã hòa quyện thành một. (Đ.P.P)

(*) Bài phát biểu trong chiều “Thơ, Họa Du Tử Lê” ngày 18 Tháng Tám, 2019, San Jose.

bar_divider

Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển

Du Tử Lê

Nếu tôi nhớ không lầm thì, cuối năm 1977, khi tôi còn ở một căn apartment đường Harbor, thành phố Costa Mesa, ở miền nam Cali, làm tờ báo tên Quê Hương với một vài bạn trẻ thất lạc gia đình… Một một buổi tối, anh Nguyễn Anh Tuấn, một người trong nhóm; khi đó làm công cho một tiệm bánh donut ở vùng Los Angeles; dẫn một người tên thanh niên đen đúa tên là Trần Cao Sáng đến gặp chúng tôi. Anh Sáng kể cho chúng tôi nghe cuộc vượt biển của anh từ Việt Nam. Khi đó chúng ta chưa có danh từ “thuyền nhân / boat people.” Anh TCS là người vượt biển đầu tiên, cách đây 31 năm mà chúng tôi được gặp.

Hành trình, sự liều lĩnh, những thảm kịch trên biển, được nghe từ anh Sáng khiến tôi bàng hoàng, choáng váng. Câu chuyện của anh Sáng ám ảnh tôi nhiều tháng. Cuối cùng, để giải tỏa và, cũng do sự gợi hứng từ câu chuyện của Trần Cao Sáng, tôi viết bài “Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển.”

Bài thơ đi ra trong mặc cảm đã bỏ lại vợ, con, mẹ già ở quê nhà.

Thời điểm này, số người Việt tỵ nạn bị phân tán mỏng khắp nơi. Chưa ai ra khỏi cơn địa chấn đau thương của biến cố 30 tháng 4.

Ở thời điểm đó chúng tôi ra đường, đi làm, rất khó tìm được một người đồng hương! Không một ai trong những năm đầu tỵ nạn kia, dám mơ tưởng rằng, tương lai, có ngày người Việt tụ tập lại và, hình thành những sinh hoạt hội đoàn, cộng đồng như đã, vào cuối thập niên 1980. Khoan nói tới việc có thể về thăm quê hương, đầu thập niên 1990, khi Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam.

Tôi muốn nói, những câu thơ như: “khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển / và trên đường hãy nhớ hát quốc ca…” ra đời trong tâm cảm hoàn toàn tuyệt vọng đó.

KhiToiChet-Minhhoa2

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi, sao trở lại quê nhà

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

 khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma)

khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận huyệt với linh hồn

When I Have Passed Away
Take Me to the Sea

When I have passed away, take me to the sea;
An exile has nothing, even a tomb, though last and key.
Buried in foreign land, my corpse might not decompose,
My spirit can’t leave, how to repatriate as they suppose?

When I have expired, take me to the heavy swells;
The adverse current will push my body without knells.
On the other side of the sea is my native soil,
Rows of bamboos thru time remain green despite coil.

When I have deceased, take me to the Pacific beach;
Remember not too soon to close my eyes, both or each,
So I may direct them towards my country a last time,
Lest my remains should not return to my dear clime.

When I have departed, take me to the west coast;
Do not hesitate or feel compassion for me this ghost.
Years ago, to fishes lots of people did fall prey;
Then, what’s the use of one more distorted body, eh!

When I have faded away, take me to the ocean
For me to see again my children there, what emotion!
For me to watch them shed their hot tears stark
From their eyeballs that are already sadder than dark.

When I have gone forever, take me to the seaside,
And don’t forget our national anthem singing to bide
(Oh, long since, nobody has chanted it anymore,
The song now has become almost a specter to bore.)

When I am dead, that melancholy will definitely end,
My exile’s life and my nostalgic soul will well blend.

Verse translation by THANH-THANH

KhiToiChet01-PDC

KhiToiChet02-PDC

Lê Hồng Quang hát:AnimatedNotesKhi tôi chết, hãy đem tôi ra biển” (mp3)

Nhạc: Phạm Đình Chương –  Lời: ý thơ của Du Tử Lê
Hòa âm, phối khí: Lê Văn Khoa – Nhạc trưởng: Nguyễn Khánh Hồng
Dàn nhạc: Vietnamese American Philharmonic Orchestra
(Chương trình “Màu Kỷ Niệm” – Tưởng nhớ Nhạc sĩ Phạm Đình Chương 21/9/2003 – California – USA)

MauKyNiem-PDC

5bd558ac

Việt Dzũng hát Khi tôi chết, hãy đem tôi ra biển” – nhạc & lời Anh: Việt Dzũng 

5bd558ac

Carry my body to the sea when I am dead

Poem by Du Tử Lê
Translation by Phạm Trọng Lệ

Carry my body to the sea when I am dead.
An exile when living, I don’t have a tomb instead.
If buried in a strange soil, my body may not decay,
Yearning for the motherland, my suffering soul won’t fly away.

Carry my body to the sea when I am dead.
Against the current, westbound my body has fled
Over the ocean ‘til my native land is seen,
Where groves of bamboos are forever green.

Carry my body to the sea when I am dead.
Be not too quick, remember, to close my eyes yet.
Let me see one last time my ancient nation,
Lest my body may never reach its destination.

Carry my body to the sea when I am dead.
Don’t hesitate or feel sorry for the fate I met:
In yesteryears, thousands had been food for fish,
One more twisting body won’t add to it, I wish.

Carry my body to the sea when I am dead.
Let me come back to see my children unfed,
Let me come back to see their tears of sadness,
From their sockets, sadder than night’s darkness.

When I am dead, carry my body to the sea.
On thy way, sing our national anthem, I pray thee!
O! for so long, no one has sung it again in faith,
So the song now floats like an unknown wraith.

When I am dead, my sorrows will cease to be
This life in exile, its soul will set it free.

bar_divider

MuonNganTiecThuong-PhamGiaHung

bar_divider

BÔNG HOA TÍM CỦA CHÀNG THI SĨ HỌ LÊ

** Hồng Thủy **

Ai cũng biết Du Tử Lê là một thi sĩ nổi tiếng, có nhiều tác phẩm đã được xuất bản. Nhưng ngoài những người thân ra, ít ai biết Du Tử Lê được nhiều bạn hữu yêu mến nhất. Tại sao vậy? Tại người ta yêu thơ Du Tử Lê ư? Tôi không nghĩ vậy. Yêu thơ, yêu văn của một người nào, không có nghĩa là người ta phải thích luôn người đó.
Du Tử Lê dễ gây cảm tình với mọi người vì lúc nào anh cũng lịch sự, nhẹ nhàng, hòa nhã. Ai đã tiếp xúc với Du Tử lê dù chỉ một lần, cũng đều dành cho anh rất nhiều cảm tình nồng hậu. Con người của Du Tử Lê khác hẳn với thơ của anh. Thơ của Du Tử Lê táo bạo, nồng nàn, điên cuồng. Anh có một óc sáng tạo thật dồi dào. Những ý nghĩ, những chữ anh dùng trong thơ rất lạ, kể cả lối làm thơ, lối ngắt câu. Nhưng dù ở thể loại nào đi nữa, vẫn phải công nhận thơ Du Tử Lê rất dễ thấm vào lòng người. Mai Thảo đã gọi thơ Du Tử Lê là “Thơ áo vàng”. Thơ áo vàng là thơ về nhất. Thơ chiếm giải khôi nguyên. Dù vậy, Du Tử Lê lúc nào cũng khiêm tốn. Không kiêu ngạo, dù biết mình có tài. Ðó là chìa khóa mở lối đi, đưa Du Tử Lê vào con đường đầy những cánh tay thân ái đón tiếp, và đưa Du Tử Lê đến một chỗ đứng đặc biệt trong lòng mọi người. Chỗ đứng đó, không thể tạo được bằng những tác phẩm thật hay. Cũng không mua được, dù có rất nhiều tiền bạc. Du Tử Lê thường được bạn bè gọi là người đi “show” nhiều nhất. “Show” đây là các buổi ra mắt tác phẩm của anh. Tổ chức một buổi ra mắt sách, dù thật đơn giản, cũng mệt vô cùng. Vậy mà bạn bè vẫn sẵn lòng làm giùm anh, đủ biết Du Tử Lê được qúy mến như thế nào.

Vợ chồng tôi quen Du Tử Lê khá lâu. Từ hồi Duy Trác cùng gia đình mới sang định cư tại Mỹ. Chúng tôi cùng một số bạn hữu có tổ chức “Ðêm Hội Ngộ Duy Trác”, Du Tử Lê tình cờ có mặt ở Hoa Thịnh Ðốn, nên cũng đến tham dự. Lâu ngày quá, nên tôi không nhớ rõ, một trong hai người là anh Nguyễn Văn Phán, cựu Trung-tá Thủy Quân Lục Chiến, hay nhà báo Ngô Phi Ðạm của báo Saigòn Nhỏ đã giới thiệu Du Tử Lê với vợ chồng tôi. Tôi hơi ngạc nhiên vì Du Tử Lê ngoài đời khác hẳn với hình ảnh về Du Tử Lê mà tôi tưởng tượng qua thơ của anh. Tôi vẫn nghĩ, Du Tử Lê cũng phải có cái vẻ khác thường, là lạ như thơ của anh vậy. Nhưng, Du Tử Lê lại là một người rất bình thường, trông có vẻ mẫu mực. Tóc lúc nào cũng ngắn, gọn. Quần áo thật đàng hoàng. Nói năng hòa nhã, đặc biệt là rất nhỏ nhẹ. Lối nói chuyện của anh thành thật, cho người đối diện cái cảm giác họ được anh quý mến thực tình. Biết chúng tôi thích thơ của anh, sau đó, thỉnh thoảng anh đã gửi sách tặng chúng tôi, mỗi khi có sách mới. Ðọc sách “free” của anh Lê hoài cũng kỳ. Mà, gửi tiền trả thì không dám. Cuốn sách do chính tác giả gửi tặng, nó vô giá. Tiền bạc nào mà trả cho xứng đáng được? Tôi nghĩ ra một cách đáp lại lòng ưu ái của anh Lê: Mua quà, gửi tặng chị Lê. Sau đó, chị Lê tức chị Hạnh Tuyền viết cho tôi một lá thư thật dễ thương. Lời thư thành thật và dí dỏm, làm tôi thấy mến chị ngay. Rồi, tôi có dịp gặp Hạnh Tuyền, khi Tuyền cùng anh Lê qua Hoa Thịnh Ðốn. Tuyền thật đơn giản, dễ thương và tôi thích nhất là lối nói chuyện rất thật. Trước khi gặp Tuyền, tôi được nghe một người bạn thân của tôi là nhà văn Bích Huyền, kể nhiều về Tuyền, về mối tình thật đẹp của Tuyền với anh Lê. Nên khi gặp Tuyền, tôi cảm thấy gần gũi và dễ dàng thân thiện được ngay. Từ đấy, chúng tôi cứ điện thoại qua, điện thoại lại, và trở thành thân lúc nào không biết. Nhờ đó, mà tôi biết khá nhiều chuyện vui về anh Lê.

Theo lời Tuyền, anh Lê có trái tim mềm như bún. Một hôm Tuyền đang làm vườn, thấy một con cắc-kè thật lớn, trông dễ sợ lắm. Tuyền chạy vào nhà nói với anh Lê. Anh Lê vội vàng mang bao tay (chàng luôn mang bao tay khi làm những việc nặng, vì chàng có hai bàn tay rất mềm mại, như tay con gái, đó là chú thích của Tuyền) và vác cây gậy thật lớn. Anh Lê định ra ngoài vườn đập chết con cắc-kè.   Nhưng khi nhìn thấy con cắc-kè nằm rất hiền lành, chàng bèn đổi ý. Chàng lấy gậy đập thật mạnh vào đám cỏ gần đó, để cắc-kè sợ, bỏ chạy đi. Tuyền trách: “Anh làm vậy cũng như không. Nó vẫn còn quanh quẩn trong vườn.” “Nó không dám trở lại nữa đâu. Nó di cư qua nhà hàng xóm rồi. Nhìn nó tội nghiệp quá. Anh không nỡ đánh chết.”

DuTuLe-05

Du Tử Lê & Hạnh Tuyền

Một lần chàng trở ra với đôi giầy to tổ chảng ở chân. Nhìn chàng mặc quần “soọc” ở nhà mà lại mang giầy “bốt” to tướng. Tuyền vừa ngạc nhiên vùa không nín được cười. Tuyền hỏi: “Sao tự nhiên anh lại đi giầy bốt để làm gì vậy?” Chàng trả lời tỉnh bơ, mặt rất nghiêm nghị: “Ðể đề phòng Tuyền dẫm chân anh lần nữa.” Ðôi khi chàng rất ngây thơ vô tội. Chàng thích ăn canh rau dền nấu tôm, nhưng chàng không hề biết cây rau dền hình dáng ra sao. Biết Tuyền mê cây, một hôm ở ngoài vườn (nhà hai người có hồ nước, có cầu nhỏ bắc ngang hồ…) chàng thấy góc vườn có một cây nhỏ xíu mầu tím thật đẹp. Chàng nghĩ cô vợ mình mà vớ được cây này chắc mê lắm. Muốn dành cho nàng một sự ngạc nhiên, chàng bèn lén vợ, ngày nào cũng tưới nước chăm sóc cái cây mầu tím đó. Cho tới một ngày, cây đó lớn bổng lên và trổ hoa cũng mầu tím. Chàng hí hửng nói với vợ: “Anh có một món quà đặc biệt cho Tuyền. Anh tìm ra được một cây hoa quý lắm. Cây tím, lá tím, và hoa cũng tím. Chắc chắn Tuyền sẽ mê luôn.” Nói xong chàng lôi tay vợ ra góc vườn. Hãnh diện khoe với vợ tác phẩm của mình. “Anh phải chăm sóc mỗi ngày nó mới lớn và khoẻ được như vậy đó. Loài hoa này yếu ớt lắm. Lúc anh mới tìm ra nó nhỏ xíu và mảnh vô cùng.” Tưởng vợ phải trố mặt ngạc nhiên, vì làm sao chàng có thể kiếm cho nàng một cái cây mầu tím đẹp và lạ đến như vậy. Nhưng chàng thấy nàng tỉnh bơ, chứ không có vẻ gì bất ngờ, lại còn có vẻ như nín cười, và nhìn cây gật gù: “Cái cây này mầu tím đẹp thiệt. Cám ơn anh.” Chàng nở mũi: “Chắc anh phải đi hỏi coi nó tên là gì. Chắc tên cũng phải đặc biệt lắm.” Tới nước này, nàng không nén được nữa. Nàng nhìn chàng cười ngặt nghẽo: “Anh khỏi mất công hỏi làm chi. Tuyền biết tên cây này rồi.” “Sao Tuyền giỏi vậy? Tên nó là gì?” “Tên nó là cây rau….. dền.” Chàng thi sĩ chữa thẹn bằng một câu nói thiệt dễ thương: “Tuyền xạo đi. Cây của người ta đẹp vậy mà kêu là cây rau….. dền.”

Một bữa khác, trời mưa to, nhà bị dột. Tuyền đang bận nấu ăn nên quýnh lên gọi chàng: “Anh Lê ơi! Nhà bị dột.” Chàng thong thả, từ tốn (vì chàng đang bận phì phèo thuốc lá): “Ðể anh lo, có gì đâu mà Tuyền phải quýnh lên vậy!” Tuyền yên chí tiếp tục nấu ăn. Chàng vác cái thang đến gần chỗ bị dột: “Tuyền ơi, lại phụ anh với.” Tuyền chạy lại giữ thang. Chàng vừa từ từ leo thang, vừa hút thuốc, dáng điệu nhàn nhã như đi tìm vần thơ, chứ không phải đi chữa nhà dột. Tuyền phải năn nỉ mãi chàng mới chịu xuống để Tuyền leo lên làm cho lẹ. Tuyền nói: “Mình vừa sốt ruột vì tính anh Lê làm cái gì cũng thong thả, mình vừa sợ ông ấy mơ màng, trượt chân, té xuống thì còn đổ nợ thêm..”

Anh Lê hút thuốc liên miên không cần diêm. Hết điều này, châm điếu khác. Tuyền khôi hài: “Như vậy đỡ tốn tiền mua diêm, càng tốt..” Nghe vậy, tôi dọa Tuyền: “Tốt gì! Anh Lê hút vậy, không những hại cho anh ấy mà còn hại cho Tuyền nữa, Tuyền biết không? Người ta nói ở chung với người hút thuốc dễ bị bệnh hơn người hút nữa đó.” Tuyền cười thật dễ thương: “Làm sao được Thủy. Anh Lê không thể nào bỏ thuốc được.”
Nghe Tuyền nói, tôi thấy anh Lê sao thật may mắn. Có lần nhìn Tuyền mộc mạc, không phấn, không son, tôi nói đùa: “Tuyền phải trang điểm sửa soạn một chút chứ. Trông Tuyền chả có vẻ gì là nàng thơ của anh Lê hết.” Tuyền nhìn tôi cười: “Vậy Thủy trông Tuyền giống là gì của anh Lê?”. “Là cô.. cù lần của anh Lê.” Nói xong, sợ Tuyền giận, tôi vội thêm: “Nói đùa, đừng giận đó nghe.” Tuyền cười nhiều hơn: “Thủy nói vậy mà nhằm nhò gì. Có người còn nói vợ anh Lê trông khờ và ngu nữa kìa.” Tôi tròn mắt ngó Tuyền: “Ai mà nói bậy bạ vậy? Ngu thì làm sao tốt nghiệp Đại học Sư phạm và Cử nhân Văn chương được? Và khờ thì làm sao cua được anh chàng Lê?”. “Tuyền không có “cua” anh Lê đâu.” “Vậy chứ không phải thấy người ta làm thơ hay quá rồi mê à?”. “Cái đó Thủy lầm chết. Từ xưa đến nay, Tuyền chỉ mê kịch và văn xuôi thôi. Chưa bao giờ thích thơ cả. Hồi nhỏ, thỉnh thoảng cũng tập cầm bút, nhờ thế mà quen anh Lê.” “Vậy à, kể nghe coi.” “Lúc đó, anh Lê làm thư ký tòa soạn Tiền Phong của quân đội. Tuyền có ông cậu cũng là nhà binh, cho Tuyền mấy tờ báo. Tự nhiên Tuyền thấy thích tờ báo đó, nên viết truyện gửi đăng chơi. Kèm theo chuyện là vài dòng cho ông Thư ký tòa soạn. Tôi ngắt lời Tuyền: “Thì phải viết thư tán.. ổng, để ổng đăng truyện cho chứ gì?” “Không đâu. Ðã không thèm tán mà trong thư Tuyền còn nói chuyện ngang như cua nữa.” “Tại nhờ viết thư ngang như cua, chàng thấy là lạ nên để ý, và vì vậy mà lọt vào đôi mắt thi sĩ đa tình của chàng phải không?” “Ừ, chắc vậy.” “Rồi kết quả tới đâu?” Giọng Tuyền xìu như cái bánh bao ngâm nước: “Chả đi đến đâu hết vì chàng đã thuộc về người khác rồi. Còn mình, sau khi ra trường, đi dậy học. Rồi cũng đành ngâm câu thơ của T.T.Kh: ‘Nếu biết rằng tôi đã có chồng – Trời ơi người ấy có buồn không..’ chứ còn làm gì hơn được?” Tôi tiếp tục làm thầy bói: “Sau một thời gian dài, hai người cùng đổ vỡ rồi gặp lại nhau, nối lại tình xưa phải không?” “Ừ, cám ơn trời, đã cho Tuyền gặp lại anh Lê. Tuyền chỉ muốn mãi mãi làm cô vợ khờ và ngu của anh ấy.”  Nghe tâm sự của Tuyền xong, tôi thấy ông bạn Du Tử Lê qủa thật có phước. Tôi lại làm thầy bói thêm một lần nữa: “Ông này khi sinh ra chắc phải đẻ bọc điều, nên mới tốt số như vậy?”

Bài văn trên tôi viết từ tháng 6 năm 2000. Mười chín năm qua cô bạn Hạnh Tuyền của tôi vẫn yên vui  hạnh phúc với mộng ước đơn giản đó bên cạnh chàng Thi sĩ tài hoa , chữ” tài hoa” của chàng đôi khi lại bị viết nhầm thành “đào hoa”. Dĩ nhiên “đào hoa” thì dù bạn tôi có là cô vợ” khờ” nàng cũng không khỏi buông tiếng thở dài… Nhưng tình yêu đằm thắm hiền hoà dịu dàng của nàng đã biến chàng trở thành ông chồng ngoan nhất nước hồi nào không hay.

Mỗi lần sang Cali chúng tôi lại gặp nhau, đi ăn bữa cơm mừng  hội ngộ. Nhìn anh Lê khoẻ mạnh, vui vẻ và khuôn mặt Tuyền tràn ngập hạnh phúc tôi mừng cho cô bạn thân yêu. Cuộc sống của Tuyền càng ngày càng thăng hoa bên chồng, con, cháu. Anh Lê ơi, gia đình đang đầm ấm như vậy sao anh nỡ dứt áo ra đi nhanh đến không kịp nói lời giã biệt với những người thân?
Tôi biết Tuyền đang rất buồn, buồn vô cùng… nỗi buồn này chả biết  bao giờ mới nguôi ngoai được, bởi vì hình như cuộc đời Tuyền chỉ sống vì anh Lê. Tuyền ơi, có một bài hát của Phú Quang mà Thuỷ rất thích, bài “Điều giản dị”. Anh Lê cũng thích bài này lắm, hình như Thuỷ đang nghe anh ấy hát: “Người yêu ơi, dù mai này cách  xa, mãi mãi diệu kỳ là tình yêu chúng ta, và anh biết một điều thật giản dị: càng xa em anh càng thấy yêu em.”

Hãy vui sống với lời nhắn nhủ đó nhé cô bạn thân yêu của tôi.

Hồng Thuỷ
Hoa Thịnh Đốn tháng 10 năm 2019

Quang Dũng & Ngọc Anh hát AnimatedNotesĐIỀU GIẢN DỊNhạc & lời: Phú Quang

DuTuLe-04

Hàng đứng: Hồng Thuỷ, Thanh Bình, Hạnh Tuyền
Hàng ngồi: Bùi Cửu Viên, Du Tử Lê, Lệ Thuý, Kim Tước

bar_divider

Du Tử Lê/‘Chỗ ngồi thôi đã bỏ…’

** Nhạc sĩ Đăng Khánh **

Thi sĩ Du Tử Lê đã mệnh chung, ngôi sao vĩ đại của Thi Ca Việt Nam đã vụt tắt trên nền trời thu ảm đạm.

Tôi đã thực sự bàng hoàng cả buổi sáng trên đường đi khám bệnh, và vẫn còn bàng hoàng như thế khi đang ghi vội những trải lòng này, như một nén hương lòng tiễn đưa người bạn quí, người thi sĩ, “Ông Hoàng của Tình Ca,” đi về miền vĩnh cửu.

Tôi muốn được gọi thi sĩ Du Tử Lê là “Anh Lê” như lúc sinh thời anh đã muốn chúng tôi là “anh em” là “toa, moa” trong tình bạn đã gần nửa thế kỷ. Một tình bạn thuần khiết và chân thật, phát xuất từ thi ca Du Tử Lê và âm nhạc Đăng Khánh.

Là một trong những người có cơ hội gần gũi anh Lê, trên cả hai ngữ nghĩa, được anh trao và đón nhận những trao đổi nội tâm, càng ngày chúng tôi càng quí mến con người bên trong của tài năng thi ca ấy. Và lạ thay tôi đã hiểu được một cách rất hồn nhiên một điều mà nhiều người thấy lạ: Đó là “Tính Chung Thủy Tuyệt Đối” của thi sĩ đối với Phụ Nữ và Thi Ca. Dĩ nhiên chúng ta phải hiểu điều này dưới lăng kính rất hồn nhiên của người nghệ sĩ của mọi thời.

Và cứ như thế tôi đã yêu Thơ Tình Du Tử Lê và yêu Thi Sĩ Du Tử Lê trong cái hoàng hôn tranh sáng tranh tối của cuộc sống này.

Có một lần họa sĩ Đinh Cường đã viết cho tôi, mở đầu với câu: “Là người nghệ sĩ, chúng ta sống bằng cảm nhận…” Quả đúng vậy, anh Lê và chúng tôi đã đến với nhau bằng cảm nhận, và chính những cảm nhận ấy của tình bạn đã được thể hiện qua những hôn phối thi ca và âm nhạc của Du Tử Lê và Đăng Khánh.

Những ca khúc phổ từ thơ của Du Tử Lê như: K.Khúc của Lê, Em Ngủ Trong Một Mùa Đông, Lệ Buồn Nhớ Mi, Hạt Mưa Bay Cuối Đời,… đã ghi lại cho đời mối tình bạn thân thiết và trân quí ấy.

Thi sĩ Du Tử Lê vĩnh viễn rời bỏ chúng ta, nhưng ngôn ngữ, Tình Yêu bát ngát, sự hồn hậu và thủy chung trong dòng thi ca ấy vẫn cuồn cuộn chảy trong hàng triệu trái tim người yêu thơ nhạc Việt Nam.

Vĩnh biệt thi sĩ Du Tử Lê.

Nguyện cầu “Toa” an nghỉ bình an trên cõi vĩnh hằng.

“Một đời không dậy nữa, Một đời thôi cũng thôi”…

DuTuLe-06

EmNguTrongMotMuaDong-DTL-DK-p1

EmNguTrongMotMuaDong-DTL-DK-p2

Trần thu Hà hát: AnimatedNotesEM NGỦ TRONG MỘT MÙA ĐÔNG(San Jose, CA –  7/ 2010)

Nhạc sĩ Đăng Khánh phổ nhạc từ bài thơ:

chẳng bao giờ dậy nữa

em ngủ trong rừng cây
giữa mùa hè rực rỡ
bày hạc không về đây
lá xanh. mềm hơi thở

em ngủ trong mùa thu
những hàng cây lưng gù
gánh tình tôi héo rụng
ngày sau trong tâm tù
nhớ em trăng rất muộn

em ngủ trong mùa đông
cánh đồng tôi nước ròng
em đi qua bến sông
nhớ gì chăn gối cũ
linh hồn tôi ăn năn
về giữa ngày giá buốt

em ngủ trong mùa xuân
mùa xuân đã âm thầm
bàn chân khua góc phố
tôi rơi cùng cô đơn
em còn không tiếng nói?

em ngủ trong lòng tôi
chẳng bao giờ dậy nữa
một đời rồi cũng thôi
chỗ ngồi kia đã bỏ.

bar_divider

Tình bạn giữa Đinh Cường và Du Tử Lê

DuTuLe-10

DU TỬ LÊ VÀ HOA THUỐC PHIỆN

Đã vẽ nhiều chân dung bạn. Mỗi lần vẽ là một lần nhớ lại.
Nhớ những năm 60, Sài Gòn bạn, trong bộ đồ nhà binh ủi hồ thẳng cứng, hoa mai đen trên cổ áo mầu rêu. Ngồi trên chiếc Lambretta, vai hơi nghiêng.
Ghé qua La pagode.
Một thời, và một lứa, nay còn đây, đếm trên đầu ngón tay…Đã nửa thế kỷ…
Còn lận đận không?
Vẫn nhớ khi vẽ chân dung bạn, lần khác, vẫn dáng đi nhẹ tênh, hai vai rút, lưng hơi gù, mặt như cúi xuống mà đôi mắt luôn nhướng nhìn lên.
Đôi mắt đắm đuối, giọng nói đắm đuối…
Và vầng trán rộng.
Và vì sao bức chân dung kế tiếp nữa, là tóc bạn như rơm…rơm, rơm rạ để nhúm bếp ở quê, như hồn mẹ.
Bạn luôn ôm hình ảnh mẹ, hình ảnh chị, hình ảnh bạn bè.
Luôn và, và…
Còn những người tình thì Đẻ ra Thơ.
Cũng có thể kể là những thời kỳ Hồng, thời kỳ Xanh, hay Xám.
Mà cũng có thời như lửa rực.
Và, vì sao bức chân dung vẽ Du Tử Lê tháng 10 năm nay lại hiện ra những đốm hồng, xanh non của Hoa Thuốc Phiện.
Có phải hồn Thơ bạn nửa thế kỷ nay là một hồn thơ luôn vây khổn hồn người…

ĐINH CƯỜNG,
Virgina 10. 10. 2007

DuTuLe-09

Một ngày cùng Du Tử Lê

SachToiVoiNguoiChungMotTraiTim-DuTuLe

Từ Santa Ana – California
lên ra mắt sách ở Virginia
tới tối hôm qua bạn phone
ngay. hẹn mai gặp cà phê

sáng ăn phở ông Toàn nấu
tại nhà Nguyễn Hữu Bình
có Nguyễn Mạnh Hùng. có
Nguyễn Tường Giang…

chiều 3 giờ ra Kobe House
chỗ ông Ngụy Vũ tổ chức
tiệm toàn ghế màu đỏ rực
đông kín người đến dự

diễn giả Nguyễn Thế Toàn
lên nói về bạn mình thời
đi học. Phạm Trần lên nói
về tác giả và tác phẩm…

và những tiếng hát và những
bản nhạc quen. Khúc thụy du
như loài chim Bói Cá trên cọc
nhọn trăm năm…

tự nhiên nghe mà liên tưởng
đến nhà thơ vô địch (chữ của
Mai Thảo) ấy. luôn thích đứng
trên cọc nhọn. nhưng vô cùng
nhân ái: tôi với người, chung
một trái tim.

mừng bạn tôi rất vui chiều nay.

Virginia, October 5, 2014
Đinh Cường

DuTuLe-11

ĐINH CƯỜNG VẼ DU TỬ LÊ

Tranh-Dinh-Cuong-Du-Tử-Lê-03

Tranh-Dinh-Cuong-Du-Tử-Lê-01

Tranh-Dinh-Cuong-Du-Tử-Lê-02

Tính Chất Thi sĩ trong Nhật ký Thơ Đinh Cường

(Bài nói chuyện của Du Tử Lê trong buổi tưởng niệm họa sĩ Đinh Cường tại phòng Sinh Hoạt nhật báo Việt Báo, Cali ngày 30 tháng 1- 2016)

DuTuLe-TuongNiemDinhCuong-2016

Kính thưa quý vị và, các bạn

Hiện diện trong phòng sinh hoạt này, tôi thấy có rất nhiều họa sĩ nổi tiếng. Trong số đó, có khá nhiều họa sĩ làm thơ. Có thể vì -Thi trung hữu họa – và ngược lại Họa trung hữu thi.

Nên, việc họa sĩ Đinh Cường làm thơ, âu cũng là điều bình thường.

Sinh thời, ông làm thơ nhiều, cũng như có nhiều thơ hay, nên tính chất thi sĩ của ông, đã được văn giới biết tới và ghi nhận.

Tôi nhớ từ cuối thập niên 1950, tôi đã được đọc thơ Đinh Cường trong một số Tạp chí ở Saigon. Nhiều nhất là trên tạp chí Mai – Thuở đó, do nhà văn Bửu Ý phụ trách phần biên tập.

Sau này, ở hải ngoại, một số cơ quan truyền thông đã sưu tầm và đăng lại khá nhiều thơ Đinh Cường, trước tháng 4-1975.

Hơn thế nữa, cách đây gần hai năm, tức 2014, ông đã có 2 thi phẩm được ấn hành. Đó là tập “Cào lá ngoài sân đêm” do Thư Quán Bản Thảo, ở tiểu bang New Jersey xuất bản. Và, tập “Tôi về đứng ngẩn ngơ” do Quán Văn ở Saigon, ấn hành, cũng trong năm 2014.

Tôi xin đọc hầu quý vị và các bạn một vài trích đoạn thơ Đinh Cường, trước tháng 4-1975. Bài “Nói Với Biển”:

“Không còn một con dã tràng nào đâu / em đừng tìm kiếm / bờ cát ướt và những vỏ sò trắng / loài cây hoang / không nói một lời / mưa rất nhiều trên núi đó / bóng người đi rất xa / bây giờ anh sợ hãi / nhiều lô cốt đen / (đừng ai bắn tôi và tôi sẽ ngã chết) / buổi sáng tôi nghe sóng lớn / biển động kia rồi / em hãy làm dấu thánh trên cát / bài hát rất buồn / như quê hương”…

Hoặc:

“Khi nàng mở mắt to nhìn lên / mây hãi hùng đổ xuống / và gíó, gió trên đồi cao / chàng và nàng chạy đuổi / bằng chân không / ngoài bờ sông những ngọn đèn sáng lên, vai cầu trắng / thành phố sương mù / nàng gầy như lau sậy / tóc nàng mắt nàng / với màu áo lụa đen chàng lẩn trốn / chàng quên hết / đó là siêu hình riêng của chàng / hạnh phúc dịu dàng như đồng cỏ / nàng hát buổi chiều như sao băng.”

Hoặc nữa:

“Những buổi chiều ta qua vùng Bình Long / buồn biết mấy / ôi những cánh rừng cao su trong tuổi nhỏ ta / mang đầy vết thương tàn nhẫn / làm sao ta lấy nhựa làm trái banh / những người phu không còn đi lấy mủ / bây giờ những xác người làm rừng cao su sợ hãi / bom đạn tha hồ rơi như mưa / những chiếc lá úa phủ đầy trên hố thẳm / ta bước đi buồn quá đỗi chiều nay / những chiều mặt trời không thấy ta lẻ loi…”

Không cần phải động não nhiều, chúng ta cũng thấy thơ Đinh Cường thơ mộng, lãng mạn, đẹp, như tranh của ông.

Nói cách khác thơ Đinh Cường là tranh, được ông vẽ bằng những con chữ đầy hình ảnh và, cảm xúc… Hai tố chất cần thiết cho một bài thơ.

Vì thế, với tôi, Đinh Cường đã có những bài thơ hay. Những bài thơ được viết bằng tâm-thái của một thi sĩ, đích thực.

Kính thưa quý vị và, các bạn

Vài năm trước khi từ trần, họa sĩ Đinh Cường làm thơ hầu như mỗi ngày. Có ngày ông làm được nhiều hơn một bài thơ. Như thể ông viết nhật ký, bằng thơ, liên tục mỗi ngày.

Tuy nhiên, tất cả những bài thơ có tính nhật ký của ông, với tôi đều có nhiều hình ảnh và đầy thi tính.

Tôi gọi đó là “Tính chất thi sĩ trong nhật ký thơ Đinh Cường”
Qua hàng trăm bài nhật-ký-thơ của Đinh Cường, người ta thấy bất cứ điều gì ông thấy, ông gặp, ông nghe, ông nhớ trong ngày, cũng có thể thành thơ.

Những dòng thơ tự nhiên, nếu không muốn nói là hồn nhiên, như thẻ thơ- – Hiểu theo nghĩa:

Thấy gì ghi nấy, nhớ gì, nói nấy.

Từ chuyện gặp bạn, nhớ bạn hay xa bạn; từ một góc bếp hay khi ông nhớ những tách nước trà sớm mai, tới những cảnh tưởng khi ông ra đường, thấy và nhớ một hình ảnh, một ký ức nào đó, sống lại trong tâm trí ông, cũng có thể giúp ông viết xuống, ghi lại thành thơ. Thậm chí khi đau ốm, nằm một chỗ, nhìn thấy các kệ sách, cũng giúp ông có những bài thơ trong sáng.

Tôi thí dụ, một đoạn thơ ông viết cho một người bạn trẻ của ông, họa sĩ Nguyễn Đình Thuần:

nhớ không Thuần cánh cửa sổ
khu chung cư ấy đêm về mở ra
bạn đứng phà hơi thuốc nhớ Nhã Hương
kêu điện thoại khó khăn bấm số thẻ dài dòng
có đêm nấu hai tô mì gói ghé mua ở chợ Tàu
thấy ngon, thêm mấy lon bia Heineken
bạn ưng uống bia hơn chát đỏ

Lê Tài Điển thì điểm tâm đã một chai La Fleur Pauillac…

Hoặc:

Khi người thi sĩ ấy vẽ
dưới giàn hoa ngoài sân
ôi sao mà ánh nắng
hòa cùng màu xanh trong
Khi người thi sĩ ấy vẽ
đeo găng tay, áo che
mới thấy là rất điệu
những nét vòng đen kia…

Hoặc nữa:

Sáng dậy sớm
nấu nước sôi pha ly trà xanh
chụm hai bàn tay ấm
tiếng xe sớm rộn, mất hút
ngoài trời chưa sáng tỏ
những ngày Cali trở lạnh
Giờ này trên ngọn đồi thông
bên chân cầu Ðại Lào
người bạn đã trở về
căn gác tối
trong căn nhà gỗ nhỏ
có ống khóa to
luôn khóa chặt…

Thưa quý vị và, các bạn,

Hiển nhiên, đó là những lời nói bình thường, không trau chuốt, không cầu kỳ… Nhưng chúng vẫn là thơ. -Tại sao?

Vì đó là những dòng chữ đầy thi tính, đầy hình ảnh và, cũng không thiếu những liên tưởng đẹp hay những ẩn dụ mà, trong lãnh vực thi ca, thì đó là những kỹ thuật cần thiết, để được gọi là thơ.

Tôi nhớ đọc đâu đó, nhà thơ Đinh Trường Chinh, thứ nam của họa sĩ Đinh Cường, đã ghi lại rằng, nhiều người than phiền thơ nhật ký của thân phụ anh, mang tính kể chuyện, tầm thường, thậm chí lảm nhảm…

Nhưng thực tế, phong cách nhật lý thơ của Đinh Cường đã lan tỏa tới nhiều người khác.

Gần đây, tôi được đọc hai bài thơ làm theo phong cách nhật ký thơ kiểu Đinh Cường.

Đó là hai bài thơ mới nhất, một của nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, ở Saigon và, một của nhà thơ Trần Yên Hòa, ở Hoa Kỳ.

Tôi không biết rồi đây, phong cách nhật ký thơ kiểu Đinh Cường sẽ lan tỏa đâu nữa?

Nhưng nhiều phần, theo tôi, tương lai, phong cách nhật ký thơ của Đinh Cường, sẽ trở nên phổ biến hơn – – Và khi ấy, có thể phong cách đó, sẽ trở thành một thứ “Trường phái nhật ký thơ” mà, Đinh Cường chính là người khai sáng vậy.

Kính thưa quý vị và, các bạn,

Cách đây hơn hai tuần, trước khi Việt Báo Xuân ra đời, có đăng bài “Tạ Ơn” – một trong những bài thơ cuối cùng của Đinh Cường thi sĩ – – Tôi đã được thi sĩ Trần Dạ Từ đọc cho nghe…

Nguyên văn bài thơ đó, như sau:

“Nghĩ là ta tạ ơn ai
tạ ơn Trời Đất một mai sớm chiều
kể từ chập chững liêu xiêu
đến khi già yếu phải dìu bước đi
Tạ ơn, còn nói năng chi
chắp tay mà vái, thầm thì niệm kinh
bàn tay Phật chỉ anh minh
tưởng trăng là bóng của mình là sai
Bóng ta từ lúc đổ dài
đường chiều qua mấy ngõ đầy lá thu
bóng ta từ sớm sương mù
tạ ơn Trời Đất đền bù, nắng lên…

Hai câu thơ cuối của bài thơ Tạ Ơn:

“bóng ta từ sớm sương mù / tạ ơn trời đất đền bù, nắng lên”

Theo tôi, như một dự báo, thi sĩ sẽ chia tay cuộc đời, chia tay chúng ta một cách êm ả, như chi tiết mà gia đình ông đã cho biết.

Họa sĩ / thi sĩ Đinh Cường cách gì, cũng đã… đi xa. Nhưng thơ cũng như họa của ông, chắc chắn sẽ còn ở lại với muôn sau.

Trân trọng cám ơn quý vị và, các bạn.

Du Tử Lê
(Garden Grove, 30 tháng 1- 2016)

NTTBinh-DuTuLe-DinhCuong-PCHoang

Từ trái: Nguyễn Thị Thanh Bình, Du Tử Lê, Đinh Cường, Phạm Cao Hoàng

bar_divider

DuTuLe-12

Được tin thi sĩ Du Tử Lê vừa qua đời ngày 7 tháng 10 năm 2019

Xin chia buồn cùng chị Du Tử Lê và tang quyến. Thôi từ nay “Tôi Xa Người” vĩnh viễn.

Phạm Anh Dũng – San Diego, California

ToiXaNguoi

AnimatedNotes Tôi Xa Người  – thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Anh Dũng
(Duy Trác hát, Duy Cường hòa âm – Hoàng Khai Nhan video với tranh vẽ của Du Tử Lê)

AnimatedNotes Sông Ngọc  – thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Anh Dũng

(Trọng Nghĩa hát, Duy Cường hòa âm, Hoàng Khai Nhan video)

TranhDuTuLe-02.jpg

bar_divider

Du Tử Lê Nhà Thơ Của Khám Phá

** TẠ TỴ **

Thơ Du Tử Lê là một sợi giây nối dài từ Việt Nam, quê hương yêu mến qua nước Mỹ, mảnh đất tạm dung. Nói đến thơ Du Tử Lê là nói đến khám phá, trong mỗi từ, mỗi ý.

Khen hay chê đã vượt khỏi mức của một tài hoa phong phú, trong một con người đa dạng.

Những vần Lục bát hoặc những câu thơ Tự do từ năm 1960, nó không còn ở ngoài chúng ta nữa. Đích thực nó đã thẩm thấu vào tâm hồn chúng ta rồi vượt thoát, nó lang thang bay bổng như mây trời trên cao, theo gió phiêu du về những chân trời mới trong lòng vũ trụ.

Tôi đã đọc thơ của Lê nhiều, thật nhiều,nhưng thơ của Lê đã bỏ xa thơ Lê những năm về trước, để khoan thai bước vào một tòa lâu dài uy nghi và tráng lệ, ở đấy đã có những khát vọng và ngưỡng mộ chào đón. Không một ai có thể đoán trước được những dài rộng của những kẻ có thực tài và có một tâm hồn hiến dâng cho cuộc đời những giá trị hằng cửu của từng dòng thơ rớt xuống tự trời cao.

Thơ của Du Tử Lê hôm nay như con chim đại bàng đang soải cánh đo không gian và đo cả chiều dài của thơ mình trong lòng những người mến mộ Du Tử Lê.

Nhưng muốn được như vậy không phải dễ, một sớm, một chiều ta có thể tóm bắt được những gì ta hằng mơ ước. Nó phải phấn đấu, phải tự vượt, phải tự tra khảo mình để tìm kiếm chất liệu của thơ đang bay lượn, ẩn ấp đâu đó, để hiến dâng cuộc đời, chẳng mong được sự trả ơn, mà chỉ mong người đời hiểu được những ý nghĩ thầm kín ấp ủ sau hàng chữ làm nên vần điệu siêu thoát. Hai chữ thi nhân nó là cái nghiệp, chẳng phải ai muốn cũng được. Chỉ có những người mà định mệnh bắt phải kết duyên với nàng Thơ, mới có được cái ân sủng đó thôi!

Làm thơ không khó, nhưng làm thơ hay quá khó. Nó không phải là sự lựa lời chọn chữ để ghép câu, hoặc tự do phóng túng bày tỏ những gì mình muốn nói, muốn bày tỏ cùng kẻ khác cái tâm sự đa đoan phơi bày trên lòng giấy trắng. Không, thơ không như vậy. Mallarmé, nhà thơ Pháp ở cuối thế kỷ 18, thuộc phái Tượng Trưng nói: Làm thơ là sự kết hợp giữa trí tuệ và ngôn ngữ. Chữ nào được tôi dùng trong thơ, trước hết, chữ đó phải có tính chất Thơ. Ai đọc thơ của Mallarmé cũng kêu khó hiểu, nhà thơ cho rằng thơ của mình không khó hiểu, chỉ tại quý vị yêu thơ, đọc thơ ít chịu suy nghĩ để tìm hiểu đấy thôi! Cũng như Appollinaire đã chuyển hướng thơ của mình từ phái Tượng Trưng qua trường Siêu Thực (Surréalisme) do tiến bộ đòi hỏi. Nhưng xét cho cùng, dù thơ thuộc loại nào, trường phái nào đi nữa,trước hết thơ phải có tính truyền cảm và gợi lên ở trong trí tưởng những hình ảnh mà cuộc đời đã in dấu vào hồn mình, không cách gì chối bỏ! Mình phơi bày trên giấy trắng với ngòi bút những ăn năn cùng những nỗi ám ảnh không sao xóa bỏ trong lòng!

Nói cho đúng thơ Du Tử Lê không quá khó hiểu và cũng chẳng dễ dàng tiếp nhận. Muốn tiếp nhận những vần thơ làm theo thể tự do, người đọc phải kiên nhẫn gỡ từng mối chỉ rối, vì cố ý, người thơ đã trộn lẫn vào nhau để tìm sự hòa hợp cho ý nghĩ. Một khi mối chỉ đã gỡ xong, người đọc thơ cũng đã góp phần vào công việc sáng tạo.

Từ vạn cổ, người làm thơ luôn luôn cô đơn, mình làm thơ cho người khác đọc, tiếc thay, phần đông những người đọc thơ chỉ muốn đọc những gì mình có thể nhận biết ngay sau khi đọc, còn chiều sâu của thi ca là vấn đề của tác giả hoặc các nhà phê bình văn Học! Như vậy thiệt thòi qúa, thiệt thòi cho cả người làm thơ lẫn người yêu thơ. Thi sĩ làm thơ chẳng để ngâm nga một mình cho vui miệng. Không, không phải như vậy. Chính thực thi nhân phải mở trái tim mình ra để cho nguồn cảm thức rung động theo nhịp trái tim làm nên những vần điệu dù mơ hồ bóng gió, hay tỏ bày trực tiếp những nỗi niềm dù nhẹ nhàng hay cay đắng, nó là tinh túy của chất thơ tạo bằng sự thành thực nhất, sự dũng cảm nhất mà thi nhân có thể có được.

Thơ Du Tử Lê hôm nay, một mình một cõi,không chịu ảnh hưởng của ai. Nó như ngọn núi sừng sững giữa trời cao, gió cả, mặc cho mưa gió, bão tố dập vùi.

Thơ Du Tử Lê thật đáng yêu, nhất là ở những bài thơ tình. Cái tình yêu ấy không đơn thuần giữa đôi nam, nữ vừa bắt gặp đã quấn quýt hay đã đứt đoạn, chia lìa. Biệt ly nào mà chẳng buồn… Định mệnh đã bắt như vậy, Những kẻ yêu nhau phải cúi đầu chịu tội. Du Tử Lê lại có qúa nhiều duyên nợ với tình, mà cuộc tình nào trước sau gì cũng phải trả nợ bằng nước mắt, nó làm cho cuộc đời của thi nhân biến thành bi kịch. Nhưng Lê là con người gan lì, chẳng bao giờ chịu bỏ cuộc chơi. Tuy thế, Lê vẫn yêu quê hương với lũy tre, bụi chuối, yêu tiếng khóc, câu cuời của mẹ già, nơi chốn cũ, nơi Lê thường lui tới tìm về kỷ niệm:

  lòng già sớm bạc cơn mong
sáng, vun chân mộ, chiều, trông nhang tàn
mẹ ngồi một cõi chia tan
óc moi xác những đứa con đã vùi
lưng đeo đá nặng một đời
bảy mươi năm đó còn hoài giọt, sương…

(Đêm mưa về Chí Hòa Thăm Mẹ, trích Thơ Du Tử Lê 1967-1972, tái bản tại Hoa kỳ, 1983.)

Nhưng tình mẫu tử với Du Tử Lê cũng như một thoáng qua, nó có đó rồi tan đi như cây nhang đã cháy hết phần của nó, vì Lê còn nhiều nhớ thương khác.

Những chuyện tình luôn luôn làm xáo trộn đời Lê. Nhưng Lê không có can đảm từ chối…, trừ trường hợp đặc biệt đối với Donna, một cô gái Mỹ rằng, không bao giờ Lê

quên, hoặc rời bỏ Việt Nam bất cứ vì lý do nào:

không bao giờ đâu Donna
dù anh có yêu em
hơn bất cứ thứ gì có trên đất Mỹ
thì anh cũng vẫn trở về
quê hương anh với cả trăm ngàn khốn khó
nơi anh sống chui rúc như chuột
trong một căn nhà tôn vách ván
nơi người yêu anh đang từng giây mong đợi
(nàng cũng có một mái tóc dài thả xõa như em
nàng cũng có đôi mắt mở to sáng trong nhẫn nhục
tất nhiên tóc và mắt của nàng thì đen)
không bao giờ đâu Donna, Donna
dù anh có yêu em…

(Vỡ Lòng Cho Một Người Con Gái Mỹ, sdd…)

Như vậy, Du Tử Lê đã chấp nhận tất cả mọi khổ đau, Lê từ chối mọi ân tình ngoài ân tình với quê nghèo đói và đôi mắt với dòng tóc đen. Có lẽ nó là ý muốn cuối của một người Việt Nam yêu quê hương, bằng lòng từ bỏ mọi ân sủng do cuộc đời ban phát!

Bài thơ Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển, theo thiển ý, bài này có một giá trị nghệ thuật không thua gì bài thơ Chờ Anh Em Nhé của Simonov, Nhà thơ Nga, làm trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, do Tố Hữu dịch. Đại ý bài thơ nói với người tình (hay vợ) hãy cố khắc phục gian khổ, khó khăn, đợi anh về, sau khi chiến thắng quân thù! Một đằng, dù thân xác lưu vong này chẳng may có chết nơi đất lạ, quê người, thì xin hãy đưa xác tôi ra biển, vì biết đâu nước biển chẳng đưa đẩy xác tôi trở lại quê nhà:

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác tôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì xá gì thêm một xác cong queo

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối

khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma)

khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

12.77

(Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển, Trích Thơ Tình / Love Poems, in lần thứ 4.)

Những câu thơ trên vừa buồn vừa đau đớn, nhưng may thay, đây chỉ là thơ, là tâm hồn bay bổng trên vùng trời sáng tạo.

DuTuLe-14

Từ trái qua: Du Tử Lê, Hạnh Tuyền, Tạ Tỵ, Phan Diên

Không hiểu sao tôi không chấp nhận được những bài thơ phổ nhạc, dù có nhiều bài thơ phổ nhạc rất hay. Có lẽ, tôi thường nghĩ thơ là thơ, nhạc là nhạc. Nếu không thế người làm thơ chỉ là kẻ viết lời cho nhạc. Thơ và nhạc là hai ngành riêng biệt. Thơ làm ra để bày tỏ những thiết tha chất ngất, những nỗi niềm không giải tỏa, những vết chém từ lưỡi dao bén, ngọt như hương vị của tình yêu, những đam mê đến chết không rời… Đó, đó là Thơ với ý nghĩa trọn vẹn nhất. Một khi thơ đã được hát lên rồi, cái chất thơ đã mất đi phần tinh túy của nó. Nó như một người ái nam, ái nữ,chả ra làm sao. Hỡi! ai đó hãy chứng minh dùm tôi có một bài thơ nào được phổ nhạc, còn nguyên vẹn tính chất thơ hay không? Hay nó biến bài thơ thành lời của bản nhạc? Bài thơ sẽ mất đi cái hay riêng của nó, và trở thành nô lệ cho cung bậc dù qua tiếng hát của ca sĩ thượng thặng đi nữa. Thơ có cái hay của thơ. Nhạc có cái hay của nhạc. Thơ để đọc, để suy gẫm về lời và y thơ, chứ không phải để nghe tiếng đàn, tiếng sáo cùng các nhạc khí làm mất hết cái uy thế của thơ, thơ chỉ còn là phần phụ, phần chính là nhạc. Sự thực cả hai đều là chính, nếu ta đừng giao duyên chúng với nhau.

Ngay như bài Khúc Thụy Du, một bài thơ rất hay của Du Tử Lê, khi nó được phổ nhạc, thì kỹ thuật âm nhạc đã nắm giữ phần chính, thơ chỉ còn là phần lời hát.

Cũng như hội họa, tác phẩm là tác phẩm, minh họa là minh họa, vì nó có 2 phần kỹ thuật khác nhau. Người ta không thể xử dụng thay thế cái nọ cho cái kia được.

Xin cám ơn Du Tử Lê đã cho tôi những rung động sâu thẳm, qua những vần thơ, đã cho tôi được cùng sáng tạo, qua những slash!… Tuy vậy, cũng khó lắm lắm!…

TẠ TỴ
(Tuần báo Đời Nay, Hoa Thịnh Đốn, ngày 1 tháng 5 – 1997)

====================

Tạ Tỵ – Chân dung Du Tử Lê

Cuối năm 1966, tôi bị thuyển chuyển về cục Chính Huấn, phòng Kế Hoạch.

Hồi đó, cục Chính Huấn nằm trong doanh trại Lê Văn Duyệt, thuộc Biệt khu Thủ Đô, trên đường Lê Văn Duyệt, Saigòn.

Một buổi trưa đầu tháng Giêng năm 1967, cách đây 43 năm, đang lang thang trong khuôn viên Cục, họa sĩ Tạ Tỵ hỏi có phải tôi là DTL. Tôi đáp phải. Ông nói, vậy thì ghé lại Văn phòng của ông chơi.

Khi ấy, ông là Trưởng phòng Kỹ Thuật.

Tuy gặp lần đầu, nhưng tôi biết ông là họa sĩ Tạ Tỵ. Điều tôi bất ngờ là, vừa ngồi xuống, tôi đã thấy ông lấy giấy bút ra vẽ.

Vừa vẽ ông vừa hỏi thăm đời sống riêng của tôi và, dặn, cứ nói chuyện tự nhiên.

Nhưng làm sao tôi tự nhiên được, khi biết ông đang vẽ mình…

Năm 1967, tuy còn trẻ nhưng tôi đã bày đặt ngậm ống vố được ít năm. Trước mặt ông, để tỏ lòng kính trọng, tôi cất ống vố. Ông bảo, cứ ngậm, hút như bình thường. Ông giải thích:

“Đó cũng là một trong vài nét riêng, dễ hơn cho người họa sĩ khi vẽ chân dung…”

Khoảng hơn 10 phút sau, ông nói xong rồi.

Tuy nhiên, ông không đưa cho tôi coi. Ông hẹn tôi, ba ngày nữa, trở lại tìm ông. “Vừa xong, mới chỉ là phần phác thảo.”

Đúng hẹn, tôi trở lại tìm ông. Ông trao tôi bức chân dung hoàn tất. Ông gật gù:

“Đây là một trong những chân dung tôi rất hài lòng…”

Giải thích về vạch đen to bản, chạy ngang khuôn mặt, thay thế cho hai con mắt, ông bảo:

“Thi sĩ thứ thiệt thường…mù loà trong những rung động mê sảng và tai họa của mình…”

Tranh-TaTy-DuTuLe

Tôi hiểu ông muốn nói gì. Trước đấy, tôi từng thấy những bức chân dung ông vẽ các nhân vật như Vũ Hoàng Chương, Văn Cao, Mai thảo, Phùng Tất Đắc…

Mỗi người, dường như trước khi vẽ, ông đã có sẵn về họ, một ấn tượng hay một nét đặc thù nào đó.

Giữa năm 1967, khi in cuốn “Tay gõ cửa đời” với mẫu bìa của họa sĩ Duy Thanh, tôi cho in lần đầu tiên, bức chân dung này; cùng những chân dung của vài họa sĩ khác. Như Duy Thanh, vẽ lần thứ 2, năm 1967 (lần thứ năm 1965;) Huy Tường, vẽ năm 1966, Trịnh Cung vẽ năm 1967…

Năm 1996, khi họa sĩ Tạ Tỵ từ San Diego, dọn về một căn nhà ở thành phố Garden Grove, ông nhắn một người bạn của tôi là Phan Diên, chở tôi tới xem tranh mới của ông. Loạt tranh trừu tượng. Ra khỏi Lập thể (trường phái mà ông là người đầu tiên, có công du nhập vào Việt Nam.)

Tôi không biết có phải đó là những tác phẩm cuối cùng của sự nghiệp hội họa trên nửa thế kỷ của Tạ Tỵ hay không(?)

Chỉ biết, đó là những bức sơn dầu lớn – – Với khá nhiều mầu nóng, như đỏ. Dữ dội! Mạnh mẽ! Quyết liệt!

Trước khi ra về, ông bảo chúng tôi ngồi nán lại nơi chiếc bàn ăn, khu nhà bếp. Ông vẽ tôi lần thứ hai. Ông nói, để đánh dấu cuộc gặp lại nhau, sau 30. Ở quê người.

“Đồng thời tôi cũng muốn ghi lại hình ảnh Du Tử Lê, mới. Hoàn toàn mới. Một DTL cận thị. Để râu…Có mắt…Nhưng chỉ một mắt. Và…”

Tranh-TaTy-DuTuLe2

Du Tử Lê

bar_divider

Nhà thơ Trường Đinh UK nhớ DU TỬ LÊ

Anh Lê, những vui buồn bỏ ngõ, chiều yên ả trên cao.
Xin hẹn gặp.

Trường Đinh: Đối với riêng anh, anh quan niệm và nhận định thế nào về “ý thơ” và “khí thơ” trong nền thi ca Việt Nam?

Du Tử Lê: Câu trả lời của tôi, có thể sẽ làm nhiều người phật lòng. Nhưng tôi nghĩ, đã tới lúc chúng ta không nên tự ru ngủ mình, bằng những ảo tưởng vặt vãnh, tủn mủn nữa.
Thứ nhất, ý tưởng trong thơ của chúng ta đa phần cóp nhặt, bắt chước của người khác, thuộc những dòng thi ca khác. Tại sao? Bởi vì đa phần những người làm thơ của chúng ta khởi đầu bằng khả năng thiên bẩm, và nỗ lực bắt chước, mô phỏng theo một hay vài thần tượng thi ca nào đó của mình.
Ngay khi đã có tiếng tăm, cũng không mấy người chịu tìm kiếm, khai phá cho riêng mình, một hướng khác, hiểu theo nghĩa tự biến mình thành vật thử nghiệm cho những thử nghiệm mới. Điều này, cũng dễ hiểu thôi. Mọi thử nghiệm đều đầy bất trắc, và bị mai mỉa!
Thứ nhì, tôi nghĩ, người ta chỉ nói tới khí lực của một bài thơ, khi đó là một trường thiên. Mà, nhìn lại đi, mấy nghìn năm văn học của chúng ta, có được bao nhiêu trường thi?

Mời xem toàn bài: blinkingblock Trường Đinh phỏng vấn Du Tử Lê năm 1998 (pdf)

Mời xem 31 đoạn: blinkingblock Những dặm trường thi: Chân Dung Du Tử Lê (pdf)

ChanDungDuTuLe-TruongDinh

HoaSen

bar_divider

Du Tử Lê: ‘Văn chương cứu rỗi tôi trong những ngày luân lạc’

22/06/2018

DuTuLe-15

Cũng như nhiều thi sĩ trong thời đại mình, thơ ông còn là phóng chiếu một giai đoạn đầy xáo trộn trong đời sống văn hóa của người Việt. Đầu tháng 6-2018, tuyển thơ Khúc Thụy Du của nhà thơ Du Tử Lê ra mắt độc giả trong nước.

* Thưa nhà thơ Du Tử Lê, thơ của ông đã là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Anh Bằng, Trần Duy Đức… phổ nhạc, tạo ra những tình khúc bất hủ.

Nhìn rộng ra, hình như đã có một thời đoạn, trong không gian văn hóa Sài Gòn, nghệ sĩ ở các lĩnh vực khác nhau đã có sự tương tác sáng tạo mật thiết để tạo ra những tác phẩm tinh hoa?

Vâng. Đúng như ghi nhận của ông: trong “không gian văn hóa Sài Gòn” một thời, các nghệ sĩ ở nhiều lĩnh vực khác nhau đã tìm đến sáng tác của nhau, hầu hợp thành những tương tác sáng tạo mật thiết. Ngay cả khi họ không hề thân quen, hay ít có cơ hội thường xuyên đi lại với nhau.

* Ấy là bởi một “tâm tính văn nghệ” theo “kiểu Sài Gòn” nói chung, hay chỉ là từ những giao cảm, tình thân riêng có giữa những cá nhân?

Như tôi đã nói, cái mà ông gọi là “không gian văn hóa sáng tạo” đó không hề có từ những giao cảm, những tình thân riêng, mà nó là một trong những nét đặc thù của sinh hoạt văn học, nghệ thuật ở miền Nam trước đây.

Tôi thí dụ, trước khi soạn thành ca khúc Ngậm ngùi thơ Huy Cận, nhạc sĩ Phạm Duy không hề quen biết tác giả Lửa thiêng.

Cũng vậy, nhạc sĩ Phạm Đình Chương chưa hề gặp nhà thơ Quang Dũng đã rất thành công khi gom hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng để làm thành ca khúc Đôi mắt người Sơn Tây…

Tuy nhiên, tôi cũng không loại bỏ trường hợp một số người làm thơ thuê (trả tiền) cho nhạc sĩ, để nhạc sĩ đó soạn thành ca khúc thơ của họ, dù giữa hai người có tình thân với nhau hay không.

Nhưng tôi chưa thấy một ca khúc nào ra đời trong hoàn cảnh như vậy được nhiều người biết tới; dù cho nhà thơ kia, sau đó, có bỏ tiền thuê ca sĩ hát hoặc làm thành băng nhạc…

Ít người biết rằng trước khi phổ nhạc bài thơ Khúc Thụy Du của tôi, thì tôi và nhạc sĩ Anh Bằng không hề biết nhau. Tôi từng kể, lần đầu tiên khi nhạc sĩ Anh Bằng tìm tôi, tôi đã hỏi: “Ông là ai, gặp tôi có việc gì không?…”, trước khi chúng tôi có được với nhau cái giao tình phải nói là tốt đẹp trong tinh thần tương kính.

Sự kiện này cũng xảy ra cho tôi và nhạc sĩ Trần Duy Đức. Trước năm 1975, Trần Duy Đức ở Pleiku, tôi ở Sài Gòn. Anh đọc thơ tôi trên tạp chí Văn. Không hề liên lạc với nhau, dù qua thư từ. Anh soạn thành ca khúc, những bài thơ anh thích…

Mãi tới năm 1983, ở Cali, anh ấy mới tìm tôi và cho biết đã phổ thành ca khúc khá nhiều bài thơ của tôi, từ trước năm 1975.

* 50 bài thơ trong thi tuyển Khúc Thụy Du lần này do ông chủ động chọn lọc, có thể thấy rõ hai nhánh quan trọng trong sự nghiệp thi ca của ông: thơ tình và thơ thế sự. Sự trở lại với người đọc lần này, bằng thi tuyển này, có ý nghĩa thế nào với cá nhân ông?

Thi tuyển Khúc Thụy Du của tôi là một nỗ lực rất đáng ghi nhận trong tình cảnh tế nhị của sinh hoạt văn chương Việt Nam hiện tại, mặc dù trước đây, hai tập thơ của tôi là Giỏ hoa thời mới lớn (2013) và Mẹ về Biển Đông (2017) từng được ấn hành trở lại trong nước.

Lại nữa, trong luận án tốt nghiệp văn bằng thạc sĩ bộ môn lý luận phê bình văn học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, tựa đề “Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật” (mã số 60 22 01 20), tác giả Trần Thị Như Ngọc cũng đã nhấn mạnh rằng cõi thơ Du Tử Lê còn rất nhiều lĩnh vực cần phải tìm hiểu, nghiên cứu thêm… thì hôm nay thi phẩm Khúc Thụy Du ra đời đem đến cho người đọc khía cạnh thơ thế sự bên cạnh nhánh thơ tình của tôi. Dù thoáng nhẹ, nhưng với tôi, nó vẫn là một gợi mở tiếp cận, rất hữu ích…

SachKhucThuyDu-DTL

* Là một trong năm nhà thơ hàng đầu của Sài Gòn (bên cạnh Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đức Sơn), và đến nay vẫn còn sáng tác khá đều (đăng tải trên trang dutule.com), xin ông chia sẻ về ý nghĩa của sáng tạo thơ ca trước đây và bây giờ có gì khác biệt, theo trải nghiệm cá nhân?

Tôi quan niệm, mỗi cá nhân trước khi sinh ra đã được Thượng đế chọn trước một nghề nghiệp hay công việc thích hợp. Điều mà chúng ta gọi một cách nôm na là năng khiếu hay “cái khiếu”. Cá nhân, tôi nghĩ tôi sống sót được tới ngày hôm nay nhờ tình yêu văn chương.

Trước đây khi còn ở trên quê hương, tôi không thấy văn chương thực sự “cứu rỗi” tôi như những năm tháng tôi luân lạc xứ người… Vì thế, tôi tự nhủ, hãy viết, cứ viết cho tới ngày nào sức khỏe, khả năng không còn cho phép.

* “Khả năng”, có thể hiểu theo nghĩa nào, thưa ông?

Tôi sẽ nói rõ hơn một chút. Khi dùng hai chữ này, với tôi, nó mang ý nghĩa: ngày nào thấy mình không còn cái gì mới (nội dung hay hình thức) tôi sẽ ngưng viết. Tấm gương lớn nhất của tôi là sức làm việc của nhà thơ R. Tagore (Ấn Độ).

Ở được bền lâu với chữ – nghĩa, tôi thấy hình như tôi “chín” hơn nhiều so với những năm tháng trẻ tuổi.

* Nếu có một cuộc đối thoại với người đọc trẻ hôm nay yêu mến thơ ông, điều quan trọng mà ông muốn chia sẻ với họ sau những bài thơ là gì?

Câu nói đầu tiên với họ là lời cảm ơn chân thành của tôi. Tôi sẽ nói rõ hơn với họ rằng, tôi e sẽ không còn có một Du Tử Lê hôm nay nếu không có họ.

Và, một điều nữa, quan trọng không kém là dù ở tuổi nào thì các bạn trẻ của tôi cũng hãy dành một góc (dù nhỏ) tâm hồn cho thi ca. Tại sao? Tại vì thi ca là phần đất tinh thần tốt nhất cho chúng ta nuôi dưỡng những mơ mộng trước cuộc sống thực tế ngày càng khốc liệt, lạnh lùng, tàn nhẫn như hiện nay.

Con người, ngoài nhu cầu vật chất, còn có nhu cầu tinh thần. Chính nhu cầu tinh thần kia cho chúng ta sự khác biệt, rõ ràng, dứt khoát nhất giữa chúng ta và loài vật.

* Cuối cùng, một thi sĩ giàu có về thơ tình, một người sống trong kho tàng tình cảm đầy phong phú – có thể nói gì về tình yêu trong cuộc đời?

– Tình yêu nói chung (không giới hạn trong tình yêu nam nữ), với tôi là một thứ tôn giáo. Thứ tôn giáo mà mỗi chúng ta là giáo chủ của tôn giáo đó. Kẻ giàu có nhất trong nhân loại, theo tôi, không phải là người nhiều tiền của nhất; mà là người có nhiều tình yêu nhất, dành cho đồng loại, thiên nhiên, thú vật.

Bởi vì ngay cả khi bạn giàu có như Bill Gates thì bạn cũng chẳng thể mua chuộc, hối lộ thần chết, để khỏi chết. Và khi chết, bạn cũng chẳng thể mang theo tiền bạc bạn có. Tất cả mọi thứ thuộc về vật chất, bạn đều buộc phải bỏ lại.

Cái bạn bỏ lại tốt đẹp, được mọi người nhớ, nhắc chính là tình yêu mà bạn đã có, đã cho mọi người khi còn sống. Nói khác đi, đó là thứ tiền tệ hay tài – sản – tinh – thần mà ngay thần chết cũng không thể tước, đoạt được của bạn.

* Xin cảm ơn ông.

NGUYỄN VĨNH NGUYÊN – Tuổi Trẻ online

TaGoiNhau-DuTuLe

bar_divider

tinhsaudutule-DTL-PD-p1

tinhsaudutule-DTL-PD-p2.jpg

TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

ta như sương mà người như hoa
dối gian nhàu nát nụ hôn đầu
tình đi từng bước trên lưng gió
gieo xuống đời nhau hạt thương đau

người một phương ta cũng một phương
phố cao ngày thấp nắng mưa trùng
mắt sâu ẩn nhốt trời giông tố
ta một hồn câm giông gió lên

người ở đây, ta cũng ở đây
lòng không như mặt, lòng lệ đầy
chân đi gió tạt, sầu ba hướng
tay vói một trời, trời mưa bay

người đã vì ta tan ước mơ
phấn son chưa ngát thịt da ngà
môi non đã lỡ tình đau đớn
mộng vữa theo trời hoa phượng xưa

người chôn đời mà ta đắng cay
cây im lá ngọn khói sương bày
chim treo mỏ cóng trơ xương mục
sống đã chẳng cùng chết sao hay

người ở đâu, ôi người ở đâu?
cỏ xanh còn áp má đêm buồn
dế giun còn tiếc mùa ân ái
từng phiến trời mang bao nhớ thương

1970

Thái Thanh hát AnimatedNotesTÌNH SẦU DU TỬ LÊ” – Phạm Duy phổ nhạc

TranhDuTuLe-05

bar_divider

DU TỬ LÊ VIẾT VỀ NHẠC CỦA NGUYỄN VĂN ĐÔNG

… Trong 20 năm tân nhạc miền Nam, Việt Nam, Nguyễn Văn Đông cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng không chỉ với một hai ca khúc viết về người lính mà, với hầu hết những ca khúc ông viết về đề tài này.

Những ca khúc làm thành tên tuổi ông như ca khúc “Phiên gác đêm xuân,” ông sáng tác đêm giao thừa 1956, khi đang đóng quân ở khu 9, Đồng Tháp Mười. Hai ca khúc nổi tiếng khác của họ Nguyễn cũng được ra đời sau đó, là ca khúc “Chiều mưa biên giới,” khi ông đóng quân gần biến giới Việt – Miên và “Mấy dặm sơn khê,” khi đồn trú ở vùng cao nguyên trung phần.
Nhưng chân dung hay, hình ảnh người lính trong các ca khúc vừa kể của Nguyễn Văn Đông, tuy cũng đậm tính thơ mộng… Nhưng đó là cái thơ mộng dung dị, nhân bản, gần với đa số, với đám đông, những người lính vô danh.

Ông không vẽ chân dung người lính của ông bằng hình ảnh hào hùng lẫm liệt, như hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Hoài Linh. Người lính trong ca khúc của Nguyễn Văn Đông có thể đi ở hàng… cuối chót, của đoàn quân chiến thắng trở về thủ đô – – Thậm chí, họ cũng có thể vắng mặt trong những cuộc duyệt binh, mừng thắng trận; khi ông viết:
“Đón giao thừa một phiên gác đêm / chào xuân đến súng xa vang rền / xác hoa tàn rơi trên báng súng / ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi /…? Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu / vì mơ ước trắng như mây chiều / tủi duyên người năm năm tháng tháng / mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi / Chốn biên thuỳ này xuân tới chi? / tình lính chiến khác chi bao người / nếu xuân về tang thương khắp lối / thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi! (Trích “Phiên gác đêm xuân.”)

Ông cũng không khẳng định người lính của ông phải là người tạo được những chiến thắng lẫy lừng, như chiến thắng Pleime, Đức Cơ… mà, chỉ là những cá nhân bình thường, với những tâm tình, những khát khao, nhớ thương đời thường:
“Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay / Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng / đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng / người tìm về trong hơi áo âm / gợi niềm xa xăm/ Người đi khu chiến thương người hậu phương / thương màu áo gửi ra sa trường / lòng trần còn tơ vương khanh tướng / thì đường trần còn mưa bay gió cuốn / còn nhiều anh ơi!” (Trích “Chiều mưa biên giới.”)

Ông cũng không quả quyết rằng, người lính của ông sẽ trở về bằng một chiếc quan tài có “cài hoa.” Mà, chân dung người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông là một chân dung bình dị, không quá đặc biệt. Không ngoại lệ. Đó là một con người như bất cứ một con người nào thuộc về đám đông. Vì ngoài bổn phận người lính, thì trong thẩm sâu của tâm hồn người lính, vẫn là một con người (như mọi người,) với cá tính, rung động, cảm nhận chân thật khi đối đầu, cọ sát với thực tế và vận mệnh chung của dân tộc:
“Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng / ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê / non nước ơi, hồn thiêng của núi sông / kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa / Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng / chờ mùa xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang / anh đến đây rồi anh như bóng mây / chốn phương trời ấm lạnh, hoà chung mái nhà tranh / Anh như làn gió, ham ngược xuôi theo đường mây / tóc tơi bời lộng gió bốn phương / nước non còn đó, một tấc lòng / không mờ xoá cùng năm tháng / mấy ai ra đi hẹn về / dệt nốt tơ duyên…” (Trích “Mấy dặm sơn khê.”)

MỜI XEM TOÀN BÀI:  blinkingblock Hình Ảnh Người Lính Khác, Trong Nhạc Nguyễn Văn Đông (PDF)

DuTuLe-17

nhà thơ/cựu đại úy QLVNCH Du Tử Lê 1973

bar_divider

TayGoCuaDoi-DuTuLe

  blinkingblockTOÀN TẬP

Dưới đây là nguyên văn bài thơ “Thạch sùng” trích trong tập “Tay gõ cửa đời,” của Du Tử Lê, do nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng ấn hành lần thứ nhất tại Saigòn, 1967.
Nhà thơ Du Tử Lê đề cập tới bài này trong tùy bút “Mỗi chúng ta là một vùng đất trũng.”

THẠCH SÙNG

Những lúc ngủ tôi thường quen lặp lại
một điều gì in là tôi đã nói
và đôi khi cũng lầm bầm
những khao khát từ lâu tôi hằng giấu kín

dù mơ ước không bao giờ làm nên sự thực
nhưng giúp mình bật dậy ở ngày mai
để kéo tiếp đời lên dốc đá
chờ một giờ
bỗng, buột ngã, xuôi tay

những lúc ngủ tôi thường quen nghiến răng
như loài nhai lại
tôi nhai nỗi buồn thầm
hoài hoài không nuốt được
thử hỏi làm sao tôi có thể đinh ninh
rằng mình đang hạnh phúc

ta trước mặt mọi người
không là ta lúc khuất

khi tôi ra khỏi nhà
thân đã được lau chùi đánh bóng
em thường khuyên bảo tôi
phải kiên nhẫn đợi chờ trái đời sẽ rụng

khi đêm dài chưa sang
ta không thể nói rằng trời sắp sáng

củi chưa đun
hồ dễ có than hồng

tôi sống như thạch sùng
đêm chép miệng từng hồi kiếm bóng

làm sao có ái ân
lúc một mình vò võ

em đừng tưởng đời em
không cần người sưởi ấm
khi hàm răng chưa một lần cắn vỡ
chính giọt lệ mình lúc chảy ngang môi

hãy cố sống đời ta
đừng vẽ lầm dung nhan kẻ khác

tôi tự thuở ra đời
vẫn chưa chắc là người hay thú
sống dai dẳng kiếp mình
nhưng nghĩ bụng : đời ta đâu phải thế

lúc tôi mất tình yêu
như khi đuôi con thạch sùng bị ai cứa đứt
đêm chép miệng than hoài
tiếc sao đời sớm cụt

em giờ ngủ ở đâu
ôm xác nào cứng lạnh
chắc tay chẳng còn thừa
để xé dành riêng tôi
dăm manh hạnh phúc, cũ
mỗi chúng ta như một vùng đất trũng
mà đau thương là mạch nước trôi xuôi…

du tử lê – 1967

                         blinkingblock DU TỬ LÊ NGÂM BÀI THƠ “THẠCH SÙNG”

(ghi chú: người thực hiện youtube viết sai là bài thơ Khúc Thụy Du)

TranhDuTuLe-06

bar_divider

Mai Thảo nhắn

Vẫn là vô địch áo vàng thơ
Cự Phách như nhiên.  trước.  tới giờ
Thả cánh hoa Lê bay về cội
Đi với về.  Cùng một nghĩa mơ

gối lên tượng… và [y hệt] Du Tử Lê

gối lên thân tượng. dù đau
có ta có tượng
có đầu, đuôi
nghe
có thiên lương một buổi về
đất dung dưỡng phận
trời che mái đầu
gối qua chiều
khúc mưa mau
khúc nắng gió sớm
bắc cầu dạ du
tượng ôm thân giữa sa mù
có ta có tượng
nghìn thu gối cùng

hình dung từ, sau mặc niệm

tôi đi rất lâu ngoài trời
và khi chậm lại bỗng cười như nhiên
chợt nhớ rằng mình đương quên
ra đi không nón về nhà không khăn
quên luôn một quãng thăng trầm
chỉ nhớ mình giữ khăng khăng lấy mình
tôi cười rất lâu với tình
yêu,  đương tỏa sáng.  chợt thình lình.  ui

HOÀNG XUÂN SƠN – 9 oct. 2019

bar_divider

PhanUu-DuTuLe-03

PhanUu-DuTuLe-04.jpg

PhanUu-DuTuLe-05

bar_divider

Gởi người thơ vừa ra đi

Thơ anh ra biển anh về
thì thôi du tử ngừng lê chân buồn
thì thôi hồn thở ra hương
mà thân xác chữ vẫn vương hơi người
thì thôi – chỉ nhớ người thôi.

Đôi bờ

Người trong tranh
người ngoài tranh
ngõ xanh biếc hạnh
chiều hanh bóng chờ
người trong thơ
người ngoài thơ
người ôm mơ thực đôi bờ
là em.

NHẬT CHIÊU

bar_divider

GẶP Ở LAKE HILL LIBRARY…

Tranh thủ tuần lễ còn ở chơi Seattle,WA,tôi ghé thăm thư viện địa phương Lake Hills Library – King County. Kệ sách Việt khiêm nhường với non 200 đầu sách, chiều hôm đó gần như chỉ dành “độc quyền” cho riêng tôi – “ông khách đến từ Saigon, VietNam”, săm soi lục lạo tìm kiếm. Đúng là:“tha hương ngộ cố tri”! Không gì hạnh phúc hơn được gặp “đồng hương” nơi đất khách quê người…

Tôi chọn tác giả Du Tử Lê – một thi sĩ nổi tiếng trên văn đàn, để nhớ chút mùi hương văn chương Saigon xưa trước 75. Và, cũng để xem ông viết gì trong Tập I: “Sơ lược 40 năm Văn Học Nghệ Thuật Việt 1975-2015”.

Sách dày 695 trang chữ, chỉ tiếc thiếu chân dung các tác giả, khiến toàn tập hơi bị chìm, nhạt. Bìa và trình bày Uyên Nguyên – HT Production xuất bản lần thứ nhất ở Hoa Kỳ 2015 –  chia làm 7 Chương …

Gap o Lake Hills Library 01

Mời đọc tiếp toàn bài blinkingblockGẶP Ở LAKE HILL LIBRARY” của Phan Văn Thạnh

bar_divider

 

TrongTayThanhNuCoDoiToi-DuTuLe-TranDuyDuc-p1

TrongTayThanhNuCoDoiToi-DuTuLe-TranDuyDuc-p2

AnimatedNotes TRONG TAY THÁNH NỮ CÓ ĐỜI TÔI – Thơ: Du Tử Lê – Phổ nhạc: Trần Duy Đức
(Trần Duy Đức nói về lai lịch ca khúc và Diễm Liên hát)

 

bar_divider