LTG: Bài nầy viết lại một bài cũ viết vào khoảng 2002. 

Cách đây khoảng chừng 32 năm, tức vào khoảng năm 1992, nhân một buổi trà dư tửu hậu tại nhà một người bạn, chủ khách chuyện trò lòng vòng rồi dẫn đến Kim Dung và các quyển tiểu thuyết kiếm hiệp lừng danh của ông. Một anh bạn chợt nhắc đến nhân vật Trần Hữu Lượng trong ‘Cô Gái Ðồ Long’ và nói anh vừa đọc được ở đâu đó cho biết Trần Hữu Lượng là một người Việt. Người viết cố gắng moi óc với giúp đỡ của anh bạn đó mới nhớ rằng trong Cô Gái Ðồ Long phiên bản đầu tiên của Kim Dung có một nhân vật tên Trần Hữu Lượng lớn tuổi hơn Trương Vô Kỵ một chút. Anh này xuất hiện lúc Trương Tam Phong dẫn Vô Kỵ lên Thiếu Lâm Tự để xin phép dùng Cửu Dương Chân Kinh chữa trị bệnh cho Vô Kỵ. Bệnh của Vô Kỵ có vẻ rất nan y vì Vô Kỵ đã bị một cú Huyền Minh thần chưởng từ một cao thủ Mông Cổ khi được thả lại tại chùa Võ Ðang. Sau khi thử trị bệnh cho Vô Kỵ bằng nhiều cách theo kiến thức uyên bác của ông, Trương Tam Phong mới nghĩ rằng chỉ có Cửu Dương Chân Kinh mới có thể cứu Vô Kỵ khỏi cơn bệnh ngặt nghèo do thứ băng hàn chưởng kịch độc mang tên Huyền Minh thần chưởng gây nên. Khổ một nỗi Trương Tam Phong trong thuở thiếu thời chạy trốn khỏi chùa Thiếu Lâm với sư phụ Giác Viễn chỉ học được chừng phân nửa quyển Cửu Dương Chân Kinh do Giác Viễn trước khi viên tịch đã đọc lại. Phân nửa kia hiện có ở chùa Thiếu Lâm. Bởi vậy mấy mươi năm sau khi cần phải thấu triệt hết Cửu Dương Chân Kinh hầu chữa trị bệnh cho Vô Kỵ, Trương Tam Phong, một chưởng môn phái Võ Ðang đang lên, đã không quản ngại nhục nhằn dẫn Vô Kỵ lên Thiếu Lâm Tự xin trao đổi kiến thức về Cửu Dương Chân Kinh của đôi bên để cả hai đều được trọn vẹn toàn bộ quyển kinh bí kiếp này. Nếu được vậy Trương Tam Phong sẽ dùng trọn bộ Cửu Dương Chân Kinh chữa trị cho cậu bé Trương Vô Kỵ. 

Ðến chùa Thiếu Lâm sau khi trình bày mục đích từ bi cứu khổ của mình Trương Tam Phong được đưa đến gặp một thiếu niên đang ở trong chùa tên Trần Hữu Lượng. Hai bên dàn xếp sao đó để Trương Tam Phong đọc ra phần Cửu Dương Chân Kinh của mình trước, và sau đó phe Thiếu Lâm sẽ đưa ra phần Cửu Dương Chân Kinh của họ sau. Trương Tam Phong tình thật đọc hết nửa phần của quyển võ kinh bí kiếp ông còn nhớ cho Trần Hữu Lượng nghe. Sau khi đọc xong Trương lão nhân mới hỏi xin được lãnh giáo phần Cửu Dương của bên Thiếu Lâm. Trần Hữu Lượng thay mặt cho bên Thiếu Lâm đáp rằng tưởng gì lạ chứ những gì Trương Tam Phong vừa đọc Thiếu Lâm đã có sẵn rồi. Và gã thiếu niên họ Trần đọc lại cho Trương Tam Phong nghe vanh vách không sót một chữ những gì Trương Tam Phong vừa mới đọc ra. Như thế phe Thiếu Lâm đã lấy cớ rằng Trương không có gì để trao đổi nên không cho Trương phần Cửu Dương họ có và đuổi khéo Trương Tam Phong cùng Vô Kỵ ra khỏi chùa. 

Ðoạn Trần Hữu Lượng này của Cô Gái Ðồ Long đã bị Kim Dung cắt xén bỏ hết trong phiên bản sau cùng hiện nay. Trần Hữu Lượng cũng như Trương Tam Phong, Chu Nguyên Chương, Quách Tỉnh, Khâu Xứ Cơ, Vương Trùng Dương, … là những nhân vật có thật trong lịch sử của Trung Quốc. Chu Nguyên Chương, Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành (không có trong truyện của Kim Dung) là ba lãnh tụ ‘sáng chói’ nhất trong việc nổi dậy lật đổ nhà Nguyên (Mông Cổ). Lực lượng Chu Nguyên Chương cuối cùng đã đánh đổ được nhà Nguyên, lập nên nhà Minh, và Chu Nguyên Chương lên ngôi lấy hiệu Minh Thái Tổ, một ông vua độc tài vào bậc nhất của Trung Quốc.

Ðời nhà Nguyên (1277-1367) kéo dài gần như song song với triều đại nhà Trần (1225-1400) ở Việt Nam, lúc đó gọi là Đại Việt. Nhà Nguyên và nhà Trần trước sau đã 3 lần ‘Hoa Sơn luận kiếm’ với nhau và cả ba lần quân binh nhà Trần, dưới sự lãnh đạo của Hưng Đạo Vương và các tướng lĩnh phụ tá chung quanh, đã đánh bại quân Mông Cổ và con cháu của Thiết Mộc Chân tức Thành Cát Tư Hãn, cha của Hoa Tranh công chúa, người đã có mối tình còn trẻ dại với Kim Ðao phò mã (hụt) Quách Tỉnh trong Anh Hùng Xạ Ðiêu của Kim Dung. (Tiếc rằng Việt Nam không có một Kim Dung để ‘kiếm hiệp hoá’ Trần Hưng Ðạo như Kim Dung đã kiếm hiệp hoá tướng Nhạc Phi đời Tống trong bộ Anh Hùng Xạ Ðiêu). Ðọc sử Việt của Trần Trọng Kim hay của Phạm Văn Sơn, ta để ý trong chiều dài của cuộc luận kiếm giữa nhà Trần với Mông Cổ nhà Nguyên, nhà Trần hàng năm phải gửi chừng năm ba nhân tài xứ An Nam (gồm những nhà ‘khoa học’, kỹ sư, y sĩ, khoa bảng hạng nhất) sang chầu chực Nguyên Chủ và ngược lại nhà Nguyên cũng ‘bốc’ một vài hoàng thân quốc thích xứ An Nam như Trần Di Ái và Trần Ích Tắc và một lô hầu cận sang bên đó được huấn luyện để sau này xử dụng họ vào những ‘lá bài’ áp đặt làm vua cho nước Nam. Trần Hữu Lượng nếu có dòng máu Việt rất có thể là con hay cháu của một trong những người này1.

Họ Trần rất phổ thông ở mìền Hoa Nam bên Tàu10 và họ Trần (từ Phúc Kiến) dường như chỉ di dân sang nước Nam một vài thế hệ trước khi Trần Thủ Ðộ chiếm ngôi nhà Lý và thiết lập nhà Trần. Ở Hongkong họ Trần (陳) gọi là Chan, ở Trung Hoa lục địa gọi Chen, ở Mã Lai gọi Tan, ở In-Ðô là Tanoko, v.v. Việc họ Trần từ Tàu10 di cư sang nước An-Nam rồi về sau lãnh đạo nước Nam chống lại Tàu không có gì lạ trong lịch sử Việt. Trước đó có Lý Bôn (hay Lý Bí) cũng gốc phía Bắc ở nước Nam được bảy đời vào giữa thế kỷ thứ 6 đã nổi lên đánh đuổi quân Tàu giành lại độc lập và dựng nên nhà Tiền Lý ngắn ngủi. Về sau Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ gốc họ Hồ có tổ tiên di cư sang nước Nam vào thế kỷ thứ 10 từ tỉnh Chiết Giang (quê hương của Kim Dung) bên Tàu cũng đã đánh nhà Mãn Thanh ở Bắc Phương thua xiểng liểng. Trước đó vài thế kỉ, nước Nam còn có Hồ Quý Ly cũng gốc người Chiết Giang, soán ngôi vua nhà Trần (1400), đổi quốc hiệu là Đại Ngu, cho rằng họ Hồ là hậu duệ của vua Thuấn () nước Ngu (虞) bên Tàu ngày xưa, và mở màn cho thời kỳ Minh thuộc kéo dài khoảng 20 năm. 

Trở lại chuyện Trần Hữu Lượng, phản ứng thông thường của bất cứ ai nghe nói Trần Hữu Lượng có thể là một người ‘An-Nam’ theo cha sang Tàu rồi ở luôn bên đó, về sau mưu đồ đại sự lật đổ nhà Nguyên, chắc sẽ cho rằng Kim Dung đúng thật một tác giả có đầu óc thương mại rất bén, vì muốn chiếm cảm tình của độc giả Việt Nam đang theo dõi những truyện kiếm hiệp của ông được dịch đăng báo hằng ngày ở Sàigòn theo kiểu ‘phơi-yơ-tông’, ông đã nhét vào đó nhân vật Trần Hữu Lượng thay vì Trương Sĩ Thành bởi Trần Hữu Lượng có liên hệ tới Việt Nam. Chắc chỉ thế thôi.

Nhưng nếu đọc lại ‘Thiên Long Bát Bộ’ và ‘Lục Mạch Thần Kiếm’, độc giả người Việt lại một lần nữa cảm thấy một cái gì hơi là lạ khi Kim Dung giới thiệu một nhân vật nữ mang họ Nguyễn tức Nguyễn Tinh Châu, người tình vắn số của Tiêu Phong (hay Kiều Phong) bang chủ của Cái Bang. Trong hai bộ truyện đó, ông hoàng đa tình của nước Ðại Lý tên Ðoàn Chính Thuần, trên danh nghĩa là cha của thái tử Ðoàn Dự, có rất nhiều người tình, mỗi bà ông tặng một hai đứa con, thường thường con gái. Một trong những người tình đó mang họ Nguyễn và có hai người con gái, người chị mang tên Nguyễn Tinh Châu, người em Nguyễn Tinh Tử tức A Tử. Nguyễn Tinh Châu và Tiêu Phong gặp nhau rồi yêu nhau. Trong khi đó, Tiêu Phong điều tra và tìm ra thủ phạm giết cha mẹ mình năm xưa không ai khác hơn Ðoàn Chính Thuần, cha ruột của Tinh Châu. (Mãi về sau này Tiêu Phong mới biết rằng điều tra đó hoàn toàn sai).  Ðể trả thù cho cái chết thảm khốc của cha mẹ, Tiêu Phong hẹn Ðoàn Chính Thuần đến đấu võ sống chết với nhau vào lúc giữa đêm. Nghe lén được, Nguyễn Tinh Châu vì mang nặng chữ hiếu với cha nên mặc áo giả dạng làm Ðoàn Chính Thuần đến nơi hẹn. Tiêu Phong trong đêm tối nhìn thấy người tình muôn thuở Tinh Châu lại tưởng lầm là Ðoàn Chính Thuần nên đánh cho một cú Hàng Long Thập Bát Chưởng, món võ bí truyền của các Bang Chủ Cái Bang (hội đoàn của những người khất thực ăn xin) làm cho Tinh Châu bị trọng thương và chết liền sau đó trong vòng tay thống khổ của Tiêu Phong. Trong suốt khoảng đời còn lại Tiêu Phong mang nặng nổi sầu bi không thế nào giải toả được, và cưu mang người em gái của Tinh Châu là A Tử. A Tử đem lòng yêu Tiêu Phong nhưng khổ nỗi Tiêu Phong chỉ thương A Tử như người em. A Tử lại có một anh chàng khác say mê cuồng nhiệt tên Du Thản Chi có lúc đã dâng đôi mắt người xưa của mình tặng cho A Tử ‘ghép mắt’ vì chợt bị mù không thấy đường. (Ở đây, Kim Dung có vẻ xạo hết chỗ nói, chắc với ngụ ý đề cao y thuật Trung Quốc hồi xưa). Và mối tình éo le ba chiều đó đã được Kim Dung kết thúc bằng một giải đáp không có ‘hậu’, một ‘unhappy ending’ để lại cho người đọc bao ngậm ngùi thương tiếc.

Phải nhìn nhận trong hàng trăm pho truyện Tàu10 chỉ có bộ Thiên Long Bát Bộ nói riêng và một số tiểu thuyết của Kim Dung nói chung đã đề cập đến họ Nguyễn và nước Ðại Lý mà thôi. Họ Nguyễn mặc dù ban đầu có xuất xứ từ tiểu quốc Nguyễn (Ruan 阮) ở khu Hà Nam, phía Bắc Trung Hoa vào thời nhà Châu (1046–256 TCN), nhưng ngày nay còn rất ít những người mang họ này ở bên Tàu. Ngược lại ở nước Việt họ Nguyễn được rầm rộ gia tăng sau khi Trần Thủ Ðộ cướp ngôi nhà Lý (1010-1225) và bắt ép những người mang họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn để thứ dân không còn nhớ đến triều đại nhà Lý xưa cũ nữa. Họ Nguyễn lại gia tăng dữ dội hơn nữa khi Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá năm 1558 khởi đầu cho mầm mống nhà Nguyễn sau này. Họ Nguyễn giờ đây chiếm đến khoảng 40 phần trăm của các họ khác nhau của người Việt. Trong niên giám điện thoại ở các thành phố có đông người Việt định cư như ở Úc và Mỹ chẳng hạn, họ Nguyễn được sắp xếp theo thứ tự số đông có thể đứng từ hạng 5 đến hạng 10 rất dễ dàng. Thành ra nói tới họ Nguyễn trong thời đại hiện nay tức nói tới người Việt, Việt Nam. Cũng giống như các họ Singh, Patel cho người Ấn, hoặc Kim, Lee của người Hàn hay Triều Tiên. Kim Dung có ngụ ý gì chăng khi ông phải dùng đến họ Nguyễn cho nhân vật Nguyễn Tinh Châu mà không dùng các họ khác như họ Ðào, họ Lý, họ Tô, họ Hoàng, họ Tiết, họ Nhâm, họ Ðịch và nhất là họ Phạm một họ có cả trong vùng Hoa Nam, nước An Nam và cả nước Lâm Ấp (hay Chiêm Thành) vào các thời xa xưa đó 2

Thêm vào đó, trong ba bốn bộ truyện liên tiếp, Kim Dung ưa đưa vào đó những nhân vật thuộc nước Ðại Lý như Ðoàn Nam Ðế tức Nhất Ðăng Ðại Sư trong Xạ Ðiêu Anh Hùng truyện, Ðoàn Chính Thuần, Ðoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm và Thiên Long Bát Bộ, v.v.  Nước Ðại Lý đại khái nằm ở địa bàn của tỉnh Vân Nam (Yun-Nan) ngày nay. Tỉnh Vân Nam giáp giới với phía Tây Bắc ở mạn Lào Cai, Lai Châu của nước Việt Nam. Thời cổ đại, khu Ðại Lý có tên Ðiền Việt, có thể bao gồm hay giáp ranh với nước Tây Âu hay Âu Việt và nước Nam Cương của Thục Phán. Theo Trần Trọng Kim trong bộ Việt Nam Sử Lược, Thục Phán không thể xuất phát từ nước Tây Thục ở tận Tứ Xuyên xa xôi mà chỉ có thể từ một nước nhỏ nào đó trong khu vực Vân Nam ngày nay, hay vùng mang tên Ðại Lý hồi cuối đời Nam Tống bên Trung Hoa. Taylor trong quyển The Birth of Vietnam (University of California Press (1991)) dẫn cứ tài liệu các sử gia Việt Nam cho rằng Thục Phán xuất quân từ nước Nam Cương nằm ở khu Cao Bằng. Thục Phán đánh dứt điểm Hùng Vương của nước Văn Lang (tức Lạc Việt) rồi sát nhập hai xứ Tây Âu và Lạc Việt thành một nước mang tên Âu Lạc, xưng hiệu An Dương Vương. Sau mấy cái màn đấu võ, nhất là ngón Nhất Dương Chỉ của mấy hoàng thân quốc thích họ Đoàn ở nước Ðại Lý, tức Vân Nam, trong truyện của Kim Dung, nước Ðại Lý bị quân Mông cổ thôn tính vào năm 1253 trước khi Mông Cổ tiến đánh nhà Trần. Tiếp theo, nhà Nguyên đã cho di dân sang đó hơn 30000 quân lính và gia đình của họ cùng với một số người theo đạo Hồi ở vùng Tây Bắc. Chính sách đồng hoá này được tiếp diễn dưới triều đại nhà Minh vào năm 1381.

Thử xem lại giả thiết đơn sơ rằng Kim Dung muốn thu hút thêm độc giả Việt Nam vào thời tiểu thuyết của ông đăng báo hằng ngày ở Saigon theo lối ‘phơi-yơ-tông’ bằng cách cho vào đó một số nhân vật hay bối cảnh có dính líu sơ sơ đến Việt Nam. Kim Dung đã viết Ỷ Thiên Ðồ Long Ký vào năm 1961, Thiên Long Bát Bộ vào năm 1963, và tiểu thuyết kiếm hiệp ngắn cuối cùng của ông mang tên . . . ‘VIỆT Nữ Kiếm’ vào năm 1970 ở Hongkong. Truyện Kim Dung bắt đầu đăng báo hằng ngày tại Sàigòn vào khoảng 1962 và chỉ nổi như cồn vào khoảng 1964. Trước đó Kim Dung đã nổi tiếng tại Singapore, Hongkong, Ðài Loan, và cộng đồng người Hoa ở Mỹ rồi. Tức là trong lúc ông viết đầu óc ông rất khó hướng về Việt Nam trong ý đồ thương mại nhỏ nhen đó. Quyển truyện mang tựa ‘Việt Nữ Kiếm’ đã rõ ràng chứa chấp từ ‘Việt’ được viết vào năm 1970, nhưng lại là một truyện cực ngắn so với những bộ truyện chưởng và dã sử rất dài, kiểu Cô Gái Đồ Long, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Thiên Long Bát Bộ, v.v., nên rất ít người Việt biết tới, nhất là vào những năm chiến tranh ở đầu thập niên 70. Do đó yếu tố Việt hay yếu tố liên hệ đến Việt trong truyện Kim Dung trong lý do thương mại lấy lòng độc giả Việt phải được hoàn toàn gạt bỏ. Truyện Việt Nữ Kiếm nói về thứ ‘Việt’ (hay ‘việc’) gì mà Kim Dung đã chọn làm quyển truyện ngắn kiếm hiệp cuối cùng để đóng sổ sự nghiệp viết tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình lừng danh của ông? Việt Nữ Kiếm chưa được in thành sách ‘bản cứng’ tiếng Việt nhưng hiện có hai bản dịch, một tiếng Việt một tiếng Anh (hay tiếng Mỹ), đăng trọn vẹn trên mạng internet võ hiệp ‘chùa’ ‘vietkiem.com’ hay ‘nhanmonquan.com’4. Truyện kể lại chuyện phục quốc của Việt Vương Câu Tiễn sau khi bị vua Ngô là Phù Sai đánh bại, và giam lỏng nhiều năm tại xứ Ngô. Trong truyện có một cô gái chăn dê học được kiếm pháp thần sầu quỷ khốc từ một con vượn trắng (Nhắc lại màu trắng là màu của hướng Tây, màu của mạng hay hành Kim, như ‘gợi âm’ [Kim] trong tên Kim Dung, của thuyết Ngũ Hành, xem Thử Đọc Lại Kim Dung – Bài 1). Và chính cô gái chăn dê nầy về sau là huấn luyện viên quân sự, truyền dạy kiếm pháp cho binh lính của Câu Tiễn. 

Việc xuất hiện của truyện ‘Việt’ Nữ Kiếm, tác phẩm kiếm hiệp cuối cùng của Kim Dung, đã tăng thêm phần tin tưởng cho giả thiết rằng các yếu tố Việt như họ Nguyễn, nước Ðại Lý, Trần Hữu Lượng trong các truyện trước của Kim Dung không phải là một việc tình cờ nhưng lại là một sự sắp đặt có lớp lang bày tỏ ít nhiều ẩn ý hay ‘tâm sự riêng mang tính chất Việt’ của tác giả. Sau đây, thử cố gắng khảo sát và khai triển thêm để tìm hiểu về tâm sự mang ‘chất Việt’ của Kim Dung bằng cách lượt qua lịch sử Trung Quốc và sử Việt cổ. Tâm tư mang chất Việt này của Kim Dung chỉ là một sợi chỉ nhỏ, nhưng nếu dùng kính lúp của lịch sử để soi tỏ cho rõ sợi chỉ liên hệ đến ‘Việt tính’ này, có lẽ chúng ta sẽ có thể lĩnh hội được một hai điều ngồ ngộ hay hay về Kim Dung nói riêng và về giới trí thức ê-lít người Hoa nói chung, đối với ‘Việt’ và Việt Nam.

Nước Việt vào cuối thời Chiến Quốc là một nước nằm ở địa đầu của vùng Hoa Nam, ven biển, ở phía Nam sông Dương Tử. Nhìn bản đồ nước Trung Quốc ta thấy sông Dương Tử (còn gọi là Trường Giang) đại khái nằm ở vĩ tuyến thứ 30 và chia nước Trung Hoa làm hai. Ở phía Nam sông Dương Tử người Hoa thường gọi Hoa Nam hay Giang Nam (như kiểu Giang Nam Thất Quái, bảy vị sư phụ của Quách Tỉnh trong Anh Hùng Xạ Ðiêu). Phân nửa của nước Tàu ở phía Bắc sông Dương Tử lại có thể chia ra thành 2 phần nữa bằng con sông nổi tiếng mang tên Hoàng Hà đại khái chạy uốn mình quanh co giữa khoảng vĩ tuyến 36 đến 38.  

Hoàng hà có nghĩa con sông màu vàng do ở màu nước phản ảnh loại đất vàng do gió chuyên chở đến từ các sa mạc ở phiá Tây nước Tàu. Ðất màu vàng này tiếng Anh gọi là loess với độ dày ở mặt đất lên đến cỡ 300 thước tây. Bởi người Hoa thời cổ đại tập trung hai bên sông Hoàng Hà họ chỉ thấy đất loess màu vàng mà thôi nên họ dùng màu vàng để chỉ Ðất và mạng Thổ như phần 1 đã trình bày. Trung Quốc trong giai đoạn khai sinh cho tới thời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ nằm quanh quẩn các nước ở phiá Bắc sông Dương Tử và phiá Nam sông Hoàng Hà. Đặc biệt các vùng tập trung dân cư như Lạc Dương, Trường An, Tây An, An Dương, có đời sống thành thị chợ búa đủ mọi giới, đều nằm ở lưu vực của sông Hoàng Hà.  Bình minh của văn minh Trung Quốc cũng ló dạng nơi khu vực đó. Và sáu nước Tần Thuỷ Hoàng đã xoá khỏi bản đồ rồi thống nhất Trung Quốc, mang tên Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Tề, và Yên đa phần cũng chỉ nằm ở phiá Bắc sông Dương Tử mà thôi.

BẢN ĐỒ TRUNG HOA vào khoảng Xuân Thu Chiến Quốc (770-476 // 475-221 TCN)

Ở phiá Nam sông Dương Tử là một nhóm các bộ lạc có chủng tộc thuở khai thiên lập địa cho đến thời nhà Tần nhà Hán hơi khác với chủng tộc Hoa Hạ gốc phía Bắc sông Dương Tử. Người Trung Quốc thời xưa gọi nhóm người này Nam Man tức người còn man rợ ở phiá Nam nước Tàu hồi xưa, tức phiá Nam sông Dương Tử. Họ cũng gọi hàng trăm nhóm người này là Bách Việt tức một trăm thứ tộc Việt không phải ‘Hán thuần tuý’, tức không cùng chủng với người Hoa Hạ ở phía Bắc, trước khi nhà Hán chinh phục các vùng đất phía Nam. Lý do dễ hiểu khi người Hán tộc gốc gọi các tộc Việt ở phiá nam sông Dương Tử Nam Man, chỉ vì thuở đó người Hoa Hạ phiá Bắc sông Dương Tử đã thiết lập được xã hội văn minh với hàng trăm nhà khoa học và tư tưởng gia, đếm không hết: Lão Tử, Trang Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, v.v., nhà quân sự và ‘quân sư’ – tức Cố vấn An ninh Quốc gia theo kiểu gọi bây giờ, như Tôn Tử, Trương Lương, Tô Tần, Trương Nghi, v.v. Trong khi ở phía Nam tuyệt nhiên không có nghe động đậy gì hết về những đóng góp thiết yếu kể trên cho một xã hội văn minh tiến bộ, không nghe đến một nhà tư tưởng nào hết, ngoại trừ ‘nổi tiếng’ về nghề đánh cá canh nông và đàn ông ưa có tục xâm mình. Trong các nước Việt cổ này đáng kể nhất phải kể đến: nước U Việt của Việt Vương Câu Tiễn nằm ở ven biển và phía Nam sông Dương Tử, ứng với địa bàn của Chiết Giang, Giang Tô và Thượng Hải ngày nay; nước Mân Việt tức khu vực tỉnh Phúc Kiến, ở phía nam của nước Việt của Câu Tiễn, còn gọi là Đông Việt;  nước Điền Việt thuộc vùng Vân Nam / Quảng Tây ngày nay; nước Nam Việt ở phía Nam của Mân Việt, sau thời Triệu Ðà chiếm nước Âu Lạc, bao gồm khu vực bình nguyên của sông Tây Giang ở tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây, và một phần của Bắc Bộ ngày nay.

Lân cận về phía Bắc nước Việt của Câu Tiễn (tức U Việt) là nước Ngô, có địa bàn gồm phía Nam của Giang Tô, Bắc của Chiết Giang, và thành phố Tô Châu ngày nay. Chuyện tranh chấp giữa nước Việt và nước Ngô là một chuyện dài như chuyện ‘Hoa Sơn luận kiếm’.  Vào cuối thời Xuân Thu, vua nước Ngô là Hạp Lư dùng Ngũ Tử Tư, một tướng di dân từ Sở qua, đánh bại nước Sở, nhưng sau đánh với nước Việt bị thương rồi chết. Con cháu của Hạp Lư là Ngô Phù Sai trả thù cho Hạp Lư đánh nước Việt và bắt được Câu Tiễn đem về cầm tù, bắt coi ngựa trên dưới 10 năm. Câu Tiễn có tướng giỏi Phạm Lãi giúp bày mưu đem cống hiến mỹ nhân Tây Thi cho Phù Sai để Phù Sai xao lãng việc nước. Câu Tiễn chịu nhục nếm phân Phù Sai lúc Phù Sai bị bệnh nên được thả về và sau đó chiêu mộ binh hùng tướng mạnh đánh tiêu nước Ngô (473 TCN) tạo nên uy thế vang lừng vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên3. Phạm Lãi, có lẽ làm gương cho Trương Lương sau này, sau đó rút lui về ở ẩn. Có giả thuyết nói họ Phạm khi rút lui đã cỡi ngựa với người đẹp Tây Thi đi về phía mặt trời lặn, theo kiểu phim cao-bồi Western của Hollywood. Cũng giống như sau này, trong truyện “Ỷ Thiên Đồ Long Ký”, tức “Cô Gái Đồ Long”, của Kim Dung, Trương Vô Kỵ đã giã từ vũ khí, lẳng lặng từ chức giáo chủ Minh giáo để trở về với nếp sống một phó thường dân ngày ngày lo chải tóc, kẽ chơn mày cho Triệu Minh.

Sau khi chinh phục và chiếm được nước Ngô, Việt Vương Câu Tiễn thừa thắng xông lên đánh tiếp về phương Bắc và hùng cứ một cõi bờ rộng lớn bên cửa sông Dương Tử chảy ra biển Hoàng Hải của Thái Bình Dương. Ở phiá Tây nước U Việt là nước Sở, tức Chu (楚), lúc đó cũng rất hùng cường nhưng hơi thô bạo dã man8. Đối với người Hoa Hạ ở phía Bắc Dương Tử, họ thường coi người Sở không được văn minh bằng họ. (Theo Tư Mã Thiên (Sử Ký), ‘Người nước Sở họ Mị (芈). Mị tiếng Sở mang nghĩa ‘con gấu’, giống tiếng Thái Mee và tiếng Lào Mi, ứng với chữ Hán là Hùng (熊), và nhiều vua nước Sở có tên đầu là Hùng, hiểu theo tiếng Hán, như Hùng Dịch, Hùng Thông, và vua Hùng Thông về sau đổi danh hiệu theo kiểu Hoa Hạ là Sở Vũ Vương.) Thừa cơ nước U Việt mỗi ngày một suy yếu sau khi Câu Tiễn qua đời nước Sở đem quân sang dứt điểm nước Việt vào năm 333 trước Công Nguyên (TCN) rồi thôn tính luôn nước Lỗ của Khổng Tử vào năm 249 TCN. Sau cùng nước Tần thôn tính luôn nước Sở (năm 221 T.C.N.) cùng với các nước khác ở miền Bắc sông Dương Tử và thống nhất được nước Tàu. Rất có khả năng, một số dân chúng nước Việt sau khi bị Sở thô bạo qua chiếm đóng chịu không nổi mới di tản về phía Bắc sông Dương Tử dọc theo bờ biển, và về phiá Nam, định cư lại ở vùng Mân Việt tức tỉnh Phúc Kiến ngày nay. Mân Việt tồn tại sau đó không lâu và chính thức bị nhà Hán (tiếp nối nhà Tần) sát nhập và thôn tính vào một nước Tàu mở rộng, năm 110 TCN. Có thể nói nước Tàu dưới thời nhà Hán đã hoàn toàn xâm chiếm các nước thuộc bộ tộc Việt ở phiá Nam sông Dương Tử. Cũng vào khoảng năm đó (111 TCN) tướng nhà Hán, Lộ Bác Ðức đánh bại tướng Lữ Gia của nước Nam Việt do Triệu Ðà sáng lập khi Triệu Ðà dứt điểm Thục Phán (chuyện tích truyền kỳ Trọng Thủy Mị Châu) và sát nhập nước Âu Lạc của Thục Phán với phần miền Nam của Quảng Ðông và Quảng Tây ngày nay.

Một điểm đáng chú ý trong sự đồng hoá các nhóm ‘Nam man’ ở phía nam sông Dương Tử bởi Hán tộc trong suốt 2000 năm qua nằm ở chung quanh vấn đề danh xưng, tên gọi một hai bộ tộc lớn của các nhóm Bách Việt này. Nếu độc giả có dịp sang Tàu9 ngay ở thời bây giờ, tức cuối thế kỉ 20, vào một tiệm ăn ở miệt Thượng Hải hay Bắc Kinh hoặc Phúc Kiến, và hỏi hay nhờ người hướng dẫn du lịch hỏi chủ tiệm bằng tiếng quan thoại, ở tiệm có thức ăn Việt (Việt thái, yuế tsái) hay không. Khi chủ tiệm trả lời có hoặc không, chủ tiệm có ý muốn nói Việt-thái đó là thức ăn Quảng Ðông. Tương tự khi người Hoa nói Yue ju (Việt kịch) họ muốn chỉ kịch nghệ cổ truyền kiểu Quảng Ðông so với Jing ju (Kinh kịch) để chỉ kịch nghệ Bắc kinh. Thậm chí đôi khi người Hoa lục dùng Việt ngữ (yuế yu) để chỉ tiếng Quảng Ðông, và tiếng nầy cũng thường được xử dụng ở Quảng Tây. Từ Việt trong tên Việt Nam (Yuế nản – 越南) cũng phát âm y hệt Yuế như Yuế (Việt) 粤, dùng để chỉ tỉnh Quảng Ðông, nhưng viết khác là 越 [yue]. Bảng số xe ở Quảng Đông cũng thường được viết bắt đầu bằng chữ 粤 [Yue] tức Việt, tên gọi tắt cho Quảng Đông, khác chữ Việt (越) cho Việt Nam và nhiều nơi khác.  

Chữ ‘Nho’ để chỉ Việt 越 trong Việt Nam (越南) có nghĩa Vượt qua, quá độ (như trong ‘siêu việt’), bao gồm bộ ‘tẩu’ 走 có nghĩa dông, chạy, đi, ‘di tản’, kẹp với một từ ‘qua’ (戈) với nghĩa cái giáo mác, hay cây thương, hoặc cái xiên dùng để đánh trận ngày xưa hay để săn thú đâm cá, và một cái móc nho nhỏ ở giữa. Ðó là Việt (vượt) trong Việt Nam. Ý nghĩa tượng hình của từ ‘Việt’ do đó chỉ một giống người chuyên môn vượt đồng vượt núi, nay đây mai đó, và sống bằng nghề chăn thú đánh cá. Cũng, rất có khả năng, là một ý niệm dùng để chỉ một thị tộc Việt xưa có lối sống của dân du mục. Hoặc, có vẻ chính xác hơn, lúc người Hoa ở phía Bắc sông Dương Tử bắt đầu biết đến Việt tộc nầy, họ thấy đa phần người Việt đó có lối sống của dân du mục, và dùng chữ 越 [yue] để gọi nhóm dân nầy. 

Chữ 粤 [Yue]5 để chỉ tỉnh Quảng Ðông, khác với chữ Việt 越 [yue] kia, và gồm 2 phần, phần trên có dạng giống như lá cờ Anh Quốc với bốn gạch chéo, tức từ Mễ (米 [mǐ]) có nghĩa ‘Hạt Gạo’, và phần dưới gồm hình cái móc (丂 [kǎo]) có hình dạng giống như lưỡi rìu, lưỡi cày, chỉ loại người Việt chuyên làm ruộng để sinh sống. Từ Việt (Yuế) trong nước U Việt (You Yuế 於越) của Câu Tiễn cũng như Việt trong Mân Việt (Mĩn Yuế) ở tỉnh Phúc Kiến cũng đều được viết y như Việt (越) của Việt Nam (Yue Nan). Chỉ có Việt của Quảng Ðông khác với 2 thứ Việt ở hai phía bắc và nam của Quảng Ðông. Việt kiểu Quảng Ðông viết khác đi với 2 thứ Việt có lẽ bắt nguồn từ cái nhìn hoặc một hiểu biết rất độc sáng nào đó của người Hoa thời cổ đại. Ðó là họ biết rằng người Việt của Câu Tiễn ở phía mạn trên sinh sống bằng nghề săn thú và đánh cá, và phần lớn mang tính du mục, còn người Việt ở mạn Quảng Ðông (trừ Việt Nam) sinh sống chính bằng canh nông và làm ruộng. Họ loại trừ Việt Nam ra khỏi từ Yuế có cái móc lưỡi rìu (của Quảng Ðông) mà lại gán Việt Nam vào nhóm từ Yuế có cái giáo cây thương, viết bằng chữ 越 [Yue] chỉ dân Việt ở khu nước Ngô và Việt ở thời Câu Tiễn và Phù Sai, hay dân Việt ở khu Mân Việt, tức Phúc Kiến. Xin phép nhấn mạnh, có vẻ như dân Việt viết bằng chữ 越 [Yue] sống theo kiểu dân du mục, trong khi dân Việt (粤 [Yue]) ở khu Quảng Đông ngày nay sống bằng nghề canh nông và lúa nước. Trong khi chữ Nam Việt (Triệu Đà), có chữ Việt, không viết theo Việt 粤 (Quảng Đông) mà lại viết theo Việt 越, vẫn giữ và dùng cho Việt Nam5, sau nầy. Ngoài ra cũng có một ít lộn xộn trong kiểu dùng một âm [Yuế] với hai kiểu chữ viết 越 [yue] và 粤 [yue]. Hai tộc người Yue (Việt) nầy rất có thể là hai tộc gốc mặc dù mang chung tên gọi là Việt (越 [yue] và 粤 [yue]), nhưng tộc 粤 [yue] (Quảng Đông / Vân Nam) có vẻ gần tộc Thái, Dai, Tai-Kadai (Kra-Dai), v.v., hơn là phần chính Việt tộc ở nước Việt xưa và nay 11. Có nghĩa, có thể có một phân biệt giữa Việt tộc gốc Thái, và Việt tộc gốc Việt, trong các cộng đồng tộc Việt ở nước Trung Hoa xưa. 

Bây giờ xin trở lại với Kim Dung và xin đặt ra hai câu hỏi mấu chốt: Thứ nhất, với lý do thầm kín gì, nếu có, Kim Dung lại chọn Việt Nữ Kiếm làm tên quyển truyện kiếm hiếp cuối cùng của mình. Thứ hai, nếu Việt trong Việt Nữ Kiếm có nhiều cơ sở luận lý, những liên chỉ đến thứ Việt khác như Việt Nam trong vài truyện hay nhất của Kim Dung, mặc dù hơi bàng bạc như một sợi chỉ nhỏ, như Trần Hữu Lượng, Nguyễn Tinh Châu, nước Ðại Lý (tức Điền Việt ngày xưa hoặc Vân Nam ngày nay) của Đoàn Nam Đế, Đoàn Dự, đã mang một thông điệp hay một tâm sự nho nhỏ gì của Kim Dung?

Trả lời câu hỏi thứ nhất, thử xem Kim Dung thật sự sinh trưởng ở đâu? Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh tại thành phố Hải Ninh thuộc tỉnh Chiết Giang (hay Triết Giang). Nhà văn mang tầm vóc quốc tế trước Kim Dung, cũng có gốc gác ở Chiết Giang chính là Lỗ Tấn (鲁迅, 1881-1936). Chiết Giang nằm ở phía Nam sông Dương Tử bao gồm những thành phố lớn như Hàng Châu, Tô Châu và Thượng Hải. Trong khi Nam Kinh lại thuộc tỉnh An Huy, lân cận với Chiết Giang, và nhớ là Nam Kinh, trước thời Loạn Ngũ Hồ (304-316 SCN), cũng nói tiếng Ngô Việt, tiếng của khu vực Chiết Giang, Giang Tô, Thượng Hải. Chiết Giang đích thị tương đương với phạm trù địa bàn nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn cách đây hơn hai ngàn năm.  Ta để ý kết cuộc của Ỷ Thiên Ðồ Long ký với Trương Vô Kỵ từ bỏ chức vụ ‘tổng tư lệnh’ của quân kháng chiến chống Mông Cổ thuộc cánh Ma giáo để vui cảnh sống ẩn dật với Triệu Minh cũng giống y hệt như việc từ giã vinh hoa phú quý của tướng Phạm Lãi, theo tương truyền, giã từ Việt Vương Câu Tiễn ở cuối thời Chiến Quốc tại nước Việt, tức tỉnh Chiết Giang bây giờ của Kim Dung. Vậy có vẻ rất rõ Kim Dung muốn bày tỏ cội nguồn của mình (hậu duệ của Câu Tiễn hay của Phạm Lãi), một người Hán có gốc Việt hùng cường của nước Việt Câu Tiễn trong quyển truyện cuối cùng Việt Nữ Kiếm. Từ khám phá này ta có thể dựng lên vô số các giả thiết về tâm sự Việt tính của Kim Dung trong một số tiểu thuyết nổi danh nhất của ông. 

Có thêm hai điểm nổi bật cần phải để ý khi lập dựng các giả thiết chung quanh tâm sự mang chất Việt của Kim Dung. Thứ nhất, nhân vật Mộ Dung Công Tử trong Thiên Long Bát Bộ. Mộ Dung Công Tử tức Mộ Dung Phục có tổ tiên người hoàng tộc nước Tiêu Ty (tức Ðại Yên).  Trong truyện, Kim Dung cho Mộ Dung Phục mang giấc mơ hão huyền phục quốc lại nước Tiêu Ty (để trở về đó ‘làm vua’). Tìm đủ mọi cách để chiêu mộ binh sĩ không xong Mộ Dung Phục mới nghĩ đến chuyện lấy cho được một nàng công chuá nước nọ để anh trở thành phò mã rồi lợi dụng binh lính sẵn có của nhà vợ đem về bắc khôi phục lại nước Tiêu Ty. Giấc mơ đó trở thành mây khói khi công chuá không chọn Mộ Dung Phục mà lại chọn ông thầy tu Thiếu Lâm đã cởi áo cà sa tên Hư Trúc người nước Tây Hạ, anh em kết nghĩa với Ðoàn Dự và Tiêu Phong. Phục quốc không được Mộ Dung công tử đâm ra khùng khùng điên điên vào lúc kết cục pho truyện Thiên Long Bát Bộ. Vậy điểm thứ nhất có thể suy diễn cho vui vui, Kim Dung xác nhận ông không bao giờ có giấc mơ thấy chuyện hão huyền phục quốc nước Việt của Câu Tiễn ở cái thời xa xưa. Nhất là phục quốc để mình về đó làm vua. Thứ hai, nhân vật Nguyễn Tinh Châu tức A Châu. A Châu xuất thân từ vùng Giang Nam, dĩ nhiên dưới mắt Kim Dung tất cả đều đã trở thành Hán tộc, đã thốt lên một câu nhân vụ giới giang hồ bắt đầu kỳ thị và ‘bề hội đồng’ Tiêu Phong, sau khi khám phá ra Tiêu Phong mang dòng máu Khất Ðan, đại khái rằng: ‘Làm người Trung Quốc chưa chắc đã là tốt và làm người Khất Ðan chưa chắc đã là xấu’. Ðiểm thứ hai do đó có thể liên chỉ đến niềm hãnh diện sâu xa của các sắc tộc xa xưa của miền Hoa Nam sau vài thế kỷ đã trở thành Hán tộc. Một niềm tự hào của người Hán tộc thật sự không kể đến gốc gác. Theo sát với câu nói thường nghe từ các phim xi nê, người Trung quốc chân chính phải nghĩ mình là người Hán, trước khi nghĩ mình là người từ địa phương (như: Chiết Giang, Thượng Hải, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sơn Đông, Thiểm Tây, Trường Sa, Hồ Nam, v.v.) 

Kim Dung có tâm sự gì nữa không khi ông liên tiếp cho vào các tiểu thuyết nổi danh nhất của ông những nhân vật và bối cảnh liên hệ gần gũi với nước Việt Nam?  Nói cách khác trong đầu của Kim Dung có những hiểu biết gì về liên hệ dân tộc của người Việt Nam với người U Việt của Câu Tiễn?  Câu trả lời giản đơn là CÓ. Ðó là sự hiểu biết truyền tụng qua ngàn đời trong sách vở và dân gian ở Trung Quốc rằng dân Việt Nam đã là một hay tập hợp của một số trong các nhóm Việt tộc ở phiá nam sông Dương Tử và sau này trước khi bị nhà Hán đô hộ, ‘nước Việt’ xưa đã đón nhận và cho ‘thẻ xanh’ vô số dân ‘tị nạn’ kéo nhau xuống định cư, phần lớn từ nước U Việt hoặc nước Mân Việt. (Có lẽ bởi vậy người Hoa thời xưa đã dùng từ Việt có cây giáo dùng để chỉ chung cho người Việt Nam, người U Việt và người Mân Việt). Cũng như dân từ Nam Việt (Quảng Đông) hay Điền Việt (Vân Nam / Đại Lý), hay Việt tộc (Bộc Lão tức Bộc Việt)8 từ nước Sở, nhất là sau khi bị nước Tần thôn tính về sau. 

Một trong những học giả nổi tiếng về sử học và nhân chủng học Việt Nam vào ‘thời tiền chiến’ Léonard Aurousseau [2], dựa trên sách vở của mấy sử gia Trung Hoa từ thời cổ đại, đưa ra giả thuyết rằng giai cấp lãnh đạo của nước Việt Câu Tiễn sau khi bị quân nước Sở xâm chiếm vào năm 333 TCN đã di tản sang các miền lân cận như Mân Việt rồi chạy tuốt xuống miền Bắc đất Việt Nam ngày nay, lập ra nước Văn Lang. Câu Tiễn chính là 1 trong 18 Hùng Vương, và thuyết này có sự hưởng ứng của một số sử gia Việt Nam, trong đó có Phạm Văn Sơn [5]. Taylor trong quyển The Birth of Vietnam [1] gọi giả thuyết này một giả thuyết chết yểu bởi có rất nhiều chống đối chỉ trích kịch liệt từ những học giả khác như Maspero [4] và Madrolle [3]. Madrolle gạt bỏ thuyết này và cho rằng thuyết này không để ý đến đoạn đường dài đầy chông gai hiểm trở từ nước Việt- Câu Tiễn đến Văn Lang trong khoảng cuối thời đại Hùng Vương, nếu không kể đến việc gặp sự chống đối của dân địa phương của nước Mân Việt, hay nhiều sắc tộc khác trên đường di tản ‘chiến lược’ đó. Madrolle sau đó tung ra lý thuyết của riêng mình cho rằng có lẽ người Lạc Việt cổ xuất phát từ Phúc Kiến (tức Mân Việt) và đến xứ Văn Lang bằng đường biển như là những thuyền nhân đầu tiên. Theo Taylor, Madrolle đã dựa vào một số cơ sở mơ hồ, và so sánh họ của một số bộ tộc ở Mân Việt (Phúc Kiến) với họ của người Việt cổ ở Lạc Việt để đi đến giả thuyết này. Tuy nhiên Taylor lại đưa ra một dẫn chứng lịch sử khác cho rằng một đám người thuộc giai cấp lãnh đạo của một nước vừa bị thôn tính đang trên đường đào tẩu có thể đến một nước khác ‘làm cha’ người ta như thường và sau đó đổi tên nước mới di cư đến thành tên nước cũ của mình. Taylor viện dẫn thí dụ dân Croats gốc Iran và dân Serbs đã sang cai trị giống người Slavic ở bán đảo Balkan (khu Hy Lạp) vào thế kỷ thứ 7. Từ dẫn chứng thí dụ này Taylor trở lại cho rằng không thể hoàn toàn bác bỏ thuyết của Aurousseau.

Sợi chỉ nối liên hệ Việt của Câu Tiễn với Việt ở Việt Nam nếu có trong tiểu thuyết Kim Dung chắc chắn dựa phần lớn vào một phần của thuyết Aurousseau và chính nó lại dựa vào sử sách của người Trung Hoa. Theo thiển ý, có thể thấy lối thiết lập các lí thuyết về nguồn gốc dân tộc kiểu Aurousseau, Maspero hay Madrolle đều nằm trong một khung lí luận của triết học cổ điển, và có thể truy khung lí luận nầy về biện chứng pháp của Hegel. Đại khái, biện chứng pháp Hegel bao gồm tiền đề kéo theo bằng phản đề, rồi phản đề và tiền đề trở thành hợp đề, để dẫn đến một phản đề mới tương phản với hợp đề, rồi tạo nên một hợp đề mới, rồi phản đề mới nữa, vân vân và vân vân, với những phản biện sau cùng được cho là gần gũi với chân lí nhất. Biện chứng pháp của Hegel, theo thiển ý, có mô hình giống với sóng biển chạy vào đất liền, đưa tới một hình thái chung cuộc sau cùng. Thí dụ tiêu biểu của biện chứng pháp Hegel đưa đến một chung cuộc là dạng thức cuối cùng của thế giới đại đồng theo Karl Marx, hoặc ý nghĩa của tựa đề quyển sách ‘The end of history and the last man’ của Francis Fukuyama, nhân chuyện kết thúc chiến tranh lạnh vào đầu thập niên cuối của thế kỉ trước. Tự nó, biện chứng pháp là một phương pháp triết học chứ không phải khoa học, nhưng thường dùng như lí luận ‘khoa học‘ cho mãi đến thế kỷ 20, và ngày nay trong những kêu gọi tranh luận hoặc đối thoại (debate hay conversation) giữa các chính trị gia hoặc nhà báo.  

Còn có thể thấy những lí thuyết kiểu Maspero và Aurousseau mang nặng tính một chiều tức dualism, và tính đường hướng của luận thuật, thiết lập rất rõ qua bộ Sử Kí của Tư Mã Thiên. Tính một chiều có thể hiểu đại khái như mỗi một thuyết cho một nguồn gốc khác với nguồn gốc của thuyết kia. Trong khi tính đường hướng của luận thuật nhấn mạnh ở chỗ việc thiết lập một đất nước tức quốc gia, là do ở chuyện phong điền kiến tước (phong kiến) từ một hoàng đế, hoặc do các ông hoàng bà chúa di tản chiến lược từ chỗ nầy qua sáng lập nhà nước ở chỗ khác. Thí dụ như theo Sử Kí, nước Tề là do vua nhà Châu phong cho ông Lã Vọng (Khương Tử Nha), để thưởng công cho ông nầy trong chuyện phò Châu diệt Thương. Hoặc vua nước Việt, như Câu Tiễn có họ hoàng tộc (gốc) là họ Tự (姒), họ của vua Đại Vũ (大禹) nhà Hạ (2070-1600 TCN). Đường hướng dựa vào chuyện làm chúa nước nầy dẫn tới chuyện làm vua nơi khác, không phải chỉ có ghi trong Sử Ký (Tư Mã Thiên) mà còn được thể hiện ở nhiều nơi, giống như chuyện Lạc Long Quân với bà Âu Cơ có gốc hoàng tộc từ phương Bắc, khu vực Động Đình Hồ ở nước Sở (dân Bộc Việt). Đường hướng vua xứ mới có gốc ông hoàng bà chúa ở nơi khác, khác với đường hướng về chuyện dân ba đào chạy giặc, hoặc dời cư, tới một vùng đất khác, gia nhập với cộng đồng địa phương, và sau vài thế hệ, con cháu những người nầy có cơ hội đứng ra đảm nhận vai trò ê-lít, lãnh đạo đối với dân địa phương. Đó là kiểu hội nhập di dân toàn cầu, xưa cũng như nay, như kiểu của Disraeli, Rishi Sunak, Barack Obama, Alberto Fujimori, Lý Bôn, Trần Thủ Độ và Nhà Trần, Hồ Quý Ly, Nguyễn Huệ, Thaksin Shinawatra, Rodrigo Duterte, v.v. 

Ngoài ra, cũng có thể thấy, đa phần lí luận khoa học tìm thấy trong sử sách có trước thế kỉ 21, có vẻ không được hỗ trợ đầy đủ bằng chứng liệu hãy còn thiếu thốn trước khi có internet. Hoặc nếu có, vẫn chịu ảnh hưởng và bị gò bó bởi những đường hướng nghiên cứu của nguyên mô pháp (paradigm), tức lối làm việc của những nhà nghiên cứu, và giới khoa bảng ở đại học.

Có 2 vấn đề chính liên hệ đến tựa đề của bài viết. Thứ nhất, nguồn Việt của Kim Dung dựa vào một số chi tiết về danh tánh của nhiều nhân vật trong các truyện chưởng của Kim Dung. Và thứ hai, mối liên hệ giữa nguồn Việt của Kim Dung và nguồn Việt của người Việt ở Việt Nam, là một trong những mối liên hệ, nhất là liên hệ huyết thống hay lịch sử, và liên hệ nầy có thật hay không. 

Nói tới nguồn Việt nằm trong cộng đồng Hán tộc ở Trung Quốc ngày nay là nói tới chuyện ít khi nghe nói tới vào thế kỉ 21. Bởi từ khoảng giữa thế kỉ 20, người ta biết Trung Quốc có tất cả 56 sắc tộc, với 5 sắc tộc chính là tộc Hán (汉), Mãn (满), Mông () (Mông Cổ), Hồi (回) và Tạng (藏) (Tây Tạng). Thường cho là 5 sắc tộc chính ứng với 5 màu của Ngũ Hành: Đỏ (Hán), Vàng (Mãn Châu), Xanh (Mông Cổ), Trắng (Hồi) và Đen (Tây Tạng). Nhưng để ý, 5 màu sắc ngũ hành ứng với 5 tộc người chính không có mang liên hệ rõ rệt với 5 phương hướng của ngũ hành là Đông Tây Nam Bắc và Trung. 

Cũng có chỗ ghi 5 sắc tộc chính của Trung Quốc là Hán (汉), Choang tức Tráng (壮), Hồi (回), Mãn (满) và Uyghur tức Duy Ngô Nhĩ (维吾尔). So sánh kiểu phân chia nầy với kiểu trên thì tộc người Mãn (满) có mặt ở hai kiểu phân chia, trong khi ở kiểu phân loại sau, tộc Mông Cổ và Tây Tạng sát nhập với Hán tộc, và các tộc Zhuang (壮), tộc Hồi (回) cũng như Uyghur (维吾尔) là các tộc thuộc các Khu Tự Trị của phân chia hành chánh ngày nay. Trọng tâm của các sắc tộc nầy là Hán tộc, một kiểu tên gọi mang nhiều ý nghĩa của chữ nghĩa hơn là huyết thống kiểu DNA. Tên gọi nhà Hán và người Hán (Hán Tử –  ) là tên gọi dựa vào tên của sông Hán (Hán Thủy), một nhánh phụ lưu của sông Trường Giang nằm ở chính giữa của địa lí Trung Quốc, cũng là tên gọi triều đại nhà Hán của Lưu Bang, xem Bản Đồ. Tên gọi Hán để chỉ nước Hán và người Hán đã thay thế chữ Tần, người Tần, khi nhà Hán thay thế nhà Tần. Về sau chữ Hán Tử, dùng để chỉ người Hán, có thay đổi thành Đường Nhân (người Đường) vào thời nhà Đường (618-907), thời đại vàng son của nước Trung, nhưng Hán tộc dùng để chỉ tộc người chính của dân Trung Quốc được tồn tại cho mãi đến ngày nay. Nhớ là tên nước China lại là tên gọi từ chữ Tần để chỉ nhà Tần, của Tần Thủy Hoàng Đế (259-210 TCN), người đầu tiên thống nhất nước Trung. Chữ China là tên tiếng Anh ứng với Cīn tiếng Thai, Chine tiếng Pháp, Chin tiếng Ba Tư, tất cả là phiên âm của chữ 秦 [qin] (Tần) tiếng Trung, nói về nhà Tần đầu tiên thống nhất Hoa Hạ. Trong khi người Nga gọi nước Trung là Kitay, gọi theo tên tộc người Kitan (契丹), một tộc người ở phía Đông Bắc nước Trung từng cai trị nước trong suốt 2 thế kỉ giữa thiên niên kỉ thứ 1 và thứ 2 sau Công Nguyên. Tên Khitan chính là tên gọi Khiết Đan (Khất Đan) trong các bản dịch của truyện Thiên Long Bát Bộ / Lục Mạch Thần Kiếm của Kim Dung, và cũng là âm tương ứng với âm chữ Cathay trong tên Hãng Hàng Không Cathay Pacific của Hongkong.

Tên nước Trung Hoa, người Chàm xưa thường gọi là nước Laow, so với Lao là nước Lào 6. Đặc biệt, tiếng Việt cho tới thời mới có quốc ngữ, thường dùng chữ Ngô, nước Ngô9 để chỉ nước Trung ngày nay (xem: Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Chuyến Đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876 của J.B. Trương Vĩnh Ký)9. Chữ Ngô trong nước Ngô, viết bằng chữ 吳 [wu] được dùng tên cho hai nước ở phía Đông là nước Ngô của Phù Sai (đối thủ của Câu Tiễn), và nước Đông Ngô của Tôn Quyền thời Tam Quốc (220-280 SCN). Cả hai nước Ngô nầy đều không nằm trong vị thế bạn bè hay thân hữu với thần dân hay hậu duệ của nước U Việt (於越) của Câu Tiễn, hay dân Việt ở xứ Giao Châu xưa. Đặc biệt nước Đông Ngô đã thay thế nhà Đông Hán, khoảng năm 222 SCN, trong việc làm chủ nhân đô hộ vùng đất phía Nam. Đông Ngô đã chia vùng đất nầy thành 2 khu vực, Quảng Châu và Giao Châu. Đây cũng có lẽ là lí do sâu xa của tên gọi nước Ngô thay vì nước Đường hay nước Tần, hoặc Trung Hoa, trong tiếng Việt thời xưa9. Chữ Ngô (吳) cũng là chữ Ngô trong nước Ngô Việt, với Ngô Việt bao gồm nước Ngô (吳) của Phù Sai và nước Việt (U Việt 於越) của Câu Tiễn, với chữ 於 (hay 于7) [yu] có phát âm là [U], giống như U trong U Việt, trong tiếng Nam Kinh, kinh đô của Đông Ngô, và âm tiếng Việt tương ứng với [U] trong U Việt là [ư] hay [ô] mang nghĩa, cũng như âm, ngày nay như (ở tại). Theo thuyết Aurousseau, các hoàng thân quốc thích thuộc nước U Việt, sau khi nước nầy bị Sở thôn tính vào năm 333 TCN, đã thiết lập một tiểu quốc gọi là Việt Đông Hải (越東海)7, ngày nay nằm ở vị trí của thành phố Ôn Châu (温州) hay Uẩn Châu (đọc [ôn] theo kiểu Phúc Kiến, và [uẩn] theo nhiều phương ngữ khác). Theo Wikipedia, tiếng Uẩn Châu giống tiếng Việt cổ. Theo sưu tầm từ trên mạng tiếng Ôn Châu có những từ rất thuần Việt hay thuần Nôm, như vợ (phụ), là (to be), đá (thạch), ế khách (vắng khách), cưa (saw), v.v. Quan trọng và độc đáo nhất là động từ to be (là) trong tiếng Ôn Châu và Ngô Việt nói chung, có phát âm y hệt như của tiếng Việt, trong khi chữ thì lại giống [shi] mang nghĩa như to be yes. Tuy nhiên, nhiều lý thuyết về ngôn ngữ xưa nay, rất khó đứng vững với khám phá về tương đồng từ vựng giữa các thứ tiếng cách xa nhau về lịch sử cũng như địa lí. Thí dụ như chữ tiếng Việt có đánh vần và phát âm y như [va] (and) tiếng Ba Tư. Hoặc số 2 [dva] tiếng Nga gần như âm [dwa] (2) tiếng Chàm. Hay số một (1) tiếng Việt có phát âm gần như vậy [mot] (1) trong tiếng người dân tộc ở Úc. Hoặc chữ hắn (đại từ ngôi 3) tiếng Việt giống y như han (he) tiếng Danish hay Norwegian. Hay ngữ âm šu trong tiếng Sumerian, cách đây khoảng 5000 năm, chỉ tay, cánh tay, rất gần với âm [shǒu] 手, tiếng Trung, cũng mang nghĩa tay, bàn tay. 

Khu vực nước U Việt, vào năm 192 TCN, được vua Hán Cao Tổ (Lưu Bang – 202-195 TCN) phong cho Sô Diêu (驺摇) và đổi tên là Đông Âu (東甌) hay Âu Việt (甌越) vào khoảng những năm đầu của nhà Hán (206 TCN-9 SCN // 25 SCN-220 SCN). Tiểu quốc Âu Việt hay Đông Âu nằm ở khu vực Ôn Châu (温州) và Đài Châu (台州) thuộc tỉnh Chiết Giang () ngày nay. Về sau cả ba vương quốc Mân Việt (Phúc Kiến), Nam Việt (Tây Âu) và Đông Việt (Đông Âu hay Âu Việt) bị nhà Hán sát nhập vào năm 111 TCN. Nhớ là khu vực Nam Việt của Triệu Đà vào cuối thời Chiến Quốc (475-221 TCN) sang qua đời nhà Tần còn gọi là Tây Âu (西甌) để đối với khu vực Đông Âu (東甌), hay Âu Việt (甌越) ở phía Đông, thuộc khu vực Ôn Châu của Chiết Giang. Chữ Âu (甌) trong Tây Âu hay Đông Âu hoặc Âu Việt hay Âu Lạc (甌雒 hay đôi khi 甌駱), bắt nguồn từ chữ Âu (甌) của sông Âu, tức Âu Giang (甌江 – Oujiang), con sông lớn thứ hai của Chiết Giang chảy ra biển ở Ôn Châu. (Có thể nói, do đó, chữ Âu thường thấy đứng bên cạnh với các chữ như Đông (Đông Âu), Tây (Tây Âu), Việt (Âu Việt) tức U Việt, và Lạc (Âu Lạc), có gốc là Âu trong Âu Giang (甌江 – Oujiang) ở Ôn Châu, địa bàn của chủng Việt của Câu Tiễn.)  Cũng giống như chữ Lạc trong Âu Lạc (甌雒) hay Lạc Việt (雒越 hoặc 駱越) rất có khả năng có từ nguyên là chữ Lạc chỉ sông Lạc (洛河 [Luohe]), một phụ lưu của Hoàng Hà ở Thiểm Tây và Hà Nam. Hoặc chữ Bộc trong Bộc Việt (浦越), tức nhóm người Việt xuất từ khu nước Sở (楚), có liên hệ đến tên sông Bộc (浦江 (Bộc Giang)) ở Sơn Đông, hoặc sông Bộc (濮水 (Bộc Thủy)) ở Hà Nam. 

Đọc lịch sử nước Trung, có thể thấy rõ trước khi nước Trung được nhất thống (lần cuối) vào giữa thế kỉ 20, nước nầy đã trải qua rất nhiều cuộc nội chiến, kéo dài hằng nghìn năm, giữa nhiều địa phương với nhau, và giữa những tộc người ở phía Bắc và phía Nam. Theo đó 2 sắc tộc chính, Hán và Việt, đã có nhiều cơ hội hội nhập với nhau. Có nghĩa, tộc Việt của khối Bách Việt, tiêu biểu bằng hai chữ 粤 (Việt) và 越 (Việt), cũng như nhiều Việt tộc khác ở phía Nam, sát nhập một cách tự nhiên với Hán tộc, thường cho là xuất từ phía Bắc. Đó là lí do chính, khiến không thấy đề cập đến chuyện Việt tộc là một trong những tộc người chính ở nước Trung, mặc dù vẫn thấy hai chữ 粤 (Việt) và 越 (Việt) được dùng để chỉ ngôn ngữ hay văn hóa của nhiều khu vực ở nước Trung ngày nay.  Cũng như có thể thấy qua tâm sự về gốc và nguồn Việt của tác giả truyện chưởng Kim Dung. 

Với thắc mắc về chuyện nguồn Việt của tộc người Việt ở Việt Nam có liên hệ gì với Việt tộc có gốc ở nước Việt của Câu Tiễn hay không, câu trả lời ‘có lí’ nhất có lẽ là chưa biết hoặc không biết. Hoặc nếu có, thì rất khó là dân Việt từ nước Việt của Câu Tiễn, nếu có dời cư đến nước Việt xưa, đã là thành phần chủ lực đưa đến việc thành lập nước Đại Việt về sau, hoặc đã hun đúc ra cá tính của người Việt ở Việt Nam về sau. Bởi ở lí do là các thứ nghiên cứu có trước thế kỉ 21, thiếu thốn rất nhiều dữ liệu, và những dữ liệu mới nầy lần lượt xuất hiện trong vòng vài thập kỉ vừa qua. Thêm vào đó, khoa học nghiên cứu về nguồn gốc tộc người thường xuyên được định hướng bởi nhiều nguyên lí, trong đó những nguyên lí chính dựa vào quan sát chuyện thành lập các quốc gia và dân tộc ở Âu Châu, hoặc theo mô hình của các nước-thành-thị (city states) thời cổ La Hy, và lướt qua mô hình của các quốc gia mới thành hình trong vài thế kỉ qua mang tính hợp chủng, có tiếng riêng của dân tộc, nhưng lại không ‘riêng’ như các tiếng Âu Châu, như Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, hoặc ngay cả Trung Quốc, với tính hợp chủng, trong vấn đề chữ viết, tiếng nói và văn hóa. 

Thêm vào đó, nhiều tiểu quốc ở Đông Nam Á thời xưa không hội đủ những tiêu chuẩn kiểu Tây Phương để gọi là quốc gia, hoặc có thể cũng không chính xác khi gọi đó là chiefdom (tù trưởng quốc) theo những tiêu chuẩn dễ dãi hơn. Khó khăn lớn nhất vẫn là quan niệm về quốc gia ở cuối thế kỉ 20, khác với mô hình nhiều thế kỉ về trước, được gắn kết chặt chẽ với quyền tự quyết dân tộc (sovereignty), kéo theo đó, căn tính hay tính cá thể của dân tộc. Rồi dẫn đến các nguyên lí dựng lên chung quanh, như nguyên lí một dân tộc một ngôn ngữ, tức nguyên lí tiếng mẹ đẻ,nguyên lí cây và cành trong chủng tộc và ngôn ngữ, cho cấu trúc chủng tộc văn hóa giống với cấu trúc ngôn ngữ, v.v. Đa phần những nguyên lí mới nầy được thiết lập trong vòng một hai thế kỉ gần đây, song song với tiến bộ của các ngành khoa học nhân văn và nhân chủng. Quan trọng nhất, vẫn chưa có xác định mang tính khoa học chắc chắn là có mối liên hệ 1:1 giữa ngôn ngữ hay văn hóa và chủng tộc, biểu thị bằng DNA. Thí dụ như nguyên lí tiếng mẹ đẻ gắn liền DNA với tiếng nói, có vẻ như sụp đổ theo với quan sát là con em di dân, sang các nước Âu Mỹ, ở thế hệ thứ hai, khi có cơ hội, có thể nói và viết tiếng địa phương y như người bản địa. Cộng với tính ngôn ngữ có thể thay đổi trơn tru trong vòng 1-2 thế hệ theo khám phá qua hỗn ngữ và hợp ngữ, kiểu tiếng Pidgin Creole. Những quan sát mới nầy vẫn không lay chuyển được kiểu suy nghĩ hoặc hiểu biết chính thống của giới nghiên cứu. Bởi chính thống cũng thuộc vào ý niệm của Thomas Kuhn về paradigm (mô pháp), và mô pháp sẽ dễ dàng đưa những quan sát mới có, nhưng rất rõ rệt, nầy vào những con số thống kê thuộc ngoại lệ. 

Cũng cần nhấn mạnh là có một số nguyên lí liên hệ đến quốc gia dân tộc luôn luôn mang trọn gói tính định hướng cho những nghiên cứu hay tìm tòi liên quan đến chuyện nguồn gốc dân tộc. Có nghĩa, những gì thuộc kiến thức có lâu đời rất khó thay đổi, bởi luôn luôn có con số dữ liệu thống kê khổng lồ hỗ trợ. Thêm vào đó, nếu hiểu kiến thức khoa học như một thứ kiến thức đáng tin cậy nhất, rất gần với chân lí, thì kiến thức khoa học vẫn luôn luôn dưới sự chỉ huy và điều khiển bởi kiến thức dính sát với sinh tồn. Từ đó, có thể thấy, bởi cứu cánh tối hậu của chân lý vẫn là sinh tồn, cho nên những kiến thức liên hệ lâu đời với sinh tồn rất khó thay đổi bằng những thứ kiến thức mới mẻ do khoa học ‘tìm ra’. Có nghĩa, rất có khả năng, nhiều kiến thức mới mẻ do khoa học tìm ra, dễ chạy vào cái hộp của chân lí bất tiện (inconvenient truth), bởi chân lí bất tiện hay chân lí không tiện dụng có thể đi ngược với thói quen, tập tục, hay suy nghĩ đã có sẵn từ lâu. Nằm ở trên và là bộ máy hay cơ viện cho khoa học chính là mô pháp (paradigm), và mô pháp tự nó cũng có một vài đặc tính khiến cho chuyện nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc rất khó có một kết luận chung cuộc, trừ những ‘dân tộc’ được ‘thiết lập’ trong một vài thế kỉ gần đây. Quan trọng nhất của những đặc tính của mô pháp nầy là chuyên ngành, thí dụ như nghiên cứu về khảo cổ ít khi bao gồm luôn nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hóa và tập tục, v.v. Trong khi, vẫn không có một định luật chắc nịch về nguyên nhân và hậu quả, hay điểm xuất và điểm tới, giữa cái nầy với cái kia, khi cả hai có với nhau một hệ số tương quan (correlation coefficient) cao và gần bằng 1.0. Cũng như những tiêu chí như ngôn ngữ, văn hóa và tập tục, tùy theo thời đại, có thể thay đổi rất nhiều, và trong một thời gian ngắn, chừng 1-2 thế hệ.

Hình 1 : Giống nhau như đúc giữa thanh quất tìm thấy ở Sơn Tây và thanh quất ở Hà Nam (trích từ : Mỹ Thuật Cổ Truyền Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ (1981))

Xin thử đơn cử một vài thí dụ, cho thấy có liên hệ từ nơi nầy đến chốn kia, xa cách nhau hằng nghìn cây số. Trước hết là Hình 1, sao lại từ quyển Mỹ Thuật Cổ Truyền Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ (1981), Nxb Sử Địa, cho thấy hai thanh quất (dagger, sword), một đào được ở Sơn Tây (VN) và cái kia tìm thấy ở Hà Nam (TQ), trông y hệt như nhau. Hoặc như kiến trúc và nghệ thuật (trong những viên gạch) tìm thấy trong hầm mộ ở Quảng Ninh, được nhiều chuyên gia cho là rất hiếm thấy, ngay cả ở Trung Quốc (xem: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3091/7540/ham-mo-co-the-ky-thu-2-va-dong-ho-ly-o-viet-nam.html).

Một bài viết thuộc ngành khảo cổ gần đây [6] cũng cho thấy có giống nhau giữa con suốt có hai đầu hình cô-nic, và khung cửi đeo lưng, tìm thấy ở Phùng Nguyên và ở Đàm Thạch Sơn (Tanshishan 曇石山) ở Phúc Kiến, giống liên hệ của thuyết Madrolle, nhưng không giống thuyết Madrolle là cách trước đó hằng nghìn năm. 

Tóm tắt, nếu nói đến nguồn gốc dân tộc Việt Nam, thì phải để ý đến nguồn gốc nào là nguồn gốc định đoạt cho cá tính của người Việt, hay tổ chức nhà nước, từ đó về sau. Và như thế, bắt buộc phải hiểu một cách thực tế, nguồn gốc dân tộc trên căn bản phải xem như nguồn của di dân từ bên ngoài đến và hội nhập với người Việt cổ ở bản địa. Tức đặt ra ngay giới hạn của ý nghĩa của cụm từ ‘nguồn gốc dân tộc’. (Nguồn gốc kiểu nầy rất ít khi thấy đề cập đến trong sử sách.) Ở phương diện nầy, những phân tích trình bày ở trên cho thấy có rất nhiều Việt tộc di dân từ phía Bắc xuống Nam. Có thể kể ra : (i) Nhóm U Việt bao gồm dân nước Ngô và Việt (Câu Tiễn), thường hiểu như nhóm Đông Âu hay Âu Việt; (ii) Nhóm Mân Việt, tức Phúc Kiến/ Triều Châu ngày nay. Nhóm nầy đến nước Việt xưa nhiều nhất có lẽ vào thời nhà Trần (1225-1400); (iii) Nhóm Tây Âu và Nam Việt, từ thời Triệu Đà sát nhập hai khu vực Lưỡng Quảng và Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương. Nhóm người ‘Nam Việt’, Mân Việt và Âu Việt (ở những khu ven biển) có thể di dân rất nhiều sang các nước Đông Nam Á về sau nầy, vào thế kỉ 19, xem Ghi Chú 10; (iv) Nhóm Bộc Việt và Lạc Việt ở khu vực nước Sở thời Chiến Quốc. Để ý 2 nhóm nầy có gốc nguyên thủy là ở hai con sông (Bộc và Lạc) nằm ở phía Bắc sông Dương Tử, chứ không phải phía Nam như thường biết đến qua tên gọi Bách Việt12; (v) Còn nhiều nhóm khác như nhóm Hạc Việt (越), có gốc cũng ở phía Bắc sông Dương Tử, có thời sống với nhau như một tiểu quốc. Rất có khả năng có liên hệ với khối Đông Di hay người dời cư nay đây mai đó, như người Hẹ, tức Khách Gia.

Nếu theo dõi những chương trình video lịch sử trên YouTube, sẽ thấy, thông thường, theo các nhà viết truyện, những khối người di dân từ phía Nam sông Dương Tử thường được gọi là Austronesian (Nam Đảo) hay Austroasiatic (Nam Á). Hai thuật ngữ nầy lập tức kéo theo hai nhóm ngôn ngữ là nhóm ngữ Austronesian và nhóm ngữ Austroasiatic, với Việt ngữ nằm trong nhóm Nam Á (Austroasiatic). Theo thiển ý, vào những thời di dân từ phía Bắc, không ai biết được tiếng nói của mấy người di dân nầy ra sao, nhưng có vẻ như chắc chắn là thời đó không có tiếng nào giống tiếng Việt ngày nay, với ý nghĩa chia sẻ một số lớn những từ vựng. Và, tình trạng ngôn ngữ của nhiều nơi ở Á Châu cho đến thế kỉ 20, biểu thị bằng rất nhiều phương ngữ, đa phần xử dụng qua tiếng nói, và những phương ngữ thay đổi nhanh chóng qua khoảng cách, cách nhau khoảng 20-30 cây số, cách nhau bằng một con đèo, một ngọn núi hay một con sông. Hoặc cũng rất có khả năng, không có những tiếng giống nhau trên nhiều tiêu chuẩn để có thể tạo lập thành nhóm ngôn ngữ, như khoa ngôn ngữ thiết lập sau nầy. 

Nếu tập trung các nhóm di dân từ phía Bắc vào nhóm U Việt (Câu Tiễn), sẽ có nhiều vấn đề theo phân tích thuần lô gich. Thứ nhất, có vẻ như thuyết Aurousseau nầy, theo những người cổ súy, cho đó là đợt di dân ‘chủ lực’ tạo ra nước Việt cổ và đầu tiên. Như vậy kho tàng cổ tích và truyền thuyết ở nước Việt xưa phải có nhiều chuyện kể chung quanh việc phục quốc của Câu Tiễn và mỹ nhân Tây Thi, giống y như ở Trung Hoa xưa và nay. Tuy vậy, nhớ là có khả năng truyền tích Tây Thi xảy ra về sau, sau khi những người Việt di tản đã rời bỏ xứ Tây Âu đi về định cư ở phương Nam. Thứ hai, theo đường hướng của luận thuật, chuyện di dân theo các thuyết thời xưa thường tập trung vào ý niệm của phong kiến, tức chuyện thành lập quốc gia đồng nghĩa với chuyện thành lập nhà nước, và nhà nước là do ông hoàng bà chúa từ nơi khác đến, hoặc do vua ở nơi khác phong cho công thần quốc thích đến đó để thiết lập. Mô hình phong kiến khác với mô hình đề cập ở đây là do thường dân chạy giặc và chạy loạn hay chạy trốn thiên tai, đi tìm đất sống ở nơi khác, giống như mô hình di dân toàn cầu xưa và nay. Theo mô hình nầy, chuyện đem sang xứ mới nhập cư kho tàng cổ tích ở chốn cũ, có thể không có và cũng có thể . Trong dạng có, chuyện cổ tích có thể biến dạng rất nhiều hay chỉ giữ lại một vài nét chính rất đơn sơ, nhưng khó xác định. Tuy nhiên, cũng có nhiều thứ chuyện cổ tích giống nhau giữa 2 nơi cách xa nhau hằng nghìn cây số, như chuyện Bà Cua On với con cá vàng, của người Mường và xứ Putri Sadong ở Mã Lai (Jeanne Cuisinier12). Nhưng đặc biệt, chuyện giống nhau của cổ tích xa nhau hằng nghìn dặm, có vẻ như có trước thời thành lập quốc gia rất lâu. 

Sydney, ngày Boxing Day 2024.

N.N.

GHI CHÚ 2024:

 1. Trần Hữu Lượng (陳友諒 – Chen Youliang) theo tin liệu từ Copilot, quê quán ở Hồ Bắc, sinh ra đời với họ Tạ, và như thế, rất có khả năng không có liên hệ với tộc nhà Trần ở nước Việt xưa. Trần Hữu Lượng thuộc nhóm phía nam của Hồng Cân Khởi Nghĩa (Red Turban Rebellion, 1351-1368) chống lại cai trị của nhà Nguyên (Mông Cổ). Trần Hữu Lượng tử trận trong một trận giao chiến với quân của Chu Nguyên Chương, tức Minh Thái Tổ hay Hồng Vũ Hoàng Đế (1368-1398). (Chu Nguyên Chương ban đầu thuộc nhóm Hồng Cân phía bắc).  

2. Cần ghi nhận là họ Phạm người Chăm, ghi trong nhiều sách vở là tên phiên âm lại từ họ Fan (範) tiếng Trung. Tên gọi tiếng Chăm ứng với Fan 範, rất phức tạp và thường là Pô, như Fan Wen có thể tương đương với tiếng Chăm Po Vidya (xem ChatGPT).   

3. Trong chuyện Việt Vương Câu Tiễn, 3 nhân vật chính (Ngô) Phù Sai, Phạm Lãi, và Câu Tiễn được xác nhận là nhân vật lịch sử và có thật. Chỉ có người đẹp Tây Thi, một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa (Tây Thi, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi, Vương Chiêu Quân), có khả năng là nhân vật huyền thoại (xem Wikipedia hay ChatGPT).   

4. Những trang mạng (năm 2024) gồm nhiều truyện của Kim Dung có thể kể:

https://vietmessenger.com/books/?author=kim%20dung  

https://dtruyen.net/tag/truyen-kim-dung/  

https://truyenkiemhiep.org/M%E1%BB%A5c_l%E1%BB%A5c_truy%E1%BB%87n_ki%E1%BA%BFm_hi%E1%BB%87p

5. Từ Việt viết bằng bộ tẩu (越) để chỉ Việt Nam, theo Bình Nguyên Lộc trong quyển “Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam” (1971) Nxb Bách Lộc, xuất hiện vào đời nhà Hán. Từ Việt viết theo bộ Mễ (粤) chứa hình ‘Hạt Gạo’ để chỉ dân Nam Việt và Tây Âu xuất hiện trước đó vài trăm năm do chính Khổng Tử viết ra trong bộ Xuân Thu. ‘Việt’ theo bộ Mễ (Hột gạo) dùng để chỉ riêng tỉnh Quảng Ðông chỉ xảy ra dần dà về sau thôi. Đặc biệt, để ý chữ Nam Việt chỉ đế quốc Nam Việt (南越) do Triệu Đà thiết lập, có chữ Việt viết bằng bộ tẩu (越), như chữ Việt trong Việt Nam (越南).  

6. Tiếng Chàm aia Lao= nước Lào; aia Laow= nước China. Câu hỏi theo đó là Laow nghĩa ban đầu là gì? Có lẻ chỉ có thể tìm ra trả lời cho câu hỏi nầy vào thế kỉ 21. Theo tự điển tiếng Chàm của G. Moussay, âm [Laǒw] có nghĩa hàng vải satin, và tra tìm từ internet cho biết hàng satin đầu tiên được sản xuất ở Tuyền Châu (Quanzhou 泉州) thuộc Phúc Kiến, vào khoảng thế kỉ 12, với tên quen biết thời đó của Quanzhou là Thứ Đồng (Zaiton 刺桐). Tên Satin là biến thể của tên thành phố Zaiton 刺桐 [cia tong] [tshiah tang] (theo phát âm Phúc Kiến), và có lẻ tên nước Trung, aia Laow, theo tiếng Chàm, được quen thuộc bằng kiểu nói thời xa xưa là nước sản xuất ra hàng laow tức hàng satin.   

7. Chữ 于 [yu], đọc là U như trong U Việt, là theo âm Nam Kinh. Chữ 于 [yu] nầy có thể có âm Việt là [vu] như tên tiểu quốc Tây Vu, nằm ở khu Bắc Ninh, Sơn Tây, Phúc Yên, vào thời Nam Việt (Triệu Đà). Âm [vu] (于) là âm tiếng Ôn Châu, Quảng Đông cho cùng chữ 于 [yu], mang âm [U] trong U Việt (于越).    

8. Nước Sở cũng chứa nhiều tộc Việt, có tên gọi là Bộc Lão (浦獠) hay Bộc Việt (浦越), xem: Bửu Cầm (1973) Tương quan giữa những hình chạm trên trống đồng Việt tộc và bài “Đồng Quân” trong Sở Từ. Tập san Sử Địa, 1973, Tr. 49- 80: https://luocsutocviet.com/2017/04/27/018-trong-dong-viet-toc-va-bai-ca-dong-quan/.  

9. Có nhiều dữ liệu cho thấy Người Ngô, nước Ngô và giặc Ngô, với chữ Ngô thay thế cho Trung Hoa: (i) Nhiều câu ngạn ngữ dùng Ngô thay cho ‘Hoa’, như ‘Răng trắng như răng Ngô’, hàm ý: người Hoa không có nhuộm răng như Việt tộc. Hoặc : ‘Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng’. Hay, như trong ‘Cao Đẳng Quốc Dân Di Cảo’ của Sào Nam Phan Bội Châu: ‘Tháp cổ (đã?) có Ngô xây // Việc gì vợ góa lo ngày lo đêm’. Hoặc: Gánh vàng đi đổ sông Ngô // Đêm đêm tơ tưởng đi mò sông Thương. (ii) Những quyển sách như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, hay Sử Ký Đại Nam Việt xuất bản vào đầu thế kỷ 20 vẫn thường dùng ‘nước Ngô’, hay ‘giặc Ngô’ để chỉ nước Trung Hoa. Bộ ‘Sử Trung Quốc’ của Nguyễn Hiến Lê, cũng như quyển ‘Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam’ của Bình Nguyên Lộc, đều có ghi người Việt xưa thường dùng ‘nước Ngô’ để chỉ nước Tàu. Và tên gọi ‘Tàu’, ‘người Tàu’, ‘nước Tàu’, chính thức đi vào sách vở, có lẽ từ dạo có ‘Việt Nam Sử Lược’ của Trần Trọng Kim.   

10. Tàu & Ba Tàu: Nhiều tự điển trực tuyến Anh-Trung hay Trung-Anh, cho biết từ dùng để chỉ người tỵ nạn từ Bắc Triều Tiên là 逃北者 [đào Bắc giả/ tao bei zhe] và chữ đào (逃 [tao]) thường là từ 2 âm đào thoát (逃脫), tức trốn chạy, chạy thoát. Và chữ đào (逃) giống âm Phúc Kiến [dou] bắt đầu bằng chữ [d] nhưng lại đọc là [tau] (tầu) theo âm Nam Quảng Đông (Weitou), hoặc âm Hakka (Hẹ). Như vậy, rất có khả năng, Ba Tàu chính là ngữ âm nói (nôm na) của từ Hán Việt ba đào (波濤), nghĩa là đào thoát, trốn chạy. Chữ ‘Tàu’ có vẻ là một chữ mới có từ khoảng thế kỉ 19, dùng để chỉ dân dời cư chạy trốn nhà Thanh (Mãn Châu). Thường dân dời cư ở thế kỉ 19, không phải chỉ đến Việt Nam, mà còn ào ạt chạy đến nhiều nước Đông Nam Á như Phi-líp-Pin, In-đô-nê-xia, Thái Lan, Mã Lai, v.v., để chạy trốn hai tai ương lớn. Thứ nhất là Chiến Tranh Nha Phiến (1839-1860) và thứ hai là giặc Thái Bình Thiên Quốc (1850-1864). Thử kiểm chứng khẳng ngôn Ba Tàu= Ba Đào= 波濤= [bo tau] (Hakka), bằng lối ăn khớp, như kiểu tìm ra dù / ô chính là hai phát âm khác nhau, ở hai nơi khác nhau, của (雨 [yu] – mưa) trong vũ tản (雨傘 [yu san]: đồ che mưa). Truy tầm từ nguyên dựa vào ngữ nghĩa ăn khớp có thể kiểm chứng chữ Tàu đào trong đào nạn, đào thoát, bằng cách so với chữ Chệt trong chú chệt. Trong tiếng Hán, có hai chữ 軼 [yì] và 逸 [yì], cùng mang nghĩa bôn đào, chạy trốn, mang phát âm Hán Việt [dật] và [điệt] rất giống âm Quảng Đông [jat] và [dit], Một âm chữ Hán nữa là [triệt], gần giống âm Ngô Việt (Giang Tô, Thượng Hải) là [yeh] hay [yiq]. Âm [triệt] chính là [chệt] với nghĩa giống y như [tàu]/[đào] với nghĩa là bôn đào, ba đào, đào nạn, chạy giặc, chạy thoát. Để ý, chữ Tàu trong Chú Ba (Tàu), người Tàu, truyện Tàu, đồ Tàu, cơm Tàu, nhất là cơm Tàu, hoàn toàn có ý thân thiện hay ‘trung lập’, khác với giả thuyết cho rằng Ba Tàu = Bá Đạo, hay ‘Tàu’ mang hàm ý của giặc Tàu Ô (艚烏), tức Tàu Đen, trong đó Tàu (艚) mang âm và nghĩa như tàu bè tiếng Việt.   

11. Tiếng Thái, tiếng Mường và tiếng Quảng Đông không có âm [s] (đọc giống [sh] tiếng Anh), mà chỉ có âm [s] có phát âm giống như phụ âm <s> các tiếng Âu Châu. Thí dụ : tiếng Việt sĩ quan= xĩ quan tiếng Mường; sinh hoạt (V)= xinh wat (M); (V)= (M); so bì (V)= xo pì (M).  

12. Theo Jeanne Cuisinier trong quyển Les Mường – Géographie humaine et sociologie. Institut d’Ethnologie (Paris) (1946), người Mường dùng 3 thứ âm lịch khác nhau tùy theo khu vực ở Việt Nam. Ở phía Tây, dùng lịch với tháng 1 trước tháng Giêng 3 tháng, tức dùng tháng Hợi là tháng 1. Ở khu vực chính giữa Bắc bộ, dùng lịch với tháng 1 trước tháng Giêng (tức tháng Dần) 2 tháng, tức dùng tháng Tí là tháng thứ 1. Còn ở phía Đông, dùng tháng 1 là tháng trước tháng Giêng 1 tháng. Phía Tây dùng tháng Hợi là tháng thứ 1 cho lịch, thì đó là lịch nhà Tần (221-206 TCN). Khu vực ở giữa dùng tháng Tí là tháng 1, tức dùng lịch nhà Châu (1045-256 TCN), trước nhà Tần. Còn phía Đông dùng lịch nhà Thương (1556-1046 TCN), trước cả nhà Châu và nhà Tần, bởi lịch có tháng 1 trùng với tháng sửu, một tháng trước tháng Dần. Ăn khớp với 3 đợt di dân. Đợt 1, đợt xưa nhất, mang ảnh hưởng văn hóa nhà Thương, tiến sâu đến miền Đông, có lịch dùng tháng Sửu (tháng 12 âm lịch ngày nay) làm tháng 1. Đợt 2, mang ảnh hưởng của lịch nhà Châu (sau nhà Thương), định cư ở giữa, với lịch dùng tháng Tí là tháng 1. Tháng Tí chính là tháng 11 theo âm lịch hiện nay. Và Đợt 3, di tản đến phía Tây Bắc bộ rồi định cư ở đó, vào đời nhà Tần (sau nhà Châu), dùng tháng tháng Hợi như tháng 1 cho âm lịch. Cả 3 đợt đều dùng đường bộ, rất có thể thuộc tộc Bộc Việt, xuyên qua khu vực Quảng Tây / Vân Nam ngày nay, chứ không bằng đường biển. Cũng có lẽ âm lịch người Mường dùng tháng Chiêng / Giêng là tháng 1, là lịch của những cộng đồng tiếp cận với người Kinh, dùng lịch nhà Hạ / Tây Hán, với tháng Dần, tức tháng Giêng, là tháng 1 của âm lịch.

THAM KHẢO

1. Keith Weller Taylor (1991) The Birth of Vietnam. University of California Press. 397pp. 

2. Aurousseau, Léonard (1923). La première conquête chinoise des pays annamites (IIIe siècle avant notre ère). In: Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient. Tome 23, 1923. pp. 136-264;  

3. Madrolle Claudius. I. Le Tonkin ancien. Lei-leou et les districts chinois de l’époque des Han. La population. Yue-chang. In: Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient. Tome 37, 1937. pp. 263-332;  

4. Maspero, H. (1924) Bulletin Critique. T’oung Pao. Pp 373-393.  

5. Phạm Văn Sơn (1983) Việt Sử Toàn Thư. Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật Bản/Nhật Bản-Nam Nghệ Xã. 520pp  

6. Judith Cameron (2012) Léonard Aurousseau’s Hypothesis Revisited: The Intersection between History and Archeology. IN: Crossing Borders – Selected papers from the 13th International Conference of The European Association of Southeast Asian Archeologists, Vol. I (Ed. Mai Lin Tjoa-Bonatz, Andreas Reinecke & Dominik Bonatz), pp 221-229