Bản thân tôi gốc là một nhà giáo, Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp, tốt nghiệp Khóa 3 (1960-1963), Ban Sử Địa, Trường Đai Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG) vào tháng 3-1963.  Tuy nhiên, lúc nghỉ hưu vào tháng 7 năm 2006, tôi lại là một Quản Thủ Thư Viện, với danh hiệu Librarian Emeritus, của Trường Đại Học Saskatchewan, Canada.  Tôi đã có hai trải nghiệm bản thân về “Thân Bất Do Kỷ” một cái may mắn, và một cái không được may mắn..  Bài viết này cố gắng ghi lại hai trải nghiệm đó.

Thân Bất Do Kỷ

Thân Bất Do Kỷ là nói tắt của một câu chữ Hán gồm 8 chữ, rất quen thuộc trong văn học Trung Quốc, và thường được sử dụng bởi Cổ Long (1938-1985), một nhà văn của Đài Loan chuyên viết các truyện kiếm hiệp:

            Nhân       Tại      Giang      Hồ,     Thân      Bất      Do      Kỷ

Nhân Tại Giang Hồ, Thân Bất Do Kỷ – Thủ Bút của Cổ Long

Câu nói có nghĩa như sau: Người Trong Giang Hồ, Thường Làm Những Việc Không Theo Ý Mình.  Câu nói này hoàn toàn không có đánh giá, khen chê hay dở, tốt xấu công việc mình làm.  Nó chỉ muốn nói là mình không làm chủ được việc mình làm, mà là do hoàn cảnh, hay, nói đúng hơn, số mạng, định mạng của mình làm chủ.

Trải Nghiệm Thứ Nhứt: Không Định Làm Nhưng Vẫn Phải Làm

Chuyện xảy ra vào năm 1970.  Sau khi tốt nghiệp ĐHSPSG vào năm 1963, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre) để dạy môn Sử Địa cho các lớp Đệ Nhị Cấp của Trường (Đệ Tam bây giờ là Lớp 10, Đệ Nhị bây giờ là lớp 11, và Đệ Nhứt bây giờ là lớp 12).   Sau 3 năm, Mùa Thu năm 1966, tôi được thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (TKMTĐ), ngôi trường tân tiến nhứt của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại thời điểm đó, với một Thư Viện to lớn, trang bị đầy đủ sách báo và các dụng cụ thính thị, và với một vị Quản Thủ Thư Viện là Giáo Sư Nguyễn Ứng Long, đã tốt nghiệp Ban Anh Văn, Khóa 1, ĐHSPSG, và có bằng Cao Học về Thư viện Học (Master of Library Science = MLS) từ Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học Peabody, tiểu bang Tennessee, Hoa Kỳ.(School of Library Science, Peabody University, Tennessee, USA).   Sau khi về TKMTD, tôi rất thường sử dụng thư viện của Trường, cũng như hướng dẫn và khuyến khích học sinh sử dụng thư viện trong khi sọạn thảo các bài thuyết trình trong lớp, và, vì vậy, Giáo Sư Long và tôi trở thành hai người bạn thân.  Anh Long là dân chương trình Pháp nên thường nói chuyện “toi, moi” với tôi

Chuyện ”Thân Bất Do Kỷ” hoàn toàn bất ngờ, không có định trước  đã xảy ra tại Thư Viện của TKMTĐ, vào một buổi sáng của niên khóa 1970-1971.  Hôm đó, trong giờ ra chơi, tôi đến Thư Viện để chúc mừng Anh Long vì hôm trước cả trường đã biết tin Anh vừa được Chính phủ VNCH cử làm Giám Đốc Nha Văn Khố và Thư Viện Quốc Gia, phụ trách cả 2 ngành Văn Khố và Thư Viện cho cả nước, một chức vụ rất xứng đáng với học vị của Anh Long.  Sau khi chúc mừng Anh và ngồi chuyện thêm vài phút thì đột nhiên Anh Long nói là Anh muốn tôi thay anh trông coi thư viện cho trường để, như Anh nói nguyên văn như sau: “có toi vào thay thì moi mới thật sư an tâm đi nhận nhiệm vụ mới này.”

Cho đến ngày hôm nay, năm 2025 này, thú thật tôi vẫn không biết tại sao tôi nhận lời Anh Long ngay, không một chút do dự, đắn đo, mặc dù lúc đó tôi hoàn toàn không có một chút kinh nghiệm nào cả về công tác thư viện, và cũng hoàn toàn không có ý định chuyển công tác tứ giảng dạy sang làm thư viện.  Trước khi rời TKMTĐ, Anh Long đã tặng tôi cuốn sách Phương Pháp Tổng Kê và Phân Loại Sách của Giáo Sư Richard K. Gardner, Cố Vấn về Thư Viện của Đại Học Michigan, Hoa Kỳ soạn thảo, đã được Bà Nguyễn Thị Cút, Quản Thủ Thư Viện, Thư Viện Abrahm Lincoln, Sài Gòn, dịch sang tiếng Việt, và được Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (Asia Foundation) xuất bản lần thứ nhì vào năm 1966.

Trang Nhan Đề của cuốn Phương Pháp Tổng Kê và Phân Loại Sách

Tôi đã đọc kỹ cuốn sách này và đã bắt đầu nắm được một vài điều căn bản của công tác thư viện.  Vài tuần lễ sau, tôi được Giáo Sư Hiệu Trưởng Phạm Văn Quảng (tốt nghiệp Khóa 1 (1959-1961), Ban Anh Văn, Trường ĐHSPSG, và bằng Cao Học về Giáo Dục –Master of Education—từ Đai Học Ohio, Hoa Kỳ, năm 1965) cử tôi đi dự một Khóa Huấn Luyên Căn Bản Thư Viện Học trong 3 tuần lễ tại Sài Gòn do Đơn Vị Phát Triển Thư Viện của Cơ Quan USAID tổ chức (Library Development Authority = LDA, USAID).  Sau khóa huấn luyện, trở về TKMTĐ, tôi cảm thấy tự tin hơn và bắt đầu thực hiện nhiều công tác hơn nhằm lôi cuốn học sinh đến sử dụng thư viện, kết thúc với một cuộc Thi Vẻ Tranh Tết với sự tham gia đông đảo của học sinh và chấm dứt bằng một buổi lễ Phát Giải Thưởng đặt dưới sự đồng chủ tọa của Giáo Sư Hiệu Trưởng và Ông John Lee Hafenrichter, Cố Vấn về Thư Viện của USAID, người đứng đầu LDA.  Sau Lễ Phát Giải Thưởng vài tuần, một hôm Ông Hafenrichter lên thăm TKMTĐ.  Sau khi làm việc với Giáo Sư Hiệu Trưởng một lúc thì ông sang Thư Viện gặp tôi và báo cho tôi biết là Ông đã đề nghị và đã được Cơ Quan USAID đồng ý cấp cho tôi một học bổng đi du học tại Hoa Kỳ trong hai năm (1971-1973) để lấy bằng Master of Library Science (MLS).  Thật là một tin vui và hoàn toàn bất ngờ [1]

Để chuẩn bị cho chuyến đi du hoc Hoa kỳ đó, với sự chấp thuận của Giáo Sư Hiệu Trưởng, Ông Hafenrichter đã cử tôi đi học một lớp tu nghiệp về Anh Văn tại Cơ Quan Satff Development Center (SDC) của USAID.  Về khả năng Anh Văn, trình độ của tôi đã khá lắm rồi.  Nhờ Ơn Trên ban cho, tôi học tiếng Anh rất dễ dàng và có kết quả thật tốt.  Tôi luôn luôn đứng đầu lớp về môn Anh Văn trong suốt thời gian học Trung Học   Khi SDC trắc nghiệm khả năng Anh Văn của tôi để xếp lớp với bài Test ALIGU (American Language Institute of Georgetown University), tôi đã đạt một thành tích hiếm có là đã trả lời đúng tất cả 100 câu hỏi của bài Test.  Vào cuối khóa học ở SDC, tôi lại đạt một thành tích hiếm có lần thứ nhì, với điểm số trên 600, trong lúc tuyệt đại đa số học viên đều đã đậu với điểm số 500-550.[2]  Tất cả những chuyện này đều do chính Ông Hafenrichter báo cho tôi biết, và ông cũng nói thêm là chính vì điểm TOEFL trên 600 (tôi không nhớ rõ là 612 hay 620) nên tôi mới được Viện Đại Học Syracuse (lúc đó là 1 trong 10 Top Ten Universities of the US) nhận cho vào học Chương Trình Cao Học (Graduate Studies) của Viện.

Mặc dù điểm thi TOEFL của tôi đã rất cao, tôi vẫn ghi danh học thêm 1 giáo trình Anh ngữ về Đàm Thoại tại trường Syracuse, và sau 2 năm học, tôi đã đậu bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) với điểm số rất cao, như sau:

● 10 Giáo trình đạt điểm A

● 3 Giáo trình đạt điểm B

như trong Bảng Điểm toàn chương trình do Phòng Học Vụ (Registrar) của Viện Đại Học Syracuse cung cấp bên dưới đậy:

            Sau khi về nước vào cuối tháng 5-1973, tôi đã tích cực tham gia đóng góp vào công tác giảng dạy về ngành thư viện học của VNCH như sau:

● Tôi đã phụ trách giảng dạy 2 khóa huấn luyện căn bản thư viện học: 1) một khóa tại Trường Trung Học Gia Long ở Sài Gòn; và 2) một khóa tại Trường Trung Học Tống Phước Hiệp ỡ Vĩnh Long

● Tôi cũng đã phụ trách một khóa huấn luyện trung cấp về thư viện học, kéo dài 2 học kỳ, tại Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn.  Học viên gồm các vị quản thủ thư viện của các trường trung học trên toàn quốc, đã tốt ngiệp các Trường Đai Học Sư Pham Sài Gòn, Huế và Cần Thơ (vì thế các học viên đều là những Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Câp; đặc biệt trong số hơn 30 học viên đó có 2 người đã từng là đồng môn (1960-1963) của tôi trong Ban Sử Địa, Trường Đai Học Sư Pham Sài Gòn, là Chị Đặng Thị Thảo và anh Cao Đình Vưu), và đã qua một khóa huấn luyện căn bản về thư viện học.

Trải Nghiệm Thứ Hai: Định Làm Nhưng Làm Không Được

Đầu năm 1974, với sự khuyến khích của Anh Nguyễn Ứng Long, tôi đã ra ứng cử và đã đắc cử chức vụ Chủ Tịch Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN), với một Ban Chấp Hành như sau:

Trong Lá Thư Chủ Tịch của Bản Tin đầu tiên của HTVVN, tôi đã phác họa một đường lối hoạt động tích cực để giúp phát triển Hội như sau:

Hình 2.4. Lá Thư Chủ Tịch, Bản Tin (HTVVN) Số 1 (Tháng 3-1974)

Dựa trên đường lối đã phác họa như trên, Ban Chấp Hành đã thảo luận và đồng thuận một chương trình hoạt động cho nhiệm kỳ 1974 gồm các dự án như sau:

● Xuất bản TVTS (Thư Viện Tập San)như một quý san, ba tháng ra một số, một năm đủ 4 số; đồng thời cũng xuất bản tờ BT (Bản Tin), mỗi tháng ra một số, giữa các số của TVTS

● Tổ chức 2 Khóa Huấn Luyện Căn Bản Thư Viện Học dành cho hội viên

● Tổ chức một Đại Hội Hè để thảo luận một số vấn đề chuyên môn và nội bộ của Hội

● Chấn chỉnh và kiện toàn tình trạng hội viên của Hội

● Ấn hành một số tài liệu chuyên môn[3]

Sau đó, tôi đã đích thân đi gặp Ông Julio Andrews, Chủ Tịch Hội Văn Hóa Á Châu để xin tài trợ.  Hội đã đồng ý và tài trợ toàn bộ các dự án liệt kê trong chương trình hành động này.  Nhờ vậy, HTVVN đã thành công rực rỡ và gây được uy tín rất lớn trong cộng đồng các hội đoàn văn hóa trên toàn quốc.  Kết quả đưa đến việc tôi được đắc cử rất vẻ vang (tôi được xếp hang 1 trong cuộc bầu cử này với số phiêu là 13/15) vào Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐVHGD) do chính Phó Tổng Thống Trần Văn Hương làm Chủ Tịch như Điều 66 của Hiến Pháp VNCH năm 1967 đã quy định:

ĐIỀU 66

1. Phó Tổng Thống là Chủ tịch Hội đồng Văn hóa Giáo dục, Hội đồng Kinh tế xã hội và Hội đồng các Sắc tộc Thiểu số. [4]

Một kết quả lớn bất ngờ khác là Đại Học Vạn Hạnh quyết định thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH) đầu tiên cho VNCH, thuộc Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn dưới sự lãnh đạo của Giáo Sư Khoa Trưởng Nguyễn Đăng Thục, và bản thân tôi được cử nhiệm làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên.

Học kỳ đầu tiên của BTVH đã khai giảng vào đầu năm học 1974-1975 với 70 sinh viên.  BTVH này chỉ mới giảng dạy được hai học kỳ với thành phần ban giảng huấn và các khóa trình như sau:

Học Kỳ 1:

● Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I

● Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện

● Ông Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu

● Ông Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện

Học Kỳ 2:

● Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II

● Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn

● Ông Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát

● Ông Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I

Học Kỳ 2 khởi sự vào khoảng tháng 3-1975 đã không bao giờ được kết thúc vì biến cố bi thảm 30-4-1975 chấm dứt sự hiện hữu của VNCH.  BTVH của ĐHVH đã bị chết non, chưa đào tạo được một vị Cử Nhân Thư Viện Học nào cho VNCH.[5] 

Thay Lời Kết:

Qua hai trải nghiệm Thân Bất Do Kỷ như vừa trình bày bân trên, tôi đã nhận rõ cái chân lý đó trong cuộc sống.  Có thành, có bại, nhưng quan trọng nhứt vẫn là sự cố gắng làm việc tối đa của bản thân mình.  Tôi đã rất tự hào đã thực hiện đúng lời dạy của Ông Bà mình từ ngàn năm qua là Tận Nhân Lực, Tri Thiên Mạng.

GHI CHÚ:

1. Lâm Vĩnh-Thế.   Một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://petruskyaus.net/mot-nga-re-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-the/

2. Lâm Vĩnh-Thế.   Duyên lành của tôi với tiếng Anh, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/duyen-lanh-cua-toi-voi-tieng-anh-lam-vinh-the-2/

3. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt.  California, Hoa Kỳ: Nhân Ảnh, 2021.  Chương Hai, tr. 51-52.

4. Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 – Wikisource tiếng Việt

5. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt, sđd, tr/.42.