Người xưa đã từng sử dụng khá nhiều hình tượng để diễn tả ý niệm thời gian qua mau: như “bóng câu qua cửa sổ,như “một giấc Nam Kha,như “công danh chưa chín một nồi kê,” vv và vv.  Khi còn trẻ, phần lớn chúng ta đều có nghe những câu này, nhưng thật sự tâm đắc thì chắc nhiều phần là không có.  Bây giờ thì chắc hẳn phần lớn chúng ta đều đã tâm đắc.  Vì trên thực tế, những chú bé 12-13 tuổi của Lớp Đệ Thất F (niên khóa 1953-1954) của Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn, ngày nay, ở năm 2025 này, nếu còn tại thế, đều đã là những lão niên ở tuổi “bát tuần” hết cả rồi.  Và, cũng giống như các thế hệ đàn anh trước đây, bây giờ chúng ta lúc nào cũng nhìn về quá khứ, và trân trọng những kỷ niệmmà chúng ta đã từng chia xẻ một cách rất hạnh phúc với bạn bè đồng lớp, đồng môn.  Bài viết này cố gắng ghi lại những gì mà, ở tuổi 84 này, tôi còn nhớ được về “những ngày xưa thân ái” nay đã trở thành một thứ hành trang kỷ niệm quý báu, không bao giờ có thể quên được nữa, mà tôi sẽ mang theo trong suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời. 

Thời Học Sinh Petrus Ký: Nhóm 9 Bạn Thân Lớp Đệ Tứ F

            Trong suốt 4 năm học ở bậc Đệ Nhứt Cấp (1953-1957), tôi và 8 người bạn chơi rất thân với nhau trong một nhóm 9 người gồm: 1) Nguyễn Thanh Hải,[1] 2) Nguyễn Trung Hiếu, 3) Đinh Xuân Lãm,[2] 4) Võ Văn Minh, 5) Trần Phục,[3] 6) Phan Văn Quang, 7) Dương Xã Tắt, 8) Huỳnh Hữu Thế (Thế Huỳnh),[4] và 9) tôi, Lâm Vĩnh-Thế (Thế Lâm). Dưới đây là ảnh của các bạn với số thứ tự trong Danh Sách Học Sinh Lớp Đệ Tứ F Niên Khóa 1956-1957, chỉ có bạn Hiếu không rõ tại sao lại không có tên trong Danh Sách:

Danh Sách Học Sinh Lớp Đệ Tứ F Petrus Ký Niên Khóa 1956-1957

            Đến niên khóa 1956-1957, ở Lớp Đệ Tứ F, thì nhóm 9 người chúng tôi đã thật sự trở nên rất thân tình, đi chơi chung ở đâu cũng có nhau, và khi cần tập hợp lại để cùng nhau ôn bài vở, làm các bài tập toán thì luôn luôn là họp nhau ở nhà Võ Văn Minh, và trong những dịp như vậy thì Bác Gái, má của Minh (về sau, từ năm 1963, trở thành nhạc mẫu của tôi vì tôi đã cưới Võ Thị Nhơn Nghĩa là em gái duy nhứt của Võ Văn Minh) luôn luôn cho cả đám tụi tôi ăn trưa, thường là món cà ri vịt ăn với bánh mì, và, lần nào cũng như lần nấy, tụi tôi đều ăn ào ào, Bác Gái cũng phải tiếp tế mấy lần mới đủ cho tụi tôi ăn, và vì vậy, sau này, Minh thường gọi món ăn đó là “một món ba thau.”

            Trong thời gian này, về những lần đi chơi chung với nhau, đến ngày hôm nay, năm 2025 này, tôi vẫn còn nhớ rất rõ những lần đi vô Phú Lâm mướn xuồng đi hái bần:

“Thời gian này vùng Phú Lâm, tuy đã nổi tiếng với những vườn rau xanh của người Tiều, tương đối vẫn còn có những khu đất hoang với nhiều sông rạch.  Mỗi lần đi chèo xuồng trong Phú Lâm đều là một ngày Chúa Nhựt.  Sáng sớm tụi tôi tụ tập ở nhà anh Minh.  Chuyện đầu tiên là góp tiền lại chung với nhau, mỗi đứa độ 30 hay 40 đồng, nếu có đứa nào không có đủ số tiền góp đó thì Tắt luôn luôn ứng ra thêm cho anh em.  Tắt làm chuyện này một cách thoải mái, tự nhiên, không bao giờ nề hà gì cả vì bản tánh rộng rãi.  Tắt lớn tuổi nhứt trong bọn tôi, lại có tiền nhiều vì là con nhà giàu, ba của Tắt là điền chủ lớn ở Bến Lức.  Sau khi gom tiền xong, mọi người giao cho Anh Minh cất.  Việc đầu tiên là Minh cùng với tôi chạy xe đạp ra Chợ Đa Kao mua 4, 5 ổ bánh mì lớn, thịt nguội (ba tê, jambon), và một ít mắm sống và ớt trái.  Má Minh đã làm cho tụi tôi mấy chai nước đã nấu chín.  Sau đó, tất cả bọn tôi đạp xe vào Phú Lâm và ghé nhà Anh Trần Văn Minh, trưởng lớp của tụi tôi, ở khu Bình Tiên, và nhờ Anh Minh hướng dẫn đi mướn xuồng (luôn luôn mướn hai chiếc) của những nhà mà ảnh quen biết.  Có khi, nếu không bận việc, thì Anh Minh cũng đi chơi chung với tụi tôi luôn.  Tất cả tụi tôi đều cởi quần áo đang mặc ra hết, gởi lại nhà cho mướn xuồng, chỉ mặc quần cụt và áo thung, chia thành 2 nhóm nhỏ xuống 2 chiếc xuồng, mang theo các chai nước và thức ăn đã mua ở Chợ Đa Kao, và chèo vào con rạch gần nhất.  Những con rạch trong vùng này rất nhỏ, ít có ghe xuống qua lại nên rất yên tỉnh, hai bên bờ rất nhiều cây bần. Tụi tôi tìm hái những trái bần đã hơi chín, chia nhau ăn với mắm sống.  Ăn đả rồi thì cả bọn xuống sông bơi lội thỏa thích; có khi chia hai phe chọi bùn với nhau.  Đến trưa thì bọn tôi tìm một bãi có cát, cặp xuồng vào, và mang các thức ăn đã mang theo cùng nhau ăn trưa.  Trong lúc ăn trưa thì mặc sức mà kể cho nhau nghe những chuyện vui, toàn chuyện bạn bè trong lớp, trong trường, chuyện các thầy cô và các giám thị.  Sau khi nghỉ trưa một lúc, bọn tôi lại xuống xuồng chèo đi, lại kiếm bần ăn nữa, và lại xuống rạch bơi lội.  Khoảng hơn 4 giờ chiều thì quay trở lại, trả xuồng, mặc quần áo lại và đạp xe về.  Tối hôm đó, khi nằm ngủ, lần nào tôi cũng bị cái cảm giác cái giường lắc qua lắc lại, giống như ở trên xuồng lúc ban ngày.”[5]

            Ngoài mấy lần đi chèo xuồng hái bần ở Phú Lâm đó thì còn một lần đi chơi chung đầy đủ cả nhóm nữa: đó là lần đi Vũng Tàu bằng Du Thuyền Bạch Tuyết.  Lần đi chơi chung này xảy ra vào khoảng đầu năm 1956, lúc bọn tôi đang học Lớp Đệ Ngũ (niên khóa 1955-1956).  Thời gian này là sau khi Đại Tá Dương Văn Minh đã đánh dẹp xong Bình Xuyên (sau đó ông Minh được thăng lên cấp Thiếu Tướng; lúc đó chưa có cấp Chuẩn Tướng), và đường thủy từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, bằng sông Sài Gòn và sông Lòng Tảo, đã được khai thông.   Một người quen thân với gia đình Minh, Cô Hai Bạch Tuyết, chủ nhân của Du Thuyền Bạch Tuyết, đã cùng với gia đình cô đứng ra tổ chức những chuyến du ngoạn thương mại bằng đường thủy từ Sài Gòn ra Vũng Tàu rất thành công.  Bọn 9 đứa chúng tôi đã được tham gia miễn phí một chuyến du ngọan đó vào một ngày Chúa Nhựt.  Buổi chiều Thứ Bảy trước đó, 5 đứa trong bọn tôi gồm Tắt, Lãm, Phục, Thế Huỳnh và Thế Lâm đã tụ họp ở nhà Minh và được Bác Gái, Má Minh cho ăn cơm tối.  Tối đó cả bọn 6 đứa bọn tôi (thêm cả Minh luôn) ngủ chung với nhau ở nhà trên, trên nền nhà gạch bông có trải chiếu, ngay trước bàn thờ Phật của nhà Minh.  Sáng hôm sau, ba tên còn lại, Hải, Hiếu, Quang, và thêm một bạn Lớp Đệ Ngũ F nữa là bạn Dương Văn Triệu (với biệt danh mà bọn tôi đặt cho là Triệu Đà), đến sớm và cả bọn lần này là 10 đứa lại được Bác Gái cho ăn sáng với bánh mì và hột gà ốp-la.  Ngày hôm đó bọn tôi đã có trọn một ngày thật vui vẻ bên nhau.  

Những Thay Đổi Sau Bậc Đệ Nhứt Cấp

            Sau khi đậu Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, bắt đầu học lên bậc đệ nhị cấp, bọn 9 người chúng tôi bắt đầu có những thay đổi không tránh được.   Một số bạn rời Trường Petrus Ký: Võ Văn Minh ra học Lớp Đệ Tam, Ban C, Trường Trung Học tư thục Cửu Long; Trần Phục thi đậu vào Trường Cán Sự Y Tế; Dương Xã Tắc thi đậu vào Trường Quốc Gia Sư Phạm; Nguyễn Trung Hiếu thì tình nguyện vào Trường Võ Bị Thủ Đức.  Nguyễn Thanh Hải, Đinh Xuân Lãm, Phan Văn Quang và tôi ở lại học các lớp Đệ Tam của Trường Petrus Ký.  Hải và tôi học Ban A (Vạn Vật), còn Lãm và Quang thì học Ban B (Toán).  Riêng Huỳnh Hữu Thế thì là một trường hợp hết sức đặc biệt, sẽ đề cập đến trong phần viết về Thế.

            Cuối năm Đệ Nhị (niên khóa 1958-1959), Hải, Lãm, Quang và tôi đều thi đậu Bằng Tú Tài I và tiếp tục học lên lớp đệ nhứt tại Trường Petrus Ký.  Võ Văn Minh thi rớt Tú Tài I và bỏ học luôn, ra đi làm.  Hè năm sau (tháng 6-1960), chỉ có một mình tôi đậu bằng Tú Tài II, và đậu luôn vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa.  Lãm tình nguyện vào Khóa 17, là Khóa Lê Lai (từ 11-11-1960 đến 30-3-1963) của Trường Võ Bị Đà Lạt.  Hải và Quang rời Trường Petrus Ký, và tự học ở nhà.   Hè 1961, Quang đậu Bằng Tú Tài II, sau đó ghi danh học năm thứ nhứt, Chứng Chỉ MPC (Mathématiques – Physique – Chimie = Toán-Lý-Hóa) tại Đại Học Khoa Học Sài Gòn. Qua năm sau, 1962, Quang tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 19, tức Khóa Nguyễn Trãi (từ 23-11-1962 đến 28-10-1964).  Phần Hải thì ghi danh học Lớp Đệ Nhứt dành cho tráng niên do Hội Bình Dân Giáo Dục tổ chức tại Trường Tiểu Học Nữ Đakao.  Hè 1961, Hải cũng thi đậu bằng Tú Tài II, và, qua năm sau, Hải tình nguyện vào Không Quân, Khóa 62C, và được gởi đi Mỹ học lái máy may trực thăng.

Trưởng Thành và Vào Đời

            Sau khi hoàn tất chương trình giáo dục bậc trung học đệ nhị cấp, phần lớn bọn tôi đều đã đậu Bằng Tú Tài II, và đã thật sự trưởng thành.

Dương Xã Tắt (1938-1965)

Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc Gia Sư Phạm, hệ Cấp Tốc (chỉ học 1 năm), Tắt được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Lức, thuộc tỉnh Long An.  Ngày 6-10-1963, tôi lập gia đình với Nhơn Nghĩa, và trở thành em rể của Võ Văn Minh.  Lãm và Thế Huỳnh là 2 trong 4 chàng rể phụ của tôi.  Tắt đã từ Bến Lức lên Sài Gòn để dự tiệc cưới của vợ chồng tôi đêm hôm đó tại Nhà Hàng Đồng khánh trong Chợ Lớn:

Hình Tắt tại tiệc cưới của tác giả: Tắt là người thứ ba từ trái qua (chỉ thấy profile)

            Mấy tháng sau, Tắt bị động viên vào Khóa 17, là Khóa Nguyễn Thái Học (từ 13/1/1964 đến 22/10/1964), khóa cuối cùng của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức (vào lúc giữa Khóa 17 này, ngày 1/7/1964, Trường được đổi tên thành Trường Bộ Binh Thủ Đức).[6]   

            Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy, nhờ sự vận động của gia đình, Tắt được bổ nhiệm về một đơn vị Địa Phương Quân ngay tại Bến Lức.  Bạn bè chúng tôi ai cũng mừng cho Tắt, coi như là Tắt đã được “mang chữ Thọ” rồi.   Thật không ngờ, trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Cộng, Tắt bị thương và tử trận vì không được tải thương kịp.  Lúc đó vợ Tắt đang mang thai được 6 tháng đứa con đầu lòng của vợ chồng Tắt.  Ngày đưa tang Tắt, tôi đã không đến tiễn bạn được vì đang bận coi thi Tú Tài I tại Cần Thơ.  Chỉ có Võ Văn Minh đại diện các bạn Lớp Đệ Tứ F đến tiễn đưa Tắt mà thôi.  

Đinh Xuân Lãm (1940-2011)

Năm 1960, Lãm tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt (VBĐL), Khóa 17, tốt nghiệp năm 1963 với cấp bậc Thiếu Úy, tình nguyện gia nhập binh chủng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC).  Lãm được bổ nhiệm về Tiểu Đoàn 2, với chức vụ Đại Đội Phó, Đại Đội 1 dưới quyền Đại Đội Trưởng của Trung Úy Phạm Nhã.  Tiểu Đoàn Trưởng lúc bấy giờ là Đai Úy Nguyễn Thành Yên (biệt danh là Ông Già Đầu Bạc, về sau là Đại Tá, Tư Lệnh Phó TQLC).     

Trận đánh đầu tiên trong binh nghiệp của Lãm diễn ra tại Đầm Dơi (Cà Mau) vào ngày 10-9-1963, và đó là chiến thắng lớn nhứt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) trong năm 1963.[7]

Sau chiến thắng lớn này, Lãm được nghĩ phép, về Sài Gòn, và nhờ vậy, Lãm đã có thể làm rể phu cho tôi trong đám cưới của tôi và Nhơn Nghĩa:

Hình Đám Cưới Thế – Nghĩa – Lãm đứng bìa bên trái.

Tháng 3-1965, đúng 2 năm sau ngày tốt nghiệp Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, theo đúng quy định của quân đội, Lãm được thăng cấp lên Trung Úy.  Ngày 1-4-1965, Tiểu Đoàn 2, thuộc Chiến Đoàn A TQLC, tham dự trận Phụng Dư (Bình Định, thuộc Vùng II Chiến Thuật) dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Hoàng Tích Thông.  Sau trận này, Tiểu Đoàn 2 TQLC đã được địch gán cho danh hiệu Trâu Điên,[7] nói lên được đặc tính của binh sĩ Tiểu Đoàn 2 TQLC luôn luôn xung phong, chớ không bao giờ lùi bước, trước hỏa lực của địch.

Huy hiệu Trâu Điên của Tiểu Đoàn 2 TQLC

Đầu năm 1966, Tiểu Đoàn 2 TQLC được tăng phái ra Vùng I Chiến Thuật, đặt dưới sự điều động của Sư Đoàn I Bộ Binh dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Tư Lệnh Ngô Quang Trưởng.  Vào thời gian này, Trung Úy Đinh Xuân Lãm đã là Đại Đội Trưởng, Đại Đội 3 của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên, lúc đó dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Hằng Minh.  Ngày 29-6-1966, toàn bộ Tiểu Đoàn 2 TQLC, trên 27 chiếc quân xa GMC, di chuyển từ An Hòa ở phía Bắc Thành phố Huế, theo Quốc Lộ 1 về hướng Bắc đi Đông Hà, thuộc tỉnh Quảng Trị, để tham dự các cuộc hành quân của Sư Đoàn I Bộ Binh.  Khi đoàn xe đến Phò Trạch, còn cách Quảng Trị 25 km, thì rơi vào ở phục kích của địch.  Trung Tá Lê Hằng Minh tử trận.  Trung Úy Đinh Xuân Lãm có công lớn trong vụ phản phục kích, đẩy lui được lực lượng phục kích của địch, đã được thăng cấp đặc cách tại mặt trận lên Đại Úy.  Một thời gian sau, Lãm được cử làm Trưởng Ban 3 (phụ trách về hành quân) của Tiểu Đoàn 2 lúc này đã có Tiểu Đoàn Trưởng mới về thay là Đại Úy (sau đó thăng cấp lên Thiếu Tá) Ngô Văn Định.    

Từ 1966 cho đến ngày 30-4-1975, Lãm, cũng như tất cả các đồng đội TQLC, đã luôn luôn xông pha ngoài mặt trận, dưới lằn tên mũi đạn, từ Mậu Thân 1968 tại Sài Gòn, qua Hành Quân Lam Sơn 719 Hạ Lào 1971, đến Mùa Hè Đỏ Lửa Tái Chiếm Quảng Trị 1972, và sau cùng Tháng Ba Gãy Súng 1975.  Cấp bậc và chức vụ sau cùng của Lãm là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 16 TQLC, thuộc Lữ Đoàn 468 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Ngô Văn Định (sau đó là Trung Tá Nguyễn Đằng Tống).  

Sau ngày 30-4-1975, Lãm phải đi học tập cải tạo ờ Miền Bắc hơn 10 năm.  Năm 1992, Lãm được Chương trình HO (Humanitarian Operation) đưa đi Mỹ và định cư tai San Jose, Nam California.  

Tháng 10-1997, vợ chồng tôi đã bay sang San Jose thăm vợ chồng Lãm.  Thật không ngờ đó lại là lần cuối cùng tôi gặp Lãm.  Ngày 21-6-2011, Lãm bị lên cơn đau tim (heart attack) và mất một cách đột ngột tại nhà, hưởng thọ 71 tuổi.

Huỳnh Hữu Thế (1939-2006)

Hình Thế chụp năm 1993

            Huỳnh Hữu Thế [8] là học sinh xuất sắc nhất trong bọn tôi.  Vào năm Lớp Đê Tứ F (niên khóa 1956-1957), Thế đã đứng đầu gần như tất các môn học, và đặc biệt là với môn Toán.  Hè 1957, sau khi đã cùng bọn tôi đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, Thế đã tạo ra một kỳ tích vô tiền khoáng hậu của Trường Petrus Ký là đi thi và đậu luôn bằng Tú Tài 1, Ban Toán.  Tựu trường niên khóa 1957-1958, trong khi bọn tôi lên học các lớp Đệ Tam, Lãm hoc Ban B, tôi học Ban A, thì Thế đã vào học Lớp Đệ Nhất, nhưng phải hoc tại Trường Chu Văn An, vì lúc đó Trường Petrus Ký vẫn còn cấm học sinh hoc nhảy lớp.  Hè 1958 Thế đậu luôn bằng Tú Tài 2, và đậu luôn cả kỳ thi khó khăn vào năm thứ nhứt Ban Toán của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG).  

            Thời gian theo học ĐHSPSG là một giai đoạn Thế gặp nhiều khó khăn.  Thứ nhứt là vấn đề sức khỏe.  Thế bị nhức đấu thường xuyên, gần như mỗi ngày, có thể là do Thế đã uống quá nhiều thuốc chống ngủ trong thời gian học nhảy lớp  Thứ hai là vấn đề gia đình.  Vợ Thế dan díu với một nhân viên của Tòa Đại Sứ Thụy Sĩ, nơi vợ Thế làm thư ký, và sau đó mang cả 2 đứa con theo người nhân viên đó đi Thụy Sĩ luôn.  Thế trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần khá trầm trọng.  Thế phải mất đến 6 năm, thay vì chỉ 3 năm thôi, mới tốt nghiệp được ĐHSPSG.  Sau khi tốt nghiệp, Thế được bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).  Sau khi dạy học được một năm, Thế tình nguyện vào Trường Võ Bị Thủ Đức.  Bạn bè ai cũng bảo Thế khùng rồi nhưng không ngờ đó lại là một chuyện tốt cho sức khỏe của Thế.  Cò lẽ nhờ mấy tuần lễ huấn nhục tại quân trường, Thế không có ngày giờ đâu mà suy nghĩ về chuyện buồn gia đình nữa, và chẳng mấy chốc, cơn khủng hoảng tinh thần đã không còn nữa.  Sau khi ra trường, Thé được bổ nhiệm về Trường Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu.  Sau một năm, Thế được điều về Trường Võ Bị Đà Lạt.  Chính tại thành phố thơ mộng này, Thế đã may mắn được gặp chị Bùi Thị Kim Hoàng, một luật sư đang tập sự, hai người yêu nhau và đi đến hôn nhân, và sinh được một con trai đặt tên là Phong.

            Ngày 30-4-1975 ập đến và Thế phải đi cải tạo mấy năm.  Sau khi Thế được thả về, Chị Hoàng đã tổ chức cho hai cha con Thế đi vượt biên ngay, và, rất may mắn, chuyến đi thành công và Thế được Mỹ nhận cho vào định cư tại thành phố Newport, tiểu bang Connecticut vào tháng 6-1986 

            Tháng 8-1986, được tin này tôi rất mừng.  Sau đó hai Thế chúng tôi liên lạc nhau thường xuyên qua điện thoại viễn liên.  Chẳng bao lâu, Thế ghi danh đi học lại tại trường đại học cộng đồng của thành phố và tại đây Thế đã bất ngờ tạo ra một cơn sốt cho thành phố.  Câu chuyện như sau: một hôm trong giờ học môn Calculus (Toán Vi Tích Phân), vị giáo sư đang giải trên bảng 1 phương trình gì đó, ông đang viết đến dòng thứ tư, tự nhiên Thế thấy ngứa nghề, dơ tay lên xin phát biểu, vị giáo sư cho phép, và Thế nói Thế chỉ cần không đầy 2 dòng sẽ giải được phương trình đó ngay; vi giáo này là một giáo sư đàng hoàng chân chính, không những không nổi giận mà còn mời Thế lên bảng, và Thế đã làm đúng như đã nói.  Ngày hôm sau, vị giáo sư đem câu chuyện này kể cho một người bạn đang làm phóng viên cho tờ báo địa phương.  Lập tức ông này đến trường phỏng vấn Thế và hôm sau cái tin giựt gân (sensational) đó lên báo ngay: “Một người tỵ nạn Việt Nam trong thành phố chúng ta là một thiên tài Toán học”  Công ty điện lực của thành phố cho nhân viên đến phỏng vấn Thế, và sau đó quyết định cấp học bổng cho Thế cho đến khi Thế ra trường, và cũng quyết định sẽ nhận Thế vào làm việc cho họ.  Và trên thực tế, Thế đã làm việc cho công ty cho đến lúc Thế mãn phần do đột quỵ khi chạy bộ ngoài bãi biển vào sáng ngày 29-10-2006 

Vợ chồng tôi với đứa con nhỏ và hai cha con Thế tại Campus của MIT, Boston chụp khi vợ chồng tôi qua thăm hai cha con Thế vào tháng 6-1986

NguyễnThanh Hải

Nguyễn Thanh Hải [9] là người bạn thân nhất của tôi trong thời gian học bậc Trung Học.  Mỗi ngày Hải đạp xe đạp từ Thị Nghè qua nhà tôi ở Đakao để đi học chung với tôi và chúng tôi đã ngồi chung bàn trong suốt 7 năm đó (1953-1960). 

          Hè năm 1960, Hải thi rớt Tú Tài 2 cả 2 khóa, qua năm sau Hải mới đậu, và đầu năm 1962, Hải tình nguyện vào Không Quân, Khóa 62C, và được gởi đi Mỹ học lái máy bay trực thăng.

          Về nước, với cấp bậc Chuẩn Úy, Hải được điều về phục vụ Phi Đoàn Trực Thăng 217 tại Cần Thơ, và sau nhiều chiến công, Hải đã được thăng cấp nhiều lần.  Năm 1970, lúc đó đã lên Đại Úy, với chức vụ Phi Đoàn Phó, Phi Đoàn 217 (thời gian này Phi Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Trương Thành Tâm, Khóa 16 Đà Lạt [10]), Hải đã chỉ huy các phi đội trực thăng võ trang của phi đoàn tham gia cuộc hành quân tấn công vào Campuchia.

          Cấp bậc và chức vụ sau cùng, vào ngày 30-4-1975, là Trung Tá, Phụ Tá Tư Lệnh Không Quân (Tung Tướng Trần Văn Minh [11]) Đặc Trách An Phi.  Sau khi đi cải tạo hơn 10 năm ở Miền Bắc, Hải được đi Mỹ theo Chương Trình HO và định cư tại Lansing, tiểu bang Michigan.  Được tin, tôi rất mừng và đã lái xe sang Lansing thăm Hải ngay; tình cờ hôm đó có cả Nguyễn Trung Hiếu cũng đến thăm Hải, và 3 anh em chúng tôi đã có được một bữa nhậu rất vui như trong tấm ảnh kỷ niệm sau đây:

Hải, Hiếu và tôi đang thưởng thức món lẩu tại nhà Hải ở Lansing, Michigan.

       Sau đó, vợ chồng tôi cũng đã sang Lansing thăm vợ chồng Hải nhiều lần, và chúng tôi rất mừng thấy vợ chồng Hải đều đã tìm được công việc làm tốt với lợi tức khá cao, và gia đình Hải đã mau chóng hội nhập và ổn định.  Vài năm sau vợ chồng Hải đã mua được nhà, vợ chồng tôi đã sang thăm để mừng nhà mới.

            Hè năm 2007, vợ chồng tôi tổ chức đám cưới cho Trung, đứa con nhỏ của vợ chồng tôi, và vợ chồng Hải đã sang Canada dự đám cưới:

Đám cưới Trung – Quân – Vợ chồng Hải là thứ 2 và 3, hàng ngồi, từ trái qua.

           Sau đám cưới, vợ chồng Hải còn ở lại chơi với vợ chồng tôi thêm mấy ngày.  Nhờ vậy tôi đã có dịp đưa Hải đi thăm vườn hoa nổi tiếng Royal Botanical Garden của Canada tại thành phố Burlington, nằm kế bên thành phố Hamilton nơi vợ chồng tôi cư ngụ.  Chúng tôi đã có được tấm ảnh kỷ niệm này:

Hải và tôi tại Royal Botanical Garden  – Burlington, Ontario, Hè 2007

            Hè năm 2018, được tin vợ chồng Hải sắp dọn nhà sang Modesto, California để được gần vợ chồng con gái và các cháu ngoại, vợ chồng tôi sang Lansing thăm vợ chồng Hải:

Bửa cơm gia đình tại nhà Hải – Lansing, Michigan, Hoa Ky – Hè 2018

           Thật không ngờ đó là tấm ảnh cuối cùng mà hai đứa chúng tôi còn được ngồi bên nhau.  Sau khi Hải dọn nhà sang Modesto, Hải và tôi chỉ còn liên lạc qua điện thoại và điện thư mà thôi.  

            Trong thời gian 5 năm vừa qua, Hải đã bị tai biến mạch máu não vài lần, cùng với căn bệnh ung thư phổi, sức khỏe Hải ngày càng kém.  Giữa tháng 9-2023, bà xã Hải gọi cho tôi để báo tin là Hải đã nằm một chổ rồi.  Với tuổi 82, và đôi chân rất yếu, tôi đã lâm vào cảnh “lực bất tòng tâm,” muốn đi thăm Hải lắm mà đành chịu không thể đi được. 

             Ngày 22-9-2023, Trung Tá phi công Nguyễn Thanh Hải của Không Quân VNCH đã cất cánh bay phi vụ cuối cùng về Miền Vĩnh Hằng, hưởng thọ 84 tuổi.

Võ Văn Minh (1940-2018)

Trong các bạn thân Lớp Đệ Tứ F, Võ Văn Minh là người bạn có một mối quan hệ đặc biệt với cá nhân tôi, mà về sau tôi không còn “mày tao” nữa mà phải gọi là Anh Hai đàng hoàng vì năm 1963 tôi đã lập gia đình với Võ Thị Nhơn Nghĩa là em gái duy nhứt của Minh.

Minh bản tính hiền lành, vui vẻ và nhứt là có lòng với anh em bạn bè.  Nhà Minh luôn luôn là nơi tụ họp của các bạn bè, ngay cả sau ngày 30-4-1975 cũng vậy., như trong tấm ảnh bên dưới đây lúc Đinh Xuân Lãm sau hơn 10 năm cải tạo ở ngoài Bắc được thả về:

Buổi nhậu tại nhà Minh – từ trái qua; Nguyễn Văn Phơi, Hà Kim Phước, Nguyễn Thanh Hải, Võ Văn Minh, Phan Văn Long, Phan Văn Quang, và Đinh Xuân Lãm.

Về mặt học vấn, Minh không được may mắn.  Năm 1957, sau khi thi rớt kỳ thi lấy bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thay vì xin ở lại lớp để năm sau thi lai, vì tự ái, Minh đã bỏ trường ra học Lớp Đệ Nhị C của Trường Trung Học tư thục Cửu Long.  Minh nghĩ rằng mình kém Toán, Lý Hóa, không thể học Ban A hay Ban B được, nên đã chọn Ban C.  Đây là một sai lầm tai hại.  Cả bọn chúng tôi, lúc đó còn nhỏ quá, đâu có hiểu là Ban C thật ra còn khó hơn các Ban B và Ban A nữa vì sẽ rất nặng về phần sinh ngữ Pháp Văn và Anh Văn, là hai môn học mà Minh đều yếu kém.  Vì vậy mà kết quả là Minh đã thi rớt kỳ thi Tú Tài 1 Ban C năm 1958.  Minh chán nản, bỏ học luôn, và ra đi làm.  Nhờ sự giới thiệu của người anh chú bác ruột, anh Võ Thành Đức, Chánh Sở F22, Cảnh sát Đặc Biệt, Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, Minh được nhận vào làm thư ký đánh máy cho Ty Cảnh Sát Gia Định.

            Minh lập gia đình với chị Bùi Thị Kim Hoàng (cùng tên họ với vợ của Huỳnh Hữu Thế) và có được 3 con, 1 trai và 2 gái.  Gia đình chị Hoàng có một ngôi trường tiểu học tư thục nhỏ ở Gò Vắp do Bà Ngoại chị Hoàng trông coi, và nhờ vậy, Minh đã chuyển qua dạy học.  Đầu năm 2018, nghe tin Minh đau nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để bay về Việt Nam nhưng vẫn không kịp, Minh đã mất vào ngày 3-2-2018, thọ 78 tưổi.

Trần Phục (1939-2018)

Trong số các bạn Lớp Đệ Tứ F của tôi (niên khóa 1956-1957), Phục là người tương đối lớn tuổi hơn bọn tôi.  Tuy với bể ngoài trông rất ngầu” Phục rất hiền lành, vui vẻ và rất chiều bạn bè.

Sau khi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp Phục thi đậu vào Trường Cán Sự Y Tế, và, su khi ra trường, được bổ về Tổng Y Viện Cộng Hòa, nơi Phục làm việc cho tới ngày 30-4-1975.

Phục vượt biên thành công rất sớm, và được Mỹ cho vào định cư tại thành phố Anaheim, tiểu bang California.

Con gái đầu lòng của Phục học rất giỏi, tốt nghiệp Bác Sĩ, và lập gia đình với một người bạn cùng lớp.  Phục báo tin đám cưới con gái cho bạn bè.  Hai Thế chúng tôi rất vui mừng trước cái tin “Song Hỷ Lâm Môn” này của gia đình Phục và quyết định cùng đi dự đám cưới.  Lúc đó Lãm cũng vừa được Mỹ nhận cho vào định cư tai thành phố San Jose, tiểu bang California.  Thế Huỳnh sẽ bay thẳng từ Newport, Connecticut sang Anaheim, California.  Phần tôi sẽ bay từ Toronto, Canada sang San Jose, tại đây tôi đã mướn một xe hơi nhỏ và đến chở vợ chồng Lãm cùng đi xuống Anaheim.

Trong suốt gần 6 tiếng đồng hồ của chuyến đi San Jose – Anaheim, Lãm và tôi nói chuyện suốt, vì lần đầu tiên gặp lại sau hơn mười năm xa nhau.  Đến nhà Phục thì đã gần 2 giờ sáng, Thế đã có mặt, và 3 người chúng tôi lại nói chuyện tới gần giờ sáng, vợ Phục phải giục chúng tôi đi ngủ một vài giờ để 10 giờ sáng còn phải dậy để lo chuẩn bị tiếp bên đàng trai sẽ đến rước dâu lúc 11 giờ.  Sau khi ăn sáng xong 4 người chúng tôi đã ra trước nhà Phục chụp tấm ảnh kỷ niệm như sau:

Ảnh chụp trước nhà Phục – từ phải qua: Lãm, Thế Huỳnh, Phục và Thế Lâm

            Không ngờ đó là tấm ảnh cuối cùng tôi chụp chung với Phục.  Phục đã mãn phần sau gần một năm lâm bệnh nặng vào ngày 21-12-2018.

Phan Văn Quang

            Cũng giống như Phục, bạn Quang măt coi cũng”ngầu” lắm nhưng cũng vậy, hiền lành, vui vẻ với bạn bè.  Cái “ngầu” của Quang chỉ thể hiện trong binh nghiệp.  Nắm 1962, Quang tình nguyện vào Khóa 19 Trường Võ Bị Đà Lạt. (là Khóa Nguyễn Trãi, học từ 23-11-1962 đến 28-11-1964,với Thủ Khoa là Võ Thành Kháng (Kháng gia nhập binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, và tử trận ngay trong trận đánh đầu đời, trận Bình Giả năm 1965).

            Ra trường, Quang được bổ nhiêm về Trung Đoàn 48 Biệt Lập, Tiểu Doàn 1, Đại Đội 2 tại Phước Tuy.  Trong một trận đánh ác liệt của Trung Đoàn 48, Quang bị thương rất nặng, đã tưởng là không qua khỏi, chính Huỳnh Hữu Thế, lúc đó đang phục vụ tại Trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tàu, cho biết là đã được lệnh chuẩn bị đi gát xác cho Quang. 

Sau khi được phân loại 2, Quang được biệt phái về phục vụ tại các đơn vị như sau:

  • Bộ Cựu Chiến Binh
  • Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân (1969)
  • Văn Phòng Bộ Tư Lệnh  Biệt Khu Thủ Đô (1970-1974)
  • Trưởng Ban Hành Quân, Yếu Khu Tân Sơn Nhất (Từ tháng 11/1974 đến tháng 4/1975)

Hiện nay, Quang sống tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ

Nguyễn Trung Hiếu

            Trong đám 9 người bạn của tôi, Hiếu có lẽ là lớn tuổi nhứt và vô nhà binh sớm nhứt.  Như trên đã có ghi, ngay sau khi cùng với bọn tôi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp năm 1957, Hiếu tình nguyện vào Trường Võ Bị Thủ Đức.  Ra trường, với cấp bậc Chuẩn Úy, Hiếu được điều về Sư Đoàn 9 Bộ Binh ở Miền Tây, và lần lượt thăng cấp, lên đến Đại Úy vào ngày 30-4-1975.  Khi Hoa Kỳ thi hành Chương Trình HO, Hiếu được đi Mỹ và định cư tại San Diego, Nam California, nơi Hiếu sống với đứa con gái cho đến ngày hôm nay.

THAY LỜI KẾT

          Trong thời gian 4 năm (1953-1957) theo học bậc Đệ Nhứt Cấp tại Trường Petrus Ký, tôi đã chơi rất thân với 8 người bạn, hợp thành một nhóm 9 người, lúc nào cũng ở bên nhau, lúc đi học cũng như lúc đi chơi.  Sáu người trong nhóm, Dương Xã Tắt, Đinh Xuân Lãm, Huỳnh Hữu Thế, Võ Văn Minh, Trần Phục, và Nguyễn Thanh Hải, đã vĩnh viễn ra đi.  Ba người còn lại, Phan Văn Quang (sống tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ), Nguyễn Trung Hiếu (sống tại thành phố San Diego tiểu bang California, Hoa Kỳ), và Lâm Vĩnh-Thế (sống tại thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, Canada), hiện nay đều đã ở vào tuổi “bát tuần” cả rồi, lại sống cách xa nhau hàng ngàn cây số như thế, quả thật đã rơi vào hoàn cảnh “Lực Bất Tòng Tâm” không biết có còn cơ hội gặp lại nhau nữa hay không.  Mong thay!   

GHI CHÚ

[1] Lâm Vĩnh-Thế.  Tình bạn giữa Hải và tôi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/tinh-ban-giua-hai-va-toi-lam-vinh-the/

[2] Lâm Vĩnh-Thế.  Bạn tôi: Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Đinh Xuân Lãm, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/ban-toi-thieu-ta-tqlc-dinh-xuan-lam-lam-vinh-the/ 

[3] Lâm Vĩnh-Thế.  Chuyện một tấm ảnh, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/chuyen-mot-tam-anh-lam-vinh-the/

[4] Lâm Vĩnh-Thế.  Ban tôi: Giáo sư Toán Huỳnh Hữu Thế, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/ban-toi-giao-su-toan-huynh-huu-the-lam-vinh-the/

[5] Lâm Vĩnh-Thế. Nhớ Về Nhóm Bạn Thân Các Năm Đệ Nhứt Cấp Tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/nho-ve-nhom-ban-than-cac-nam-de-nhut-cap-tai-truong-trung-hoc-petrus-truong-vinh-ky-lam-vinh-the/

[6] Trường Bộ binh Thủ Đức, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Trường Bộ binh Thủ Đức – Wikipedia tiếng Việt  

[7] Ngô Văn Định, Chiến thắng Đầm Dơi (10/9/1963, trong sách Tuyển tập 2: Hai mươi mốt năm chiến trận của Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam (1954-1975).  Santa Ana, California: Tổng Hội TQLCVN Tại Hoa Kỳ, 2005, tr. 46-55.

[8] Lâm Vĩnh-Thế.  Bạn tôi: Giáo Sư Toán Huỳnh Hữu Thế, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/ban-toi-giao-su-toan-huynh-huu-the-lam-vinh-the/   

[9] Lâm Vĩnh-Thế.  Tình bạn giữa Hải và tôi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/tinh-ban-giua-hai-va-toi-lam-vinh-the/     

[10] Trương Thành Tâm.  Trực thăng võ trang: Không Lực VNCH, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://hoiquanphidung.com/echo/khong-quan-vnch/101-vnaf/133-tr-c-thang-vo-trang-khong-l-c-vnch-kq-trung-ta-truong-thanh-tam    

[11] Trần Văn Minh (không quân), tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉvInternet sau đây: Trần Văn Minh (không quân) – Wikipedia tiếng Việt