Nhớ thầy Nguyễn Khánh Long
Vưu Văn Tâm
1.
Sau năm 1975, môn Triết học đã bị loại bỏ ở các lớp trên, thầy cô phụ trách môn học này thường được chuyển sang dạy Việt văn hay môn lịch sử, địa lý. Thời đó, đề tài của những môn học như Việt văn, Anh và Pháp văn do sở giáo dục gửi xuống gây ra nhiều khó khăn cho các thầy cô khi giảng dạy vì nội dung đơn điệu và mang nặng tính “tuyên truyền”. May mắn thay, các vị giáo sư ở trường Petrus Ký được đào tạo bài bản và sở hữu kiến thức vững vàng nên giờ học nào cũng được êm ả trôi xuôi. Sau này, có được nhiều dịp tâm tình với thầy Khiêm và cô Loan dạy môn Pháp văn, Tám mới thấu hiểu và thông cảm được những nỗi nhọc nhằn của thầy cô mình ở đằng sau tấm bảng.
Trở lại với môn học Pháp văn, lớp 11C2 được học môn này với thầy Long. Lứa tuổi non nớt thường hay ham chơi và hiếm khi để ý những câu chuyện của thầy cô nên Tám không rõ thầy là giáo sư cũ được “lưu dung” hay được chuyển về từ một trường trung học khác nhưng những giờ học với thầy đã mang lại cho cả lớp nhiều kiến thức bổ ích cũng như nhiều kỷ niệm thú vị và đáng nhớ.
Thầy Long ở tuổi trung niên, tánh tình hiền lành, điềm đạm và vóc dáng cao ráo. Mái tóc dày có vài ba sợi bạc và được chải bồng bềnh theo kiểu “Tango” như mấy tấm bảng quảng cáo trước cửa tiệm hớt tóc. Vầng trán cao, đôi tròng kính thật to và dày cộm gác trên cái sống mũi thanh tú nhưng không thể nào lấp kín được gương mặt rạng rỡ như tài tử của thầy. Giọng nói của thầy Long là chất giọng “bắc cũ” êm ái, nhẹ nhàng và để lại trong lòng người nghe cũng như đám học trò (dù lười biếng, ham chơi, ghét học) ít nhiều cảm tình ấm áp. Cũng giống như ở các thầy cô dạy môn này ở những lớp trước, nếu ai nấy đều dạy theo “giáo án” được đưa từ “trên” xuống thì chỉ cần mươi hay mười lăm phút thì bài giảng xem như đã xong. Nhưng với lương tâm và chức nghiệp của một nhà giáo, thầy đã ân cần chỉ bảo, nào là chia động từ bất quy tắc, cách đặt câu cho đúng văn phạm. Mỗi khi học một chữ mới, thầy lại bày ra luôn “một họ nhà chúng nó” để đám học trò có dịp học thêm và may ra có thể nhớ lâu hơn.
Một lần trong bài học có chữ “yankee”, thầy giải hết nghĩa đen rồi lần ra nghĩa bóng và kết luận :
– Chữ này dùng trong bài không hay, các em nên quên đi !
Thầy nhanh tay xóa bảng và chuyển sang một đề tài khác.
Ở một bài giảng khác, trong một họ những động từ bất quy tắc, thầy lại đề cập đến câu thành ngữ “tous passe, tous casse, tous lasse”. Thầy giảng xa, giảng gần rồi mỉm cười và dẫn đến kết luận :
– Câu này dành cho những người có tánh tình lãng mạn, chán đời. Các em không nên nhớ !
Cũng như lần trước, thầy nhanh tay xóa sạch tấm bảng đen và tiếp tục bước sang một chủ đề khác.
Cái tuổi học trò nghĩ cũng lạ, những gì cha mẹ hay thầy cô dạy dỗ thì ít chịu nghe theo nhưng những điều không đáng nhớ thì lại .. nhớ dai. Thằng học trò lười biếng và tối dạ như Tám có lẽ cũng nằm trong cái mẫu số chung đó. Những điều “cấm kỵ” được âm thầm ghi lại trong trí nhớ rồi giữ luôn cho đến bây giờ dù ngày tháng đã xa lắc, xa lơ và bụi thời gian cũng phủ lên lối xưa một màu tro lạnh.
Vài năm trước, Tám đọc được tin tức qua mạng xã hội Facebook từ một nhóm cựu học sinh, các bạn (các em) cho biết thầy Long của Tám đã qua đời và gia đình các con thầy hiện định cư ở Gia-Nã-Đại. Cho dù không kiểm chứng được nguồn tin này nhưng Tám vẫn nghe lòng rộn vui khi biết gia đình của thầy cũng đến được bến bờ tự do và âm thầm tiếc nhớ một vị giáo chức, một người thầy đã tận tâm với học trò giữa cái xã hội nhập nhằng sáng tối, phận người mong manh.
Thời tiết nơi này mới vừa chuyển sang xuân với những cơn mưa nhè nhẹ. Gió xuân khiến cho cành xanh, lá thắm sau một mùa đông dài ngủ muộn. Buổi sớm mai yên bình ở một nơi xa gợi nhớ vô vàn chốn cũ với một góc trời đầy nắng hạ, có tiếng giảng bài của thầy cô và đâu đó vang lên những tiếng cười giòn tan của đám học trò tịnh nghịch. Ngoài khung cửa sổ, hình như bóng nắng sân trường vẫn linh lung và bầy trẻ đang nô đùa trong muôn ngàn sắc lá.
2.
Sau khi đăng lại trên Facebook bài viết cũ về thầy Long thì Tám nhận được ít nhiều tin tức về thầy. Thầy Nguyễn Khánh Long sinh ngày 12.04.1942 tại Ninh-Bình và theo gia đình di cư vào Nam theo hiệp định Genève năm 1954. Những năm 1970, thầy dạy môn Pháp văn tại trường trung học Thoại Ngọc Hầu ở Long-Xuyên. Vào cuối thập niên 70, thầy được chuyển về Sài-Gòn và dạy ở trường Chu Văn An rồi Lê Hồng Phong (Pétrus Ký). Năm 1981, thầy cùng 2 người con vượt biển đến Mã-Lai-Á rồi được định cư ở Gia-Nã-Đại (Canada).
Năm 1982, thầy phụ trách kho dữ liệu ở Tổng lãnh sự Pháp tại Montréal.
Từ năm 2000 đến 2005, thầy cùng một số bạn bè thành lập quỹ tương trợ Việt-Nam & Canada để giúp đỡ người dân trong nước như xây trường mẫu giáo, cấp học bổng cho học sinh nghèo, lập quỹ tiết kiệm, v.v.. và nghỉ hưu trí vào năm 2006.
Thầy Long qua đời ngày 15.09.2011 vì một căn bệnh hiểm nghèo tại tư gia ở thành phố Montreal, Canada.
Là một người yêu mến văn chương và chữ nghĩa cũng như ưa thích học hỏi, nghiên cứu, thầy dành hết thời gian rảnh rỗi cho việc dịch thuật những tài liệu đặc sắc hay những tác phẩm cổ điển.
“Tôi không đủ thời giờ đọc các tác giả đương đại nên tôi tìm đọc các tác phẩm cổ điển nhiều hơn. Tôi có ý nghĩ rằng nếu độc giả Việt-Nam không biết các tác phẩm này thì quả là thiệt thòi. Tôi bị ám ảnh về điều đó”.
Một số tác phẩm của thầy đã được xuất bản như “Việt-Nam, hành trình một dân tộc (Vietnam, Parcours d’une Nation) của Philippe Papin, “Phụng hoàng” (The Embassy House) của Nicholas Proffitt, “Vu khống” và “Lại chơi với lửa” của Linda Lê. Ngoài ra, thầy còn hợp tác với một số tạp chí, trang website như Hợp Lưu, Talawas, Da Màu và đăng tải nhiều bài viết.
Nhưng bệnh tật hiểm nghèo đã lấy đi tất cả và chỉ để lại những trang bản thảo còn dang dở gồm truyện ngắn, biên khảo, phỏng vấn cùng 2 tác phẩm nghiên cứu của nhà xuất bản Oxford.
TV, 26.04.2026 (25.09.2020)

