Nho lai thoi gian du hoc hai nam 1971-1973 tai Hoa Ky – Lam Vinh The

Tôi xuất thân là một Giáo Sư Trung H5c Đệ Nhị Cấp (GSTHĐ2C), tốt nghiệp từ Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử-Địa, Khóa 3 (1960-1963), với Hạng Bình Thứ, vào tháng 4-1963 như đã ghi rõ trong Chừng Chỉ Tốt Nghiệp DHSPSG do chính Giáo Sư Khoa Trưởng Bùi Xuân Bào ký tên và đóng dấu vào ngày 24-4-1963 như sau:

Sau khi tốt nghiệp, tôi được Bộ Giáo Dục ra Sự Vụ Lệnh cử tôi về phục vụ tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (tức là Bến Tre, sau đây sẽ ghi tắt là Trường Kiến Hòa)

Cổng chính của Trường Kiến Hòa

Tôi đã dạy học tại Trường Kiến Hòa trong 3 năm (1963-1966). Tôi dạy, môn Sủ-Địa cho 13 lớp đệ nhị cấp của Trường Kiến Hòa gồm 6 lớp đệ tam, 6 lớp đệ nhị, cuối năm học đi thi bằng Tú Tài 1, và 3 lớp đệ nhứt, cuối năm đi thi bằng Tu Tài.2. Tháng 9-1966, tôi được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về Trường Trung Hoc Kiểu Mãu Thủ Đức (KMTD), phụ trách giảng dạy môn Kiến Thức Xã Hội, tên mới dành cho môn Sử-Địa tại Trường KMTĐ.

Không ảnh toàn cảnh Trường KMTD lúc mới xây xong vào Hè 1965 – Tòa nhà lầu 4 tầng bên phải là cơ sở của Trường ĐHSPSG

Chính tại ngôi trường trung học lớn nhứt và danh tiếng nhứt này của Miền Nam, tôi đã tình cờ chuyển sang làm công tác thư viện. Buổi sáng hôm đó, trong năm học 1970-1971, tôi vào thư viện của trường để chúc mừng cho một người bạn, anh Nguyễn Ứng Long, lúc đó đang là Thư Viện Trưởng:

Hình Anh Long và tôi chụp tại nhà anh – Paris, Pháp, Hè 2009

Lý do: ngày hôm trước cả trường đều đã biết tin vui là anh Long vừa được chính phủ cử làm Giám Đốc Nha Văn Khố và Thư Viện Quốc Gia chịu trách nhiệm cho cả 2 ngành văn khố và thư viện cho cả nước. Tôi thật lòng tin là anh xứng đáng với chức vụ mới đó vì lúc đó anh là một trong vài người đã tốt nghiệp Cao Hoc về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) từ một trường đại học của Hoa Kỳ. Chuyện bất ngờ xảy ra là, sau khi nói chuỵn được vài ba phút, đột nhiên anh Long đề nghị tôi vào thư viện thay anh để anh có thể yên tâm rời trường đi nhận nhiệm vụ mới. Cho mãi đến tận hôm nay, ở năm 2026 này, tôi vẫn không biết tại sao tôi nhận lời đề nghị của anh Long ngay lập tức, không một chút do dụ đắn đo. Thế là tôi nghiểm nhiên trở thành một quản thủ thư viện khi chưa được đào tạo gì cả. Mấy tuân lễ sau đó, Giáo Sư Hiệu Trưởng Phạm Văn Quảng cử tôi đi Sài Gòn để tham dự một khóa huân luyện căn bản thư viện học được tổ chức bởi Cơ Quan Phát Triển Thư Viện (Library Development Authority = LDA), một đơn vị của Cơ Quan Viện Trợ Mỹ (United States Agency for International Development = USAID), mà người đứng đầu là ông cố vấn John Lee Hafenrichter (mà bọn tôi thường gọi là ông Haf cho dễ nhớ). Sau khóa huấn luyện, ông Haf thường lên Trường KMTĐ để thăm thư viện, và ông đã tỏ ra rất hài lòng với những phát triển mà tôi đã thực hiện cho thư viện, và, do đó, đã quyết định đề nghị và đươc USAID chấp thuận cấp cho tôi một hoc bổng đi du hoc Hoa Kỳ trong 2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, thuộc Viện Đại Hoc Syracuse (School of Library Science, Syracuse University = SLSSU), tại thành phố Syracuse, tiểu bang New York.

Trường Thư Viện Học Syracuse

Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học Syracuse, New York, Hoa Kỳ

Trong thập niên 1970, Viện Đai Hoc Syracuse được giới truyền thông Hoa Kỳ xếp vào một trong 20 trường đại học hàng đầu của Hoa Kỳ (one of the top 20 universities of the US). Trường Thư Viện Học của Đai Học Syracuse do đó, đã thu hút được sự tham gia giảng dạy của nhiều khuôn mặt lớn của ngành thư viện Hoa Kỳ trong đó đáng kể nhứt là Ân Sư Pauline Atherton, Giáo Sư Hướng Dẫn (Academic Adviso) của chính bản thân tôi, lúc đó, năm 1971, đang là Chủ Tịch Hội Thông Tin Học của Hoa Kỳ và Phó Chủ Tịch Liên Hiệp các Hội Thư Viện Trên Thế Giới (về sau, khi đã lập gia đình với Giáo Sư Glynn Cochrane, Bà đã đổi tên thành Pauline A. (Atherton) Cochrane)

Hình Ân Sư Pauline A. (Atherton) Cochrane chụp khoảng năm 2013

Danh Sách các vị Chủ Tịch của Hội Thông Tin Học Hoa Kỳ (ASIS) trong thập niên 1970 – GS Atherton là Chủ Tịch của năm 1971

Tôi đã học với Ân Sư tất cả 4 giáo trình như sau:

  • LSC 503: Organization of Information Resources
  • LSC 624: Special Problems in Cataloging
  • LSC 630: Advanced Topics in Organization of Information Resources
  • LSC 998: Readings and Research in Library Science

Sau đây là Bảng Điểm (Transcript) của các môn học của tôi trong 2 năm (1971-1973) tại SLSSU do Phòng Học Vụ (Registrar) của SLSSU cung cấp:

Bảng Điểm (Transcript) do Phòng Học Vụ (Registrar) của SLSSU cung cấp

Bảng Điểm cho thấy rõ thành tích học tập rất xuất sắc của tôi khiến tôi được Trường SLSSU xếp vào hạng Outstanding Students: 2 giáo trình đạt điểm B và 10 giáo trình đạt điểm A, hoàn toàn KHÔNG có một giáo trình nào bị điểm C đến điểm F cả. Hệ thống điểm chữ của các đại học Hoa Kỳ là như sau:

  • Điểm A: 90 – 100% (4 điểm)
  • Điểm B: 80 –   89% (3 điểm)
  • Điểm C: 70 –    79% (2 điểm)
  • Điểm D  60 –    69&  (1 điểm)
  • Điểm F:  0  –    59%  (0 điểm)

Cuối tháng 5-1973 tôi hoàn tất chương trình cao học và được SLSSU cấp bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS), và lên đương về nước.

Một hôm, tôi đang sắp xếp hành lý cho chuyến bay về Việt Nam vào hôm sau thì được điện thoại của Ân Sư gọi tôi đến gặp Bà. Khi tôi đến, Bà bảo tôi khoan về nước, ở lai học lên Tiến Sĩ với Bà. Tôi lễ phép trả lời là chính phủ Việt Nam không cho phép các ứng viên du học được học 2 bằng. Bà cười và nói: “You don’t have to worry about that. That’s my problem. I’ll take care of it.” Thấy nói chuyện lý lẽ với Bà là không được rồi, tôi xoay qua nói chuyện tình cảm. Tôi nói xa nhà gần 2 năm rồi, tôi nhớ gia đình, vợ con lắm, xin Bà để cho tôi về nươc và xin hẹn với Bà hai năm sau tôi sẽ trở qua học tiếp lên Tíến Sĩ vói Bà. Bà đành phải chìu thôi. Sau nay, nghỉ lại về buổi gặp gỡ với Ân Sư hôm đó, tôi mới thấy rõ là tôi đã bỏ mất cơ hội để trở thành vị Tiến Sĩ về Thư Viện Hoc đầu tiên cho VNCH. Đúng như Ông Bà mình ngày xưa thường dạy con cháu như sau: “Chuyện đời khó nói. Ai mà biết trước được chuyện tương lai.” Cuộc hẹn hai năm sau của hai thầy trò chúng tôi không bao giơ hiện thực được vì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975 chấm dứt vĩnh viễn sự hiện hữu của nước VNCH.

Thay Lời Kết:

Thời gian đi du học tại Hoa Kỳ của tôi chỉ có 2 năm (1971-1973) nhưng rất quan trọng trong cuộc đới tôi. Trước hết vì nó là khoảng thời gian duy nhứt trong đời, mà tôi được đi du học nước ngoài và tại một nước tân tiến nhứt của thế giới. Thứ hai nó đã giúp tôi có được cơ hội vô cùng tốt đẹp để thu thập kiến thức chuyên môn về thư viện, giúp tôi rất nhiều sau khi tôi về nươc và trở thành Chủ Tịch Hội Thư Viện Việt Nam và Giáo Sư Trưởng Ban Thư Viện Học đầu tiên của VNCH tại Viện Đại Hoc Vạn Hạnh.