Kiến Hòa Trong Tâm Tưởng
Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan, 1997 – 2006
CANADA
Sau khi tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Pham Sài Gòn (ĐHSPSG) vào tháng 4 năm 1963, tôi đươc Bộ Giáo Đục bổ nhiệm vào ngạch Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp (GSTHĐ2C), Hạng 4, với chỉ số 470,[1] và nhiệm sở đầu tiên là Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre, sau đây sẽ ghi tắt là Trường Kiến Hòa). Bài viết này là một cố gắng ghi lai những tình cảm thân thương còn tồn tại trong tâm tưởng của người viết về lộ trình Sài Gòn – Kiến Hòa, về Trường Kiến Hòa, về các bạn đồng nghiệp tại Trường Kiến Hòa, về các em học sinh Trường Kiến Hòa, và về người dân Kiến Hòa.
Lộ Trình Sài Gòn – Kiến Hòa
Tôi đã dạy học tại Trường Kiến Hòa trong 3 năm, 1963-1966. Trong khoảng thời gian 3 năm này, tôi đã đi lại lộ trình Sài Gòn – Kiên Hòa không biết là bao nhiêu lần. Cho đến ngày hôm nay, ở năm 2026 này, sau hơn 60 năm, tôi vẫn còn nhớ rõ từng địa danh đã đi qua trên lộ trình đó. Phương tiện di chuyển giữa Sài Gòn – Kiến Hòa vào lúc đó chỉ có 2 lọại: xe đò và xe lô (chữ “lô” có nguồn gốc từ tiếng Pháp là “location” có nghĩa là “cho thuê.”
Xe đò ở Miền Nam, trước 1975, thường là loại xe hơi có thùng dài, chở được nhiều khách (40-50 khách) như trong 2 tấm ảnh bên dưới đây:


Còn xe lô thì thường là một chiếc xe hơi nhà, nhỏ, chỉ chở được độ từ 8 đến 10 khách thôi, như xe traction hay xe station wagon của Hãng Citroën như trong 2 tấm ảnh bên dưới đây:


Giá vé xe đó rẻ hơn giá vé xe lô khá nhiều, nhưng tôi thích đi xe lô hơn vì không phải chờ lâu và vì nó đi nhanh hơn nhiều.
Ra khỏi Sài Gòn, các địa danh mà xe đi qua để về Mỹ Tho lần lượt là Phú Lâm, An Lạc, Bình Chánh, Bình Điền, Bến Lức (phải qua cầu), Cấu Voi, Cầu Ván, Tân An (phải qua cầu, về sau đổi gọi là Long An), và Tân Hiệp.
Trong thập niên 1960, hai chiếc cầu Bến Lức và Tân An đều chỉ lưu thông một chiều, nên khi xe ngừng lại để chờ thì người dân địa phương được dịp kiếm thêm một ít lợi tức cho gia đình bằng cách bán thức ăn cho khách, thường chỉ là các món ăn chơi, thí dụ như là đậu phộng nấu, đậu phộng rang, mía ghim, bánh phồng, bánh tráng ngọt, vv Nơi đây cũng có một nhạc sĩ mù hát dạo. Đến ngày hôm nay, tôi vẫn còn nhớ hình ảnh của người nhạc sĩ mù đó với cây đàn mandoline của anh. Một thời gian sau, cũng anh nhạc sĩ mù đó có thêm một cô bé gái lai, độ 11-12 tuổi, tóc vàng hoe, hát các bài hát phổ biến thời đó như Chuyến Tàu Hoàng Hôn, Nổi Buồn Gác Trọ, Nữa Đêm Ngoài Phố, vv, Giọng cô bé đã bị khàn khàn vì phải hát quá nhiều cả ngày và nhiểu ngày liên tục, trông rất tội nghiệp nên bà con đi xe ai cũng cho tiền.
Sau khi xe đến bến xe tại Mỹ Tho, tôi thường thuê một chiếc xe xích lô đạp để đi đến Bến Phà Rạch Miểu Khác với Phà Mỹ Thuận chỉ vượt ngang qua sông thôi, Phà Rạch Miểu phải đi vòng qua 2 cái cồn lớn trên sông Cửu Long là Cồn Long (tức là Cù Lao Rồng) và Cồn Phụng (nơi có cơ sở tôn giáo của Ông Đạo Dừa) mới sang đến bến Phà Tân Thạch. Trong các thập niên 1950 và 1960, phà Rạch Miểu còn sử dung các chiêc phà nhỏ, chỉ chở được độ 2-3 chiếc xe hơi thôi; sang thập niên 1970 thì mới sử dụng các chiếc phà lớn có thể chở được cả chuc chiếc xe đó, xe hàng,
Chiếc phà lớn trên Sông Cửu Long
Từ Tân Thạch, tôi thường đi xe Lam chung với một số khách, nhưng khi cần đi gấp thì tôi thuê một chiếc xe lôi gắn máy để đi về Thị Xã Trúc Giang, tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Hòa, giống như các xe trong hai tấm ảnh bên dưới đây:


Xe lôi gắn máy chở khách trước 1975
Nếu đi xe Lam thi xe chỉ đưa đến bến xe mà thôi. Bến xe của Thị Xã Trúc Giang nằm ngay tại Ngã Ba Tháp, kế bên sân vận động của tỉnh, ngay đầu Đại Lộ Phan Thanh Giản dẫn vào Thị Xã. Xe lôi gắn máy thì sẽ đưa khách đến tận nhà hay nơi làm việc.
Trường Kiến Hòa
Tại thời điểm của năm 1963, Trường Kiến Hòa đã là một trường trung học thuộc loại lớn, có đủ cả 2 câp, Đệ Nhứt Cấp (gồm 4 cấp lớp là đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, và đệ tứ), và Đệ Nhị Cấp (gồm 3 cấp lớp là đệ tam, đệ nhị, và đệ nhứt). Tôi không nhớ rõ Trường Kiến Hòa có bao nhiêu lớp Đệ Nhứt Cấp, nhưng ở bậc Đệ Nhị Cấp thì Trường Kiến Hòa co tất cả 15 lớp gồm 6 lớp đệ tam, 6 lớp đệ nhị (cuối năm sẽ đi thi bằng Tú Tài 1), và 3 lớp đệ nhứt (cuối năm sẽ đi thi bằng Tú Tài 2).
Cổng chính của Trường Kiến Hòa
Trong thời gian 3 năm (1963-1966) tôi dạy học tại đây, Ban Giám Đốc của Trường gồm các Giáo Sư sau đây: Bùi Văn Mạnh (Hiệu Trưởng), Nguyễn Duy Oanh (Giám Học), và Nguyễn Văn Đằng (Tổng Giám Thị)
Lớp Đệ Nhứt A (năm học 1965-1966)
Các GS, từ trái qua: Huỳnh Thành Công (Pháp Văn), Nghiêm Văn Minh (Anh Văn), Lâm Vĩnh Thế (Sử Địa), Huỳnh Chiếu Đẳng (Lý Hóa), Bùi Văn Manh (Hiệu Trưởng), Nguyễn Văn On (Anh Văn) Vũ Đình Lưu (Toán), và Đỗ Quan Triêm (Anh Văn, không có dạy lớp này).
Các Đồng Nghiệp Tại Trường Kiến Hòa
Sau khi tốt nghiệp ĐHSPSG, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Kiến Hòa cùng một lúc với 6 bạn đồng khóa nên lần đầu tiên từ ngày thành lập, Trường Kiến Hòa đã tiếp nhận được cùng một lúc 7 vị GSTHĐ2C như sau:
• Giáo Sư Mai Thị Thanh: môn Quốc Văn
• Giáo Sư Phan Thị Bạch Điểu: môn Pháp Văn
• Giáo Sư Nghiêm Văn Minh: môn Anh Văn
• Giáo Sư Đoàn Văn Phi Long: môn Toán
• Giáo Sư Nguyễn Cao Kiêm: môn Lý Hóa
• Giáo Sư Hà Thị Ánh Hoa: môn Vạn Vật
• Giáo Sư Lâm Vĩnh Thế: môn Sử Địa
Trong 7 Giáo Sư kể trên có 4 người về sau cùng được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ). Đó là các giáo sư: Mai Thị Thanh, Nghiêm Văn Minh, Phan Thị Bạch Điểu, và Lậm Vĩnh Thế.
Một vài đồng nghiệp khác tại Trường Kiến Hòa cũng được thuyên chuyên về Trường KMTĐ là :
• Giáo Sư Dương Văn Hóa: môn Pháp Văn
• Giáo sư Huỳnh Văn Nhì: môn Toán
Trong số các giáo sư tại Trường Kiến Hòa có hai ngườii về sau trở thành bạn thân của tôi, trong hơn 60 năm, cho đến ngày hôm nay của năm 2026 này.
Đó là hai anh:
• Dương Văn Hóa, về sau trở thành Hiệu Trưởng của Trường KMTĐ
• Tam Nhiều, Giáo Sư Môn Hội Họa, tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định vào đầu thập niên 1960, về sau là Giào Sư môn Hội Họa tại Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn tai Sài Gòn cho đến ngày nghỉ hưu.
Các Học Sinh Của Trường Kiến Hòa
Trong thời gian 3 năm (1963-1966) dạy học tại Trường Kiến Hòa, tổng số học sinh mà tôi đã dạy đã lên đến trên hai ngàn:
• Số học sinh đã dạy trung bình mỗi lớp: 50 học sinh
• Số lớp đã dạy mỗi năm: 15 lớp
• Số năm đã dạy: 3 năm
• Tổng cộng: 50 x 15 x 3= 2.250 học sinh
Tôi không thể nào nhớ hết cho được các học sinh (cả nam và nữ) mà tôi đã dạy trong 3 năm đó. Tôi chỉ còn nhớ được 3 học sinh sau đây:
• Em Lê Thị Ngoc Tuyết (nữ sinh thứ nhì từ trái qua trong tấm ảnh bên trên) về sau là một Bác Sĩ, tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn năm 1973 hay1974.
• Em Đỗ Quan Hạnh, em ruột của Giáo Sư Đỗ Quan Triêm (người ngồi bìa bên phải trong tấm ảnh bên trên), về sau là một Giáo Sư kiêm Quản Thủ Thư Viện của Trường Kiến Hòa, và năm 1974 là sinh viên của tôi trong Ban Thư Viên Học của Đai Học Vạn Hanh mà tôi là Giáo Sư Trưởng Ban.
• Em Nguyễn Văn Thắng (đứng bìa phải hàng thứ nhì trong tấm ảnh bên trên), về sau là một sinh viên tranh đấu nổi tiếng trong Phong Trào Phật Giáo chống Chiến Tranh Việt Nam trong thập niên 1960 tại Sài Gòn.
Người Dân Kiến Hòa
Cũng như đại đa số dân chúng của Miền Nam, phần lớn người dân Kiến Hòa là nông dân. Tuy nhiên có một điểm khác biệt khá quan trọng là có một khá đông dân Kiến Hòa sống với nghề trồng dừa chớ không phải trồng lúa. Kiến Hòa nổi tiếng với những vườn dừa bạt ngàn, rộng đến cả chục hay cả trăm mẫu,
Vườn dừa tại Kiến Hòa (Bến Tre)
Những vườn dừa bat ngàn này đã, đang và sẽ là nguồn thu nhập hàng năm rất lớn và rất ổn định cho người dân và tỉnh Kiến Hòa. Một trong những sản phẩm của tỉnh Kiến Hòa, nổi tiếng trong nước và ở cả hải ngoai là “Kẹo Dừa”
Kẹo dừa Bến Tre
Thay Lời Kết:
Mặc dù chỉ dạy học tại Trường Kiến Hòa có 3 năm (1963-1966), một phần rất nhỏ, gần như không đáng kề, trong cuộc đời đi làm và dạy hoc 43 năm (1963-2006) của tôi, nhưng 3 năm ngắn ngủi đó đã để lại rất nhiều kỷ niệm hết sức thân thương trong lòng tôi mà tôi không bao giờ có thể quên được. Những gì thuộc về Kiến Hòa sẽ mãi mãi là một phần hành trang không thể thiếu được trong hành trình còn lại của cuộc đời tôi.
GHI CHÚ:
1. Trong thời Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ đã sử dụng một hệ thống điểm số để quy định mức lương của công chức. Tại thời điểm của năm 1963, một chỉ số có giá trị là 11 đồng 50 xu. Như vậy, lương căn bản cho chỉ số 470 là: 470 x 11.5 = 5.405 đồng. Lương thực thụ sẽ gồm lương căn bản cộng thêm các loại Phu Cấp như là Phụ Cấp Sư Pham, Phụ Cấp Gia Điình, Phụ Cấp Đắt Đỏ, Phụ Cấp Chức Vụ, vv. Tôi còn nhớ khi mới ra trường ĐHSPSG năm 1963, lương tháng của tôi, lúc đó tôi đã có gia đình, được tất cả là 7.400 đồng.




