Tôi đã có cái may mắn rất lớn trong đời là được theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, thường được gọi tắt là Trường Petrus Ký, ngôi trường trung học lớn nhứt và danh tiếng nhứt của Miền Nam.  Bài viết này là một cố gắng ghi lại những ký ức về Trường, về các Thầy Cô, và về các bạn hoc trong khoảng thời gian 7 năm đó.

Nhớ Về Trường Petrus Ký

Cỗng Chính Của Trường Petrus Ký – Hai cột có gắn bảng với 2 câu thơ của Thầy Ưng Thiều:
Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt
Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm

Tôi đã học suốt 5 năm (1948-1953) của bậc Tiểu Học tại Trường Nam Tiểu Học Đakao.  Cuối năm Lớp Nhứt, Hè 1953, ở tuổi 12, tôi thi đậu kỳ thi tuyển vào các lớp đệ thất của Trường Petrus Ký.  Tôi được xếp vào Lớp Đệ Thất B6, sau nửa năm học, tên lớp được đổi thành Lớp Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp mới này được giữ mãi cho đến hết Đệ Nhứt Cấp: Đệ Thất F (NK 1953-1954), Đệ Lục F (NK 1954-1955), Đệ Ngũ F (NK 1955-1956), và Đệ Tứ F (NK 1956-1957).

Xuất thân từ một trường tiểu học Đakao nhỏ bé, tôi thật sự bàng hoàng trong ngày đầu tiên đặt chân vào Trường Petrus Ký khi nhìn thấy khu nhà để xe đạp cho học sinh của Trường.

Khu nhà để xe đạp cho học sinh của Trường Petrus Ký

Sau đó, theo sự chỉ dẫn trước khi vào trường của Anh Tư tôi,[1] tôi đã ra xếp hàng tại con đường trải đá ong từ ngoài cổng vào, và sau đó, theo sự hướng dẫn của các vị Giám Thị, cùng các bạn học đi hàng đôi vào Trường.

Vừa bước chân vào đến chu vi của sân trường tôi thật choáng ngộp trước cái quang cảnh trước mắt:

Sân Trường Petrus Ký – Ảnh chụp khoảng thập niên 1920 – Dãy nhà trệt là khu vực Phòng Thí Nghiệm – Dãy nhà lầu một từng là các phòng học

Sân trường to rộng quá sức, với 2 lối đi cắt nhau vuông góc, chia sân thành 4 sân nhỏ bằng nhau, vuông vức, và được trồng cỏ xanh rất đẹp.  Ngay chính giữa sân, chỗ 2 lối đi cắt nhau là khu vực tượng đài của danh nhân Petrus Ký   Học sinh chỉ được phép xuống sân này để chụp ảnh kỷ niệm trong 2 dịp: bãi trường Tết và bãi trường cuối năm học.

Lớp Đệ Nhị A (NK 1958-59) tại Tưọng Đài Petrus Ký – Bãi trường Tết năm 1959 – Tác giả đứng bìa bên phải cạnh Thầy Nguyễn Văn Phối (Lý Hóa) – Ở giữa ảnh là hai Thầy: Thầy Nguyễn Gia Tường, đeo kính và thất cà vạt đen (Vạn Vật), và Thầy Phạm Văn Thuật, chỉ mặc áo sơ mi trắng (Anh Văn)

Bố trí của toàn trường là một khu nhà vuông vắn như sau:

• Phía trước nhìn ra cổng trường là Hành Lang Danh Dự (Passage d’honneur), học sinh chỉ được sử dụng khi có lệnh gọi lên văn phòng, Một đầu hành lang, phía hướng ra cổng, là Phòng Họp của Giáo Sư, đầu phía trong là khu vực văn phòng trường

Hành Lang Danh Dự của Trường Petrus Ký lót gạch bông bóng loáng

• Phía trong là một dãy nhà trệt là khu vực các Phòng Thí Nghiệm

• Hai dãy nhà lầu một tầng hai bên là các phòng học của trường

Nhớ Về Các Thầy Cô Trường Petrus Ký

Trong thời gian theo học 7 năm (1953-1960) tại Trường Petrus Ký, tôi đã được may mắn theo học với tất cả là 35 Thầy và 3 Cô.[2] Xin chỉ ghi ra đây một vài Thầy Cô mà tôi còn nhớ được nhiều kỷ niệm.

Bậc Đệ Nhứt Cấp

Thầy Phạm Văn Sửu (Pháp Văn)

Thầy Phạm Văn Sửu dạy môn Pháp Văn, là một trong những vị Giáo sư đầu tiên của Trường Petrus Ký đã để lại một dấu ấn đậm nét trong tâm hồn tôi, không những vì công ơn dạy dỗ của Thầy (tôi học Pháp Văn với Thầy suốt 4 năm Ðệ Nhất Cấp), mà vì Thầy đã nêu gương sáng cho tất cả anh em chúng tôi qua quyết tâm vươn lên trong xã hội của thầy.  Xuất thân là một huấn luyện viên thể dục, lại nặng gánh gia đình đông con, vợ lại không đi làm, Thầy đã cố gắng vừa đi làm, vừa đi học thêm để lấy bằng Tú Tài.  Sau khi đậu xong Tú Tài, Thầy xin cải sang ngạch Giáo Sư Ðệ Nhất Cấp và được cử dạy môn Pháp Văn tại Trường. Trong suốt 4 năm dạy Pháp Văn cho anh em chúng tôi tại Trường, Thầy lại mở lớp dạy tư thêm tại nhà, một ngôi nhà nhỏ trong khu Bàn Cờ, để tăng thêm lợi tức cho gia đình vì lúc đó các con Thầy cũng đã lớn, trong nhà cần chi phí nhiều hơn. Tôi vẫn nhớ có nhiều hôm tụi tôi đến học thêm tại nhà Thầy, trời nóng quá, Thầy cho phép tụi tôi cởi áo ra, ở trần hết, riêng Thầy cũng chỉ mặc áo thung ba lỗ. Hình ảnh “lớp học” lúc đó trông chắc buồn cười lắm nhưng quả thật đã để lại trong tôi rất nhiều kỷ niệm êm đềm. Cũng trong thời gian nầy, Thầy lại cố gắng ghi danh học Luật, và sau cùng Thầy lấy được mảnh bằng Cử Nhân Luật Khoa.  Thầy rời Trường, chuyển sang ngành Tư Pháp và được bổ nhiệm vào chức vụ Chánh Án các Toà Sơ Thẩm.  Gần mười năm sau, hai thầy trò chúng tôi lại có dịp gặp lại nhau tại tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre).  Lúc đó tôi vừa tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon và được bổ về dạy các lớp Ðệ Nhị Cấp tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa.  Thầy Phạm Văn Sửu lúc đó là đương kim Chánh Án Toà Án Tỉnh Kiến Hòa.  Tôi có đến thăm Thầy mấy lần tại ngôi biệt thự rất lớn dành cho vị Chánh Án của tỉnh, nằm cạnh bờ hồ Chung Thủy, ngay trước cổng Trường Trung Học.  Tôi nhắc lại mấy buổi học “ở trần” tại nhà Thầy ở khu Bàn Cờ, Thầy cười và nói: Cái thằng nhớ dai dữ.” Thầy rất mừng cho sự đỗ đạt của tôi.  Tôi không nói ra, nhưng trong bụng thầm nghĩ Chính nhờ Thầy đã nêu gương sáng hiếu học mà ngày nay con mới nên người”. 

Thầy Bùi Trọng Chương (Quốc Văn)

Tôi có may mắn được học môn Quốc Văn với Thầy Bùi Trọng Chương liên tục trong suốt 4 năm học: 1) Đệ Ngũ F (NK 1955-1956); 2) Đệ Tứ F (NK 1956-1957); 3) Đệ Tam A (NK 1957-1958); và 4) Đệ Nhị A (NK 1958-1959).

Thầy Chương tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Pham Hà Nội năm 1953 và được bổ nhiệm vào Nam cùng một lúc với 4 bạn đồng khóa là Thầy Lê Xuân Khoa (Quốc Văn), Thầy Vũ Ngọc Khôi (Lý-Hóa, Vạn Vật), Thầy Đinh Xuân Thọ (Anh Văn), và Thầy Nguyễn Hữu Kế (Toán), mà sau này, anh em cựu học sinh Petrus Ký thường gọi chung dưới tên Ngũ Hổ Tướng Petrus Ký

Ngũ Hổ Tướng Petrus Ký tại Dontown Sài Gòn – Từ trái qua: Thầy Khoa, Thầy Khôi, Thầy Thọ, Thầy Kế, và Thầy Chuơng

Di ảnh Thầy Bùi Trọng Chương với Giáo Dục Bội Tinh tại Tang Lễ của Thầy

Thầy Bùi Trọng Chương cùng tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Sư Phạm Hà Nội và cùng được bổ về dạy Trường Petrus Ký cùng một lượt với các Thầy Khoa, Thầy Khôi và Thầy Thọ.  Tôi được may mắn học với Thầy môn Quốc Văn liên tiếp bốn năm Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ, Ðệ Tam và Ðệ Nhị.  Thầy Chương người tầm thước, hơi ốm, mặt xương, và có thể nói là một trong những vị Giáo sư khả kính nhất, và có tác phong sư phạm nhất của Trường Petrus Ký trong suốt thời gian bảy năm tôi theo học tại Trường.  Thầy rất nghiêm, nhưng không khắt khe, Thầy lại dạy học rất tận tâm, soạn bài rất kỹ, chấm bài rất đều, và cho điểm rất chừng mực.  Khi dạy lớp đi thi, như Ðệ Tứ (thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp) hay Ðệ Nhị (thi Tú Tài I), Thầy cố gắng theo sát và dạy thật đầy đủ chương trình giáo khoa, nhờ vậy, khi đi thi có thể nói là bọn tôi hoàn toàn không bị lúng túng trước các đề thi.  Thầy Chương cũng nêu gương hiếu học cho bọn tôi.  Vừa dạy học Thầy vừa học thêm tại Ðại Học Luật Khoa và sau cùng cũng lấy xong bằng Cử Nhân Luật như các Thầy Sửu và Thầy Khôi.  Về sau khi tôi đã tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon, tôi có dịp làm việc chung với Thầy vài lần tại các hội đồng thi Tú Tài.  Khi đó Thầy thường đảm nhận chức vụ Chánh Chủ Khảo hoặc Phó Chủ Khảo các hội đồng thi nầy và tôi lại được học hỏi về cách làm việc công bình và quang minh chính đại của Thầy.  Trước khi rời Việt Nam năm 1981 tôi có đến chào Thầy lần cuối tại  nhà Thầy trong khu Bàn Cờ.  Về sau Thầy cùng gia đình sang định cư tại tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ.  Một lần nữa Thầy lại làm chúng tôi ngạc nhiên và vô cùng khâm phục: Thầy trở lại trường Ðại Học và lấy xong văn bằng Bachelor of Arts.  Gần đây, mổi khi Thầy có dịp về Việt Nam thì anh em học sinh lớp Ðệ Tứ F của Petrus Ký lại tổ chức họp mặt với Thầy.  Thầy mất năm 2013 tại Nam California, Hoa Kỳ.  Tôi đã bay sang Nam California để dự tang lễ của Thầy, và, với sự yêu cầu của gia đình Thầy, tôi đã đại diện cựu học sinh của Thầy tại Trường Petrus Ký, đọc điều văn tại tang lễ.  Sau khi Thầy mất, tôi và anh Lương Văn Hy, cũng là một học trò cũ của Thầy, đã thành lập một Quỹ Học Bổng mang tên Thầy nhằm mục đích cấp phát học bổng cho học sinh giỏi và có gia cảnh khó khăn của Trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Lê Hồng Phong (tức Trường Trung Học Petrus Ký trước năm 1975, là ngôi trường mà Thầy đã gắn bó trọn cuộc đời 40 năm dạy học của mình).  Có thể vào xem chi tiết về Quỹ Học Bổng Thầy Bùi Trọng Chương tại địa chỉ Internet sau đây:

http://hoc-bong-btc.blogspot.ca/p/trang-chu_25.html

Cô Nguyễn Thị Sâm (Sử Địa)

Cô Nguyễn Thị Sâm là Giáo sư môn Sử Ðịa của lớp Ðệ Tứ F bọn tôi.  Hình như Cô là con gái lớn của Thầy Y Tá Trưởng Bệnh Xá của Trường.  Cô Sâm người tầm thước, tóc uốn, mặt trái soan, mang kính cận khá nặng, và có dáng đi rất đẹp.  Cô làm bọn tôi say mê môn Sử Ðịa vì Cô dạy môn học với tất cả tâm hồn và lòng nhiệt thành.  Nếu Thầy Nguyễn Văn Gần là Giáo sư gây được niềm vui trong hai giờ Sử Ðịa thường được coi là khô khan, thì Cô Sâm là Giáo sư đã thật sự hun đúc nơi anh em chúng tôi lòng ái quốc, và niềm tự hào về lịch sử của dân tộc mình.  Cô Sâm tự soạn bài Sử và đọc cho bọn tôi chép.  Lời văn của Cô vừa bóng bẩy, vừa hùng hồn, đọc lên gây xúc động rất nhiều nơi học sinh. 

Bậc Đệ Nhị Cấp

Thầy Trần Văn Thử (Toán)

Thầy Trần Văn Thử là Giáo sư môn Toán, không riêng của lớp Ðệ Nhị A bọn tôi mà luôn cả các lớp Ðệ Nhị B nữa.  Thầy Thử người to lớn, dềnh dàng, nhưng nói năng rất từ tốn.  Thầy dạy bọn tôi cả Hình Học lẫn Ðại số.  Trong tất cả các Giáo sư dạy Toán mà tôi đã được học trong suốt 7 năm tại Trường Petrus Ký, Thầy Thử là người mà tôi khâm phục nhứt.  Thầy dạy có phương pháp sư phạm đàng hoàng và sử dụng giờ dạy học với hiệu quả rất cao.   Mỗi tuần, bọn tôi học 4 giờ Toán, 2 giờ Hình Học vào Thứ Ba, và 2 giờ Ðại Số vào Thứ Năm.  Tuần nào cũng vậy, Thầy bảo bọn tôi về đọc trước bài giáo khoa về phần sẽ học tuần sau.  Vào giờ học, Thầy tóm lược nội dung của bài giáo khoa, sau đó Thầy chỉ cho chúng tôi cách áp dụng phần giáo khoa để giải các đề toán.  Thí dụ, muốn chứng minh hai mặt phẳng song song thì có mấy cách tất cả, trong mỗi cách thì cần có những yếu tố gì để có thể chứng minh được.  Sau đó Thầy đưa ra các đầu đề toán về phần đó và dựa vào các yếu tố có trong đầu đề Thầy chỉ rõ cho bọn tôi là phải dùng cách thứ mấy để chứng minh.  Phần còn lại của giờ học là thực sự giải các bài tập.  Cuối giờ, bao giờ Thầy cũng lập lại các cách chứng minh cho bọn tôi nắm thật vững.  Và cuối cùng là Thầy cho biết bọn tôi phải làm bài tập nào để nộp vào tuần sau.  Thầy áp dụng cách dạy như thế trong suốt năm học.  Mỗi tuần bọn tôi phải nộp hai bài, một cho môn Hình Học và một cho môn Ðại Số.  Và tuần nào Thầy cũng chấm và trả lại đầy đủ cho bọn tôi.  Các bạn cứ thử tính xem, Thầy dạy tất cả 6 lớp Ðệ Nhị, mỗi lớp độ 50 học sinh, mỗi học sinh nộp hai bài, như vậy là mỗi tuần Thầy chấm 600 bài tập, và chấm thật kỹ, sai một cái dấu + hay – trong bảng biện luận là Thầy cũng thấy và khoanh tròn.  Thú thật, trong suốt cuộc đời đi học và sau nầy đi dạy của tôi, tôi chưa từng thấy một Giáo sư nào vừa dạy hay, vừa tận tâm với học sinh như vậy.  Cuối năm Ðệ Nhị, bọn tôi đi thi Tú Tài Ban A, làm hai bài toán hoàn toàn không gặp một chút khó khăn nào.  Về sau, Thầy Thử có một thời gian làm Hiệu Trưởng của Trường Petrus Ký. 

Thầy Nguyễn Huy Hùng (Vạn Vật)

Thầy Nguyễn Huy Hùng là Giáo sư môn Vạn Vật.  Thầy người Bắc, ốm, cao, trắng trẻo, trông rất là thư sinh.  Mà thật vậy, năm đó Thầy đang là sinh viên năm thứ 5 của Ðại Học Y Khoa Saigon.  Chương trình Vạn Vật của lớp Ðệ Nhứt là học về cơ thể và sinh lý của con người.  Với kiến thức Y Khoa, Thầy Hùng đã dạy môn Vạn Vật nầy rất hay.  Không những dạy hết trọn chương trình giáo khoa, Thầy còn giải cho bọn tôi một số đề mang tính tổng hợp rất hay.  Không rõ về phần các bạn khác ra sao, riêng cá nhân tôi năm đó đậu Tú Tài 2 là nhờ môn Vạn Vật học với Thầy Hùng.  Tôi không bao giờ quên được lần gặp gỡ cuối cùng giữa tôi và Thầy Hùng.  Buổi chiều hôm đó, vào một ngày Thứ Sáu, độ một tuần hay 10 ngày gì đó sau kỳ thi viết Tú Tài 2, tôi tình cờ có việc đi ngang Trường Petrus Ký thì gặp Thầy Hùng vừa trong Trường đạp xe ra (Thầy vẫn còn đi xe đạp).  Gặp tôi Thầy mừng lắm, ngoắc tôi lại cho hay là tôi đã đậu phần thi viết rồi, và bảo tôi về lo học ôn bài để chuẩn bị vào thi vấn đáp vào sáng Thứ Hai tới.  Tôi mừng quá xá, cám ơn Thầy lia lịa, rồi chạy về nhà liền để báo cho Mẹ tôi hay.  Sau nầy tôi không có cơ hội nào được gặp lại Thầy Hùng nữa, nhưng được biết có một thời gian Thầy làm Trưởng Ty Y Tế tỉnh Vĩnh Bình (Trà Vinh), chi tiết nầy do một ngườI bạn thân của tôi là anh Nguyễn Bình Tưởng kể lại, lúc đó anh Tưởng là Hiệu Trưởng Trường Trung Học Vĩnh Bình.

Nhớ Về Các Bạn Học

Trong thời gian 4 năm học (1953-1957) ở bậc Đệ Nhứt Cấp, tôi chơi rất thân vói 8 người bạn cùng lớp, làm thành một nhóm 9 người bạn thân, lúc học tập hay lúc đi chơi đều có nhau: 1) Nguyễn Thanh Hải; 2) Nguyễn Trung Hiếu; 3) Đinh Xuân Lãm; 4) Võ Văn Minh; 5) Trần Phục; 6) Phan Văn Quang; 7) Dương Xã Tắt; 8) Huỳnh Hữu Thế (Thế Huỳnh); và 9) Lâm Vịnh Thế (Thế Lâm).

Hiện nay, ở năm 2006 này, nhóm 9 người này chỉ còn lại có 3 thôi: 1) Nguyễn Trung Hiếu, sống tại San Diego, Nam California, Hoa Kỳ; 2) Phan Văn Quang, sống tại Seattle, Washington, Hoa Kỳ; và 3) Lâm Vĩnh Thế, sống tại Hamilton, Ontario, Canada.

Các Bạn Đã Mãn Phần

Xin ghi ra đây các bạn đã mãn phần, theo thứ tự năm các bạn ra đi:

Dương Xã Tắt (Mất Năm 1965)

Ảnh Tắt chụp tại tiệc cưới của tôi

Tắt là người ra đi sớm nhứt, vào năm 1965, lúc tất cả các ban còn ở trong nước.

Tắt là người to con nhứt và cũng lớn tuổi nhứt trong nhóm 9 người, và là người có tiền nhiều nhứt trong bọn tôi vì nhà Tắt rất giàu, Ba của Tắt là một đại điền chủ tại Bến Lức.   Tánh của Tắt lại rất rộng rãi, mỗi khi đi chơi chung, lúc góp tiền, ai không có đủ thì Tắt góp thêm vào, hoàn toàn không nề hà gì cả.  Sau khi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, Tắt thi vào Trường Quốc Gia Sư Phạm, hệ cấp tốc, chỉ học một năm.  Sau khi ra trường, Tắt được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Tiểu Học Bến Lức, là quê của Tắt.  Sau một năm, Tắt lên làm Hiệu Trưởng và lập gia đình.  Nhưng sau đó, Tắt bị động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức (về sau đổi tên thành Trường Bộ Binh Thủ Đức).  Ra trường Tắt được bổ về Bến Lức, phụ trách một Trung Đội Địa Phương Quân tại đây.  Trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Công, Tắt tử trận, lúc đó vợ Tắt đang có thai được 6 tháng, Võ Văn Minh đã đại diện nhóm anh em 9 người đến dự tang lễ; lúc đó tôi đang gác thi Tú Tài tại Cần Thơ nên không về được.

Huỳnh Hữu Thế (Mất Năm 2006)

Ảnh Thế chụp vào năm 1993 tại Burlington, Ontario, Canada lúc viếng thăm Vườn Hoa nổi tiếng của Canada Royal Botanical Garden

Huỳnh Hữu Thế [3] sinh năm 1939 và mất ngày 29-10-2006 thọ 67 tuổi.  Thế là một “cây Toán” của bọn tôi, mỗi lần ôn tập để chuẩn bị thi lục-cá-nguyệt (bây giờ gọi là học kỳ) thì Thế luôn luôn hướng dẫn cả bọn.  Thế đã tạo được một kỳ tích tại Trường Petrus Ký là cuối năm Lớp Đệ Tứ F (NK 1956-1957), sau khi đã thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp như bọn tôi, Thế thi đậu luôn cả bằng Thú Tài 1, Ban B (tức là Ban Toán), tức là Thế đã nhảy lớp, nhưng không phải như các học sinh khác, chỉ nhảy một lớp mà là hai lớp.  Do đó, tựu trường năm học 1957-1958, trong khi tụi tôi lên các lớp Đệ Tam thì Thế đã lên Lớp Đệ Nhứt, nhưng Thế phải xin vào học ỏ Trường Chu Văn An vì Thế bị Trường Petrus Ký không cho ở lại học, lý do: Trường Petrus Ký cấm học sinh nhảy lớp.  Cuối năm học 1957-1958, Thế thi đậu bằng Tú Tài 2 cũng Ban B, và sau đó thi đậu luôn vào năm thứ nhứt, Khóa 1 của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Toán.  Trong thời gian học ĐHSPSG, Thế đã phải trả một giá khá đắt cho việc nhảy lớp đó.  Thế bị bệnh nhức đầu rất nặng có lẽ do việc uống quá nhiều thuốc chống ngủ.  Họa vô đơn chí, Thế bị vợ bỏ và mang theo hai đứa con gái nhỏ đi theo tình nhân qua Thụy Sĩ.  Thế bị khủng hoảng tinh thần khá trầm trọng, thi cuối năm rớt lên rớt xuống nên mãi 6 năm sau (1964; trong khi chương trình học của ĐHSPSG chỉ có 3 năm thôi, lẽ ra Thế đã phải tốt nghiệp từ năm 1961), Thế mới tốt nghiệp, và được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).  Nhưng chỉ dạy học 1 năm tại KMTĐ, Thế bỏ dạy, tình nguyện vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức.  Cái may cho Thế là nhờ vào Thủ Đức, bị các tuần lễ huấn nhục, khủng hoảng tâm thần của Thế bị xóa sạch và Thế trở lai bình thường.  Sau khi ra trường, Thế được bổ về Trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Táu.  Nhưng sau chỉ 1 năm, Thế được Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt.   Và tại đây Thế đã gặp được Chị Bùi Thị Kim Hoàng, lúc đó đang là một luật sư tập sự.  Hai người đi đến hôn nhân và sinh được một đứa con trai đặt tên là Phong.  Ngày 30-4-1975 ập đến và Thế phải đi cải tạo mấy năm.  Khi Thế được thả về, Chị Hoàng đã tổ chức cho hai cha con Thế đi vượt biên và, rất may mắn, đi trót lọt, được Mỹ cho vào định cư tại thành phố Newport, tiểu bang Connecticut.  Nhận được tin vui này, tôi mừng quá, và một cuối tuần có long weekend tôi chở bà xã tôi và thằng con nhỏ sang thăm hai cha con Thê.  Tụi tôi đi Boston chơi và có được tấm ảnh chụp chung này trong campus của Đại Học MIT (Massachusetts Institute of Technology):

Ảnh chụp tại Campus của Đại Học MIT – Từ trái qua: một anh bạn của Thế, Trung (con trai nhỏ của tôi), bà xã tôi, tôi, Phong (con trai củaThê) và Thế.

Mấy năm sau, bà xã của Thế cũng vượt biên thành công, và cả gia đình Thế đã đoàn tụ, và đời sống của gia đình Thế dần dần ổn định.  Sáng ngày 29-10-2006, như thường lệ, Thế ra bãi biển chạy bộ và bị đột quy.  Bà xã Thế quá đau buồn, đã âm thầm làm đám tang cho Thế mà không thông báo cho bạn bè.  Một hôm tình cờ Trần Phục gọi sang thăm Thế mới biết là Thế đã mất.

Trần Phục (Mất Năm 2018)

Ảnh chân dung Phục chụp năm 1993

Trong số các bạn than của tôi ở Petrus Ký, Phục là người có khuôn mặt “ngầu” nhứt, nhưng, thật ra, Phục là một người rất hiền lành, vui tánh.

Hè năm 1992, Trần Phục, sống tại Anaheim, Nam California, làm đám cưới cho con gái đầu lòng vừa mới tốt nghiệp Bác Sĩ, và đã gởi thiệp mời cho bọn tôi.  Đây là một tin vui lớn, Song Hỉ Lâm Môn, của gia đình Phục nên hai Thế chúng tôi cùng quyết định sẽ đến dự để chia vui với Phục và gia đình.  Thế sẽ bay thẳng từ Newport, Connecticut sang Anaheim.  Thần tôi thì sẽ bay từ Toronto sang San Jose; tại đây tôi sẽ mướn một chiếc xe hơi nhỏ để rước vợ chồng Lãm cùng đi xuống Anaheim.  Trên lộ trình San Jose – Anaheim dài khoảng 530 km, đi xe mất gần 6 tiếng đồng hồ, Lãm và tôi đã nói chuyện trong suốt lộ trình và thời gian đó vì có không biết bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe sau khi xa cách nhau hơn 17 năm (1975-1992).  Đến nhà Phục lúc gần 2 giờ khuya, Thế đã có mặt ở đó rồi, và bọn 4 người chúng tôi tiếp tục nói chuyện đến gần 5 giờ sáng.  Bà xã của Phục phải giục chúng tôi tạm ngưng cậu chuyện, đi ngủ vài giờ trước khi bên nhà trai đến rước dâu lúc sau 11 giờ sáng.  Ăn sáng xong, 4 người bọn tôi đã ra trước nhà Phục để chụp tấm ảnh kỷ niệm hiếm quý này:

Ảnh chụp trước nhà bạn Trần Phục, Anaheim, Nam California, Hoa Kỳ, Hè 1992 – Từ phải qua: Đinh Xuân Lãm, Huỳnh Hữu Thế, Trần Phục, và Lâm VĩnhThế.

Hè năm sau, vợ chồng Phục và vợ chống Thế cùng đi du lịch chung với nhau sang Canada và đã đến thăm vợ chồng tôi:

Ảnh chụp tại nhà tôi tại Hamilton, Ontario, Canada, Hè 1993 – Từ trái qua: vợ chồng Thế Huỳnh, vợ chồng Phục và vợ chồng tôi

Sau đó, ba gia đình chúng tôi không còn dịp gặp lai nhau nữa, chỉ thình thoảng gọi điện thoại thăm nhau thôi.

Bây giờ, ở năm 1993 này, bọn tôi đều đã trên “Lục Tuần” hết cả rồi.  Tôi đã viết một bài về những kỷ niệm vui buồn của bọn tôi hồi còn học ở bậc Đệ Nhứt Cấp tại Trường Petrus Ký.  Viết xong, tôi gởi cho tất cả các bạn đang sống tại Mỹ gồm Hải, Hiếu, Lãm, Quang, Phục, và Thế Huỳnh.  Sau khi nhận được bài viết của tôi, các bạn đều có hồi âm, chỉ có Hải và Phục thì không thấy trả lời.  Tôi đâm nghi nên đã gọi điện thoại thăm, và, quả nhiên, hai bạn Hải và Phục đều đang có vấn đề về sức khỏe, nhứt là Phục có vẻ khá trầm trọng.  Giữa tháng 12-2018, khi tôi gọi qua thăm Phục, bà xã Phục cho biết Phục đã nằm một chỗ, không còn hy vọng gì nữa cả.  Phục đã vĩnh viễn từ giả bạn bè vào ngày 21-12-2018.       

Đinh Xuân Lãm (Mất Năm 2011)

Ảnh Lãm chụp khoảng thập niên 1990

Đinh Xuân Lãm [4] sinh năm 1940, mãn phần ngày 21-6-2011, hưởng thọ 71 tuổi.  Lãm và tôi học chung lớp tại Trường Petrus Ký suốt 4 năm (1953-1957) của bậc Đệ Nhứt Cấp, và cùng đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè 1957. Lên bậc Đệ Nhị Cấp, Lãm học Ban B (Toán) còn tôi học Ban A (Vạn Vật) nên không còn học chung lớp với nhau nữa, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục chơi thân với nhau.  Sau khi cùng thi đậu bằng Tú Tài 2 vào Hè 1960, tôi thi đậu vào năm thứ nhứt của Trường ĐHSPSG, Khóa 3, Ban Sủ Địa, còn Lãm thì nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 17, tức là Khóa Lê Lai, khai giảng ngày 11-11-1960 và mãn khóa ngày 30-3-1963.  Ra trường với cấp bậc Thiếu Úy, Lãm tình nguyện về binh chủng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), làm Đại Đội Phó của Đại Đối 1 (Đại Đội Trưởng lúc đó là Trung Úy Phạm Nhã), Tiểu Đoàn 2 (về sau nổi tiếng là Tiểu Đoàn Trâu Điên), với Đại Úy Nguyễn Thành Yên (biệt danh là Ông Già Đầu Bạc) là Tiểu Đoàn Trưởng.  Trận đánh đầu tiên trong binh nghiệp của Lãm là Trận Đầm Dơi ở Cà Mau, chiến thắng lớn nhứt của quân đội trong năm 1963   Sau khi ra trường Võ Bị Đà Lạt được 2 năm, Lãm dương nhiên thăng cấp lên Trung Úy.  Trong trận phục kích tại Phò Trạch (Quảng Tri), mà Tiểu Đoàn Trưởng Trung Tá Lê Hằng Minh bị tử trận, Lãm có công lớn trong nổ lực phản phục kích nên được thăng cấp tai mặt trận lên Đại Úy.  Sau đó Lãm còn tham dự nhiều trận đánh lớn nữa, và cấp bậc cùng chức vụ sau cùng vào ngày 30-4-1975 là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 16 TQLC, thuộc Lữ Đoàn 468 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Ngô Văn Định.  Sau kihi bị học tâp cải tao hơn 10 năm tại Miền Bắc, Lãm được đi Mỹ theo diện HO và định cư tại San Jose, Nam California cho đến khi Lãm mãn phân vào ngày 21-6-2011.

Võ Văn Minh (Mất Năm 2018)

Ảnh Võ Văn Minh chụp khoảng thập niên 1990

Võ Văn Minh, sinh năm 1940, là một người trong nhóm 9 người bạn thân của tôi hồi học bậc đệ nhứt cấp tại Trường Petrus Ký.  Về sau, Minh còn thân tình với tôi nhiều hơn nữa vì tôi đã cưới Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Minh.

Minh là một người tính tình hiền lành, vui vẻ, và có lòng với bạn bè.  Nhà Minh bao giờ cũng là nơi bọn tôi tụ họp lại để ôn bài thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là thi bán niên), dưới sự hướng dẫn làm các bài Toán của Thế vì Thế là một “câyToán” của lớp.  Sau năm 1975 nhà Minh cũng là noi tụ họp khi có các bạn đi cải tạo về:

Họp mặt các ban Lớp Đệ Tứ F Petrus Ký (NK 1956-1957) tại nhà Minh – Từ trái qua: Nguyễn Văn Phơi, Hà Kim Phước, Nguyễn Thanh Hải, Võ Văn Minh, Phan Văn Long, Phan Văn Quang, và Đinh Xuân Lãm.

Minh không có phần về chuyện học hành thi cử.  Sau khi thi rớt bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 1957, thay vì ở lại học thêm một năm để năm sau thi lại, vì tự ái, Minh đã bỏ trường, ra học Lớp Đệ Tam C tại Trường Trung Học Tư Thục Cửu Long.  Hè năm sau, Minh thi rớt Tú Tái Ban C, và bỏ học luôn, ra đi làm.  Nhờ một ngươi anh chú bác ruột, anh Võ Thành Đức, lúc đó là Thiếu Tá, Trưởng Ban F22, Cảnh Sát Đặc Biệt, thuộcTổng Nha Cảnh Sát Quốc Gai, Minh được nhận vào làm thư ký đánh máy lương bổng cho Ty Cảnh Sát Gia Định.

Minh lập gia đinh với Chị Bùi Thị Kim Hoàng (trùng tên họ với vợ Huỳnh Hữu Thế) và sinh được 3 đứa con, 1 trai và 2 gài, đặt tên là Võ Hoàng Hải, Võ Thị Ngọc Hà, và Võ Thị Ngọc Hạnh.

Cuối tháng 1-2018, nghe tin Minh đau nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để bay về Việt Nam ngay, nhưng vẫn không kịp.  Minh đã mất vào buỏi tối ngày 3-2-2018, thọ 78 tuổi.

Trần Phục (Mất Năm 2018)

Ảnh Phuc chụp năm 1993

Phục là người có gương mặt “ngầu” nhứt trong nhóm 9 người bọn tôi nhưng thật ra thì rất hiền lành, vui tính   Sau khi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, Phục thi đâu vào Trương Cán Sụ Y Tế, hệ 3 năm.  Sau khi ra trường, Phục được Bộ Y Tế bổ nhiêm vào ngạch Cán Sự Y Tế, và nhiệm sở đầu tiên là Tổng Y Viện Cộng Hòa.  Chính tại đây, Phục đã gặp được Chị Bùi Thị Km Hoàng (cùng họ cùng tên với bà xã của Huỳnh Hữu Thế), hai người đi đến hôn nhân và có được nhiều con.  Sau ngày 30-4-1975, gia đình Phục định cư tại Anahein, Nam California cho đến khi Phục mãn phần vào ngày 21-12-2018.   

Nguyễn Thanh Hải (Mất Năm 2023)

Nguyễn Thanh Hải, [5] sinh năm 1939 và mất ngày 22-9-202, thọ 84 tuổi.  Trong thời gian 7 năm (1953-1960) học tại Tường Petrus Ký, Hải là ngươi ban thân nhứt của tôi.  Mỗi ngày, Hải đạp xe đạp từ nhà ở Thị Nghè sang nhà tôi ở khu Đakao để cùng tôi đi học.  Chúng tôi ngồi chung bàn trong lớp trong suốt 7 năm học đó.

Cuối năm Lớp Đệ Nhứt A1 (NK 1959-1960), tôi thi đậu bằng Tú Tài 2 Ban A và sau đó thi đậu luôn vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sủ Địa.  Hải thi rớt, qua năm sau mới đậu, và sau đó Hải tình nguyện vào Không Quân, Khóa 62 C, và đi Mỹ học lái máy bay trực thăng.  Sau khi về nước, Hải phục vụ trong Phi Đoàn Trực Thăng 217, Không Đoàn 64, Sư Đoàn 4 Không Quân tại Cần Thơ.  Năm 1970 chính Hải, lúc đó là Đại Úy, Phi Đoàn Phó, Phi Đoàn 217, đã chỉ huy các trực thăng võ trang tấn công sang Kampuchia.  Năm 1973, Hải lúc đó đã thăng cấp lên Thiếu Tá, được cử làm Sĩ Quan Liên Lạc, phụ trách hướng dẫn các Sinh Viên Sĩ Quan Phi Công sang học lái máy bay trực thăng tại tiểu bang Georgia của Hoa Kỳ. Câp bậc và chức vụ sau cùng vào ngày 30-4-1975 của Hải là Trung Tá, Phụ Tá Tư Lệnh Không Quân, đặc trách về An Phi tại căn cứ Tân Sơn Nhứt.  Sau ngày 30-4-1975, Hải bị đi học tập cải tạo trên 10 năm ở Miền Bắc.  Sau khi được thả về, Hải đã đi Mỹ theo diện HO (Humanitarian Operation) và định cư tại thành phố Lansing, tiểu bang Michigan.  Tôi đã lái xe qua Lansing thăm Hải nhiều lần:

Ăn lẩu tại nhà Hải với Hải và Hiếu

Ăn tối tại nhà Hải lần cuối trước khi gia đình Hải dọn đi Modesto, California

Sau khi gia đình Hải dọn nhà sang Modesto, California, tôi không còn có dịp gặp lại Hải nữa cho đến khi Hải mãn phần vào ngày 22-9-2023.

Thay Lời Kết:

Bây giờ, ở năm 2026 này, nhóm 9 người bạn thân của tôi hồi còn học Đệ Nhưt Cấp tại Trường Petrus Ký, chỉ còn lại có 3 ngườ: 1) Nguyễn Trung Hiếu, sống tại San Diego, Nam California, Hoa Kỳ; 2) Phan Văn Quang, sống tại Seattle, Washington, Hoa Kỳ; và 3) Lâm Vĩnh Thế, tác giả bài viết này, sống tại Hamilton, Ontario, Canada.  Cả 3 người chúng tôi đều đã ở vào tuổi”Bát Tuầnhết cả rồi, sức khỏe ngày càng kém, không thể đi xa được như trước kia nữa, nên chuyện gặp nhau gần như đã trở thành một thứ “Mission Impossible.”  Xin hẹn gặp lại các bạn một ngày nào đó ở Cõi Vĩnh Hằng.

GHI CHÚ:

1. Anh Tư tôi tên Lâm Vĩnh-Tế, sinh năm 1939 và mất năm 2000, thọ 60 tuổi. Sau khi đậu Tú Tài 2 chương trình Pháp (1958), và 2 chứng chỉ (MPC = Mathématiques – Physique – Chimie = Toán-Lý-Hóa và Chimie Générale = Hóa Học Đai Cương) của Đại Học Khoa Học Sài Gòn, Hè 1960, anh được học bổng của Kế Hoạch Colombo (Colomo Plan) đi du học tại Canada.  Anh đã đậu bằng Tiến Sĩ về Hóa Hoc (PhD in Chemistry), và day học ở Montréal cho đến khi mãn phần.

2. Lâm Vĩnh-Thế.  Các Thầy Cô của tôi ở Petrus Ký, tài liệu trực tuyến, có thể đọc tại địa chỉ Internet sau đâyhttps://petruskyaus.net/cac-thay-co-cua-toi-o-petrus-ky-vinh-nhon-lam-vinh-the/ 

3. Lâm Vĩnh-Thế.  Bạn tôi: Giáo Sư Toán Huỳnh Hữu Thế, tài liệu trực tuyến, có thể đọc tại địa chỉ Internet sau đây:  https://petruskyaus.net/ban-toi-giao-su-toan-huynh-huu-the-lam-vinh-the/ 

4. Lâm Vĩnh-Thế.  Bạn tôi: Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Đinh Xuân Lãm, tài liệu trực tuyến, có thể đọc tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/ban-toi-thieu-ta-tqlc-dinh-xuan-lam-lam-vinh-the/

5. Lâm Vĩnh-Thế.  Tình bạn giữa Hải và tôi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/tinh-ban-giua-hai-va-toi-lam-vinh-the/