Cái Số Làm Cấp Chỉ Huy
Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Librarian Emeritus
Đại Hoc Saskatchewan
CANADA
Tôi là đứa con út trong gia đình. Ba Mẹ tôi sinh được tất cả 8 người con: 3 trai và 5 gái. Bốn người con lớn đều mất sớm. Ba người chị lớn, Chi Ba Sương, Chị Tư Thu, và Chị Năm Diệu, mất trong cùng một năm, lúc tôi chưa sinh ra, chỉ cách nhau trong vòng vài ba tháng, có lẽ vì bệnh đau màng óc (tiếng Pháp là Méningite, tiếng Anh là Meningitis) là một bệnh truyền nhiểm và không có thuốc chửa vào thời gian đó). Người con cả, Anh Hai Tường, mất năm 1944, lúc được độ trên 20 tưổi, và lúc đó tôi mới được có 3 tuổi. Bốn người con nhỏ còn lại đều đã sống được đến tuổi trưởng thành. Mẹ tôi muốn quên đi chuyện đau lòng mất 4 người con lớn, nên đã quyết định coi người con gái lớn còn lại là chị cả và bắt tất cả các con nhỏ còn lại goi là Chị Hai. Do đó bốn chị em tôi gồm: Chị Hai Lâm Nguyệt Anh (1933-2015),[1] Chị Ba Lâm Nguyệt Phương (1936- ), Anh Tư Lâm Vĩnh-Tế (1939-2000), và, tôi Lâm Vĩnh-Thế (1941-).
Hình bốn chị em, từ phải qua: Anh Tư, Chị Hai, Chị Ba, và tác giả (chụp vào ngày sinh nhựt thứ 60 của Anh Tư, 12-12-1999)
Mỗi khi trong nhà có chuyện chị em cần thảo luận với nhau, vì là em Út nên tôi luôn luôn ở vào thế chỉ ngồi nghe thôi, chả dám góp ý gì cả. Nhưng thật không ngờ, sau này, khi ra đời làm việc, tại Việt Nam cũng như tại Canada, tôi lại thường được giữ các chức vụ chỉ huy. Bài viết này là một cố gắng ghi lại những chuyện liên quan tới cái “số làm cấp chỉ huy của tôi,” mà bây giờ, ở tuổi 84 này, tôi vẫn còn nhớ được khá đầy đủ.
Thời Gian Làm Việc Tại Việt Nam
Hội Thư Viện Việt Nam
Sau khi đi du học hai năm tại Hoa Kỳ (1971-1973), và tốt nghiệp Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University), tại thành phố Syracuse, tiểu bang New York, tôi về nước vào cuối tháng 5-1973, với bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS).
Đầu năm 1974, tại Đại Hội Thường Niên của Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN), tôi đã ra ứng cử và đắc cử chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành cho nhiệm kỳ 1974:
Bản Tin (Hội Thư Viện Việt Nam), số 1 (Tháng 3-1974), tr. 1.
Bản Tin (Hội Thư Viện Việt Nam), số 1 (Tháng 3-1974), tr. 4.
Với tư cách Chủ Tịch Ban Chấp Hành, tôi đã góp phần quan trọng trong việc phát triển HTVVN trong nhiệm kỳ 1974 và, nhờ vậy, tôi đã được các hội viên bầu lại với một đa số phiếu rất lớn vào đầu năm 1975; rất tiếc tôi đã không hoàn tất được nhiệm kỳ thứ nhì này vì biến cố 30-4-1975.
Khi bắt đầu nhiệm kỳ 1974, đại diện Ban Chấp Hành, tôi đã kêu gọi sự tiếp tay của toàn thể hội viên trong việc phát triển Hội như sau:
Trích: Lá Thư Chủ Tịch, Bản Tin (Hội Thư Viện Việt Nam), số 1 (Tháng 3-1974), tr. 1
Toàn thể hội viên đã tích cực hưởng ứng và, nhờ vậy, HTVVN đã thực hiện thành công một số dự án công tác rất quan trọng, trong đó có hai khóa huấn luyện căn bản thư viện học cho hội viên.[2] Lễ Khai Giảng và Bế Giảng, của cả hai khóa huấn luyện đã được tổ chức rất trọng thể, tại Giảng Đường chính của Viện Đại Học Vạn Hạnh, dưới quyền chủ tọa của vị Thứ Trưởng Đặc Trách Văn Hóa của Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên, và có sự tham dự của đại điện của tất cả các hội đoàn văn hóa công và tư tại thủ đô Sài Gòn.
Giáo Sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Đặc Trách Văn Hóa đọc diễn văn tại Lễ Khai Giảng Khóa Huấn Luyện
Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, trao chứng chỉ tốt nghiệp cho học viên tại Lễ Bế Giảng Khóa Huấn Luyện
Tiệc trà tại Câu Lạc Bộ của Viện Đại Học Vạn Hạnh sau Lể Bế Giảng Khóa Huấn Luyện
Nhờ các hoạt động này, vị trí và thế đứng của HTVVN trong cộng đồng các hội đoàn văn hóa công và tư tại thủ đô Sài Gòn đã được nâng cao lên rất nhiều.
Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục
Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐVHGD) là một cơ quan hiến định do Hiến Pháp 1967 của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) quy định tại hai Điều 93 và 94, trong đó Điều 93.1 ghi rõ nhiệm vụ của HĐVHGD là như sau:
“Hội đồng Văn hóa giáo dục có nhiệm vụ cố vấn Chánh phủ soạn thảo và thực thi chánh sách Văn hóa giáo dục.”[3]
HĐVHGD gồm 60 Hội Viện, 20 người do Tổng Thống chỉ định và 40 người do các hội đoàn văn hóa công và tư cùng với các hiệp hội phụ huynh học sinh bầu ra. Các hội đoàn văn hóa tư, tổng số là 15, trong đó có HTVVN, được bầu ra 8 Hội Viên. Ban Chấp Hành HTVVN quyết định cử Cụ Nguyễn Hùng Cường, Cố Vấn của Hội, một quản thủ thư viện kỳ cựu nay đã nghỉ hưu, đã từng phục vụ tại Thư Viện Đông Dương tại Hà Nội trong thời Pháp thuộc, nguyên Phó Giám Đốc Thư Viện Quốc Gia của VNCH, làm đại diện cho Hội ra tranh cử vào HĐVHGD. Cụ Cường đã từ chối không nhận việc đề cử này với lý do sức khỏe, và Ban Chấp Hành đã đề cử tôi, đương kim Chủ Tịch Hội, ra tranh cử.
Với sự ủng hộ mạnh mẽ của các hội đoàn văn hóa tư, tôi đã đắc cử vào HĐVHGD, nhiệm kỳ 2 (1974-1977), với số phiếu cao nhứt là 13 trên 15 phiếu bầu.[4]
Tại phiên họp khoáng đai đầu tiên của nhiệm kỳ 2 của HĐVHGD, dưới sự chủ tọa của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương (theo Điều 66 của Hiến Pháp 1967 của VNCH, Phó Tổng Thống đương nhiên là Chủ Tịch của HĐVHGD), tôi đã được các vị đồng viện bầu vào chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Văn Hóa Giáo Dục Đại Chúng,là một trong 8 Ủy Ban Chuyên Môn của Hội Đồng. HĐVHGD có một cơ cấu gọi là Hội Đồng Các Chủ Tịch với nhiệm vụ thảo luận và đề ra chương trình hoạt động của Hội Đồng, và trong nhiệm kỳ 2 này, có thành phần nhân sự như sau:
• Chủ Tịch: Phó Tổng Thống VNCH, Cụ Trần Văn Hương
• Hai vị Phó Chủ Tịch:
° Phó Chủ Tịch Đặc Trách Văn Hóa: Ông Đỗ Văn Rở, Thứ Trưởng Đặc Trách Văn Hóa của Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên
° Phó Chủ Tịch Đặc Trách Giáo Dục: Giáo Sư Trần Văn Tấn, Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, kiêm Khoa Trưởng, Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn
• Tổng Thư Ký: Kỹ Sư Lê Văn Danh, Tổng Thư Ký Bộ Giao Thông Công Chánh
• Phó Tổng Thư Ký: Giáo sư Võ Văn Bé, Giáo Sư Trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho
• Tám vị Chủ Tịch của 8 Ủy Ban Chuyên Môn
Với tư cách là Chủ Tịch Ủy Ban Văn Hóa Giáo Dục Đại Chúng, một trong 8 Ủy Ban Chuyên Môn, tôi đương nhiên là một thành viên của Hội Đồng Các Chủ Tịch, và là thành viên trẻ tuổi nhứt vì lúc đó tôi mới được 33 tuổi.
Ban Thư Viện Học, Đại Học Vạn Hạnh
Một thành quả rất quan trọng của việc phát triển ngành thư viện tại VNCH lúc đó là việc thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH) đầu tiên của Miền Nam tại Viện Đại Học Vạn Hạnh.
“Nhận thấy rõ khả năng chuyên môn cũng như tinh thần hoạt động bất vụ lợi của Ban Chấp Hành HTVVN, rất phù hợp với tôn chỉ của Viện Ðại Học Vạn Hạnh (ĐHVH), Giáo sư Ðoàn Viết Hoạt, Phụ Tá Viện Trưởng Ðặc Trách Học Vụ, đã yêu cầu Ban Chấp Hành HTVVN nghiên cứu và thuyết trình cho Hội Ðồng Viện một dự án thiết lập BTVH cho ÐHVH. Ngày 30-4-1974, tôi đã đại diện Ban Chấp Hành HTVVN thuyết trình trước Hội Ðồng Viện về dự án nầy và dự án đã được Hội Ðồng Viện đồng thanh chấp thuận. BTVH được chính thức thành lập như một Ban của Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, ÐHVH, và tôi đã được cử nhiệm làm Trưởng Ban đầu tiên.” [5]
BTVH, với 70 sinh viên ghi danh, đã khai giảng học kỳ đầu tiên vào đầu niên khóa 1974-1975 với Ban Giảng Huấn và các giáo trình như sau:
• Giáo Sư Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I
• Giáo Sư Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện
• Giáo Sư Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu
• Giáo Sư Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện
Học kỳ thứ nhì, khai giảng vào đầu năm 1975, với Ban Giảng Huấn và các giáo trình như sau:
• Giáo Sư Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II
• Giáo Sư Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn
• Giáo Sư Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát
• Giáo Sư Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I
đã không hoàn tất được vì biến cố ngày 30-4-1975. Thật đáng tiếc vì do biến cố bi thảm đó, BTVH của Đại Học Vạn Hạnh đã chết non, không đào tạo được một Cử Nhân Thư Viện Học nào cho VNCH cả.
Thời Gian Làm Việc Tại Canada
Việc Làm Chuyên Môn Đầu Tiên Tại Canada
Tháng 9-1981, tôi mang gia đình rời Việt Nam, đi định cư tại Canada do Anh Tư tôi bảo lãnh. Trong lúc đang làm lao động ban đêm, từ 4 giờ chiều cho đến 12 giờ khuya, trong một kho hàng tai Montréal, tôi đã nộp đơn xin dự tuyển, và, rất may mắn, tôi đã được nhận cho làm một công việc đúng ngành chuyên môn về thư viện tại Ottawa, thủ đô của Canada, tuy đó chỉ là một công việc làm hợp đồng (contract job) trong một năm, ký kết với một công ty chuyên tìm việc làm (employment services) có tên là Sharon Professional Services (SPS), với công việc làm tại Thư Viện Trung Ương của Bộ Canh Nông (Central Library, Agriculture Canada), trong một năm, từ ngày 1-4-1982 đến hết ngày 31-3-1983, theo đúng tài khóa (fiscal year) 1983-1984 của Chính Phủ Liên Bang.[6]
Điều hoàn toàn bất ngờ đối với tôi là đó lại là một chức vụ chỉ huy của một toán gồm 3 người: tôi là Trưởng Toán (Team Leader), 1 cô Junior Librarian mới tốt nghiệp Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học McGill ở Montréal (School of Library Science, McGill University, Montreal) với bằng MLS, và 1 cô Library Technician đã tốt nghiệp từ một trường đại học cộng đồng hệ 3 năm (tức là loại trường có Chương trình Co-op, vừa học vừa làm).
Tôi vẫn còn nhớ một chi tiết vui vui như sau: sau khi đã được SPS nhận rồi, tôi nhờ Bà Renée Staples, Trưởng Phòng Nhân Viên của SPS (Manager, Human Resources Department, SPS), chở tôi ra bến xe buýt Ottawa để lấy chuyến xe trở về Montréal. Thật bất ngờ, Bà Staples nói cho biết là Bà còn cần tôi ở lại để phỏng vấn (interview) hai nhân viên trong toán. Tôi hoảng quá, phải năn nỉ Bà làm giúp tôi việc phỏng vấn đó (hơn nữa, thật tình mà nói, lúc đó tôi có biết gì đâu mà phỏng vấn người ta) và cho Bà biết tôi phải trở về Montréal ngay để còn kịp đi làm cái job lao động đó lúc 4 giờ, vì tôi chưa có xin nghỉ việc ở đó. Để Bà Staples yên tâm, tôi nói ngay là tôi sẵn sàng chấp nhận bất cứ người nào mà Bà nhận. Thiệt là hú hồn.
Làm Việc Tại Canadian Centre for Occupational Health and Safety
Sau khi làm xong công việc hợp đồng trong một năm tại Bộ Canh Nông vào cuối tháng 3-1983, tôi đã phải trải qua hơn một năm lận đận, có lúc hưởng trợ cấp thất nghiệp vì không tìm được việc làm, có lúc làm các công việc hợp đồng ngắn hạn, có khi chỉ có một tháng.
Tháng 7-1984, một hôm đọc tờ nhật báo The Globe and Mail tôi thấy có một thông cáo tuyển nhân viên của một cơ quan của Chính Phủ Liên Bang Canada, tại thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, chuyên cung cấp thông tin về an toàn lao động, có tên là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS) = Centre canadien d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST). Cơ quan cần tuyển một lúc 5 nhân viên, một chuyện rất hiếm có, cho bộ phận Documentation Services của họ, gồm có:
• 1 Manager cho đơn vị Online Catalogue (Thư Mục Trực Tuyến)
• 3 Cataloguer (Biên Mục Viên = BMV):
° 1 Inventory Cataloguer (BMV Kiểm Kê)
° 1 Canadiana Cataloguer (BMV Tài Liệu về Canada)
° 1 Subject Cataloguer (BMV Môn Loại)
• 1 Physical Hazards Information Scientist (Chuyên viên Thông Tin về An Toàn Vật Lý)
Thông cáo tuyển nhân viên của CCOHS trên báo The Globe and Mail
Tôi gởi đơn ngay lập tức xin tuyển dụng cho chức vụ Inventory Cataloguer là chức vụ thấp nhứt trong 3 chức vụ Cataloguer vì tôi nghĩ rằng mình chưa có nhiều kinh nghiệm, mới ở Canada chưa đến 3 năm và, hơn nữa, chưa có quốc tịch Canada.
Ngày 15-8-1984, tôi được CCOHS mời đến phỏng vấn và ngày 23-8-1984 cơ quan CCOHS gởi văn thư chính thức nhận tôi làm Inventory Cataloguer với lương năm là $27.491 đô la Canada:
Văn thư của CCOHS nhận tôi vào làm Inventory Cataloguer
Tôi hết sức vui mừng vì đây là một công việc của một cơ quan liên bang, việc làm ổn định, thường trực (permanent job) và toàn thời gian (full-time job), với lương năm trên $27.000 đô la là khá cao tại thời điểm đó (vào năm 1984, cách đây 40 năm, giá 1 chiếc xe hơi Nhật loại Honda Civic chỉ có khoảng $5.000 đô la mà thôi), và với rất nhiều phúc lợi (benefits). Tôi thật sự yên tâm và cố gắng làm tốt công việc này, ước mong được tiếp tục làm cho đến ngày về hưu.
Trở Thành Cấp Chỉ Huy Tại CCOHS
Sau khi làm việc được hơn nữa năm, Cơ quan CCOHS đăng báo tuyển lại chức vụ Manager, Online Catalogue vì năm trước họ đã không tuyển được người cho chức vụ này. Một buổi sáng, Bà Marilyn Moore, Giám Đốc bộ phận Documentation Services, vào phòng làm việc của tôi và hỏi tôi tại sao không nộp đơn xin dự tuyển chức vụ đó. Tôi thành thật trả lời Bà là vì hai lý do: 1) Tôi chưa làm xong thời hạn một năm thử thách (one-year probation period) của chức vụ Inventory Cataloguer như có ghi rõ trong văn thư chính thức của CCOHS lúc nhận tôi; và, 2) Tôi nghĩ rằng tôi chưa đủ khả năng đảm nhận chức vụ chỉ huy đó. Bà Moore cười vui vẻ và nói rất rõ ràng như sau: “You don’t have to worry about that. That’s my problem, not yours. Please throw in your application.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ: “Anh không phải lo cái chuyện đó. Đó là chuyện của tôi, không phải chuyện của anh. Cứ nộp đơn đi.”).
Nghe lời khuyên của Bà Moore, tôi nộp đơn dự tuyển chức vụ Manager, Online Catalogue, được phỏng vấn ngày 10-6-1985, và ngày 14-6-1985 tôi nhận được văn thư chính thức của CCOHS báo cho biết tôi đã trúng tuyển, với lương năm tăng lên thành $31.977 đô la Canada:
Văn thư chính thức của CCOHS nhận tôi làm Manager, Online Catalogue
Chuyện Đời Khó Biết Trước: Trải Nghiệm Tái Ông Thất Mã
Ban (Department) Online Catalogue, kể cả tôi, gồm tất cả 11 người:
• 1 Trưởng Ban (Manager, Department Head)
• 4 Quản thủ thư viện – Biên mục viên (Librarian-Cataloguer, phụ trách công tác biên mục và phân loại tài liệu, thực hiện các ký lục thư tịch (bibliographic records))
• 5 Nhân Viên Trung Cấp (Library Technician, phụ trách công tác đưa các ký lục thư tịch vào máy vi tính — Data Entry, trong đó có 1 người làm Supervisor)
• 1 Thư Ký
Tôi làm cho CCOHS được khoảng hơn 9 năm, 1984-1992, và lần lượt trải qua các chức vụ chỉ huy như sau:
• Manager, Department of Online Catalogue, 1985-1986
• Manager, Department of Database Development, 1986-1990
• Manager, Department of Database and Information Resource Development, 1990-1992
Trong thời gian làm việc cho, CCOHS, tôi luôn luôn được cấp trên đánh giá rất tốt, hàng năm tôi đều được xếp vào hạng Superior Performance, và lên lương hai bậc. Nhờ vậy, trong vòng chưa đến 10 năm, lương năm của tôi đã tăng lên từ $27.491 đến $71.259:
Văn thư chính thức của CCOHS về lương bổng vào ngày 19-12-1991
Nhưng quả thật đúng như Ông Bà mình thường dạy con cháu từ bao nhiêu thế hệ, chuyện đời khó nói trước được. Cơ quan CCOHS đang phát triển thật tốt đẹp, đã sản xuất được các đĩa CD-ROM goi là CCINFdisc, bán ra khắp thế giới, thu được hàng triệu đô la hàng năm. Đùng một cái, do thủ đoạn chính trị đảng phái bẩn thỉu, CCOHS bị Chính phủ của Đảng Bảo Thủ phá hoại không thương tiếc.
“CCOHS đã được thành lập vào năm 1978 đo đạo luật Canadian Centre for Occupational Health and Safety Act được Quốc Hội Canada Nhiệm Kỳ Thứ 30 thông qua trong thời gian Đảng Tự Do đang cầm quyền. Năm 1990 đã là Quốc Hội Canada Nhiệm Kỳ Thứ 34, và chính phủ đang cầm quyền là của Đảng Bảo Thủ. Do chủ trương đối lập mù quáng về chính trị, chính phủ Bảo Thủ không có cảm tình với CCOHS vốn là một cơ quan do Đảng Tự Do thành lập, nên đã quyết định tìm cách gây khó khăn cho CCOHS. Với lý do là CCOHS nay đã có khả năng kiếm được tiền, chính phủ đã ra lệnh cho CCOHS phải hoàn toàn tự túc trong vòng 3 năm tới, nghĩa là sẽ không còn được ngân sách của chính phủ liên bang đài thọ nữa, và ngay lập tức ngân sách bị cắt liền phân nửa. Trong khi ban điều hành của CCOHS còn đang lúng túng chưa tìm được cách đối phó với tình hình ngân sách bị cắt giảm nghiêm trọng như vậy, thì chính phủ Bảo Thủ thực hiện ngay hành động can thiệp chính trị là cách chức Tiến sĩ Gordon Atherley, vị Chủ Tịch của CCOHS, một chuyên gia về sức khỏe và an toàn lao động nổi tiếng và được kính nể khắp thế giới, đồng thời bổ nhiệm một Chủ Tịch mới là một quân nhân hoàn toàn không có kiến thức gì hết về ngành sức khỏe và an toàn lao động cũng như quản trị về tài chánh. Ông tân Chủ Tịch này đã chọn cách giải quyết đơn giản nhứt. Sử dụng cách chỉ huy theo kiểu nhà binh, ông áp đặt cho các vị giám đốc của các khối tại CCOHS là mỗi khối phải tìm mọi cách kiếm tiền để lấp vào ngân sách hàng năm 12 triệu đô la của CCOHS. Gần như tất cả các vị giám đốc, kể cả Bà Wendy Newman, không còn sự lựa chọn nào khác hơn là từ chức và rời cơ quan. Kế tiếp, ông tân Chủ Tịch này nhắm vào các vị trưởng ban. Mỗi tuần ông cho nghỉ việc 3 hay 4 vị trưởng ban. Tôi bị cho nghỉ việc vào ngày 30-9-1992 cùng ngày với 3 vị trưởng ban khác. Trong vòng 2 tháng, ông tân Chủ Tịch đã thành công trong việc xóa sạch sơ đồ tổ chức của CCOHS, không còn các khối, các ban, các giám đốc, các trưởng ban gì nữa hết. Bây giờ chỉ còn các toán phụ trách từng dự án ngắn hạn, và sẽ giải tán khi dự án thực hiện xong. Vì trong suốt thời gian 8 năm làm việc tại CCOHS, tôi đã luôn luôn được đánh giá cao và cho điểm ưu, tôi đã có ý định nếu bị cho nghỉ việc thì tôi sẽ kiện CCOHS với lý do là bị đối xử bất công. Nhưng khi vụ việc xảy ra thì tôi đã bỏ ý định kiện tụng đó vì, hình như đã đoán trước việc thưa kiện (mà chắc chắn CCOHS sẽ thua kiện), ông tân Chủ Tịch đã quyết định trả cho tôi một số tiền bồi thường bằng 8 tháng lương (tức là 1 tháng lương cho 1 năm làm việc). Tuy nhiên, tôi vẫn bị thiệt hại rất nặng nề vì tiền hưu của tôi bị cắt bỏ với lý do là tôi chưa có đủ 10 năm công vụ. Tôi chỉ nhận lại được phần tiền tôi đã đóng góp trong 8 năm đó cho quỹ hưu bổng của liên bang. Lúc đó tôi đã 51 tuổi và bị rơi vào hoàn cảnh không có việc làm nghĩa là không có một lợi tức cố định, và quan trọng hơn nữa, tôi vừa mới trả góp tiền nhà được có 4 năm. Tôi rời khỏi CCOHS và lòng buồn vô cùng vì tôi nghĩ rằng mình đã bị đối xử rất bất công, mình đã là nạn nhân của một đòn phép chính trị đảng phái, và, trên hết, tất cả mọi việc xảy ra hoàn toàn đi ngược lại những giá trị nhân bản của đất nước Canada và bản chất lương thiện và đôn hậu của người dân Canada.” [7]
Sau khi mất việc tại Cơ quan CCOHS, một công việc làm với lương cao, nhiều phúc lợi, phải đối diện với một tương lai khá đen tối, ở tuổi trên 50, không dễ gì tìm được một công việc làm tương đương khác, tôi thật sự rất buồn lo. Và trên thực tế, tôi đã phải trải qua 5 năm trời lận đận. Nhưng rồi, cũng như trong chuyện “Tái Ông Thất Mã,” tôi đã tìm được một công việc khác tốt hơn rất nhiều tại Viện Đại Học Saskatchewan, ở thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan, trong vùng Đại Bình Nguyên của Canada (Canadian Grand Prairie) vào đầu tháng 9-1997.[8]
Làm Cấp Chỉ Huy Tại Viện Đại Học Saskatchewan
Ngày 2-9-1997, ngay sau Lễ Lao Động, tôi chính thức đảm nhận chức vụ Trưởng Ban Biên Mục (Head, Cataloguing Department) của Thư viện Viện Đại Học Saskatchewan, với tổng số nhân viên, kể cả tôi, là 22 người như sau:
• 1 trưởng Ban
• 3 quản thủ thư viện – biên mục viên (librarian-cataloguer), tốt nghiệp từ các trường thư viện học với bằng MLS như tôi
• 18 nhân viên trung cấp (library technician) tốt nghiệp từ các chương trình đào tạo nhân viên trung cấp về thư viện (library technician programs) của các trường đại học cộng đồng (community colleges)
° 3 trưởng toán (supervisors) ở bậc 5
° 15 nhân viên trung cấp ở bậc 4
Sau ba năm thử thách (3-year probation period, 1997-2000), tôi chính thức vào biên chế của Đại Học Saskatchewan (tenure), với ngạch trật là Quản Thủ Thư Viện Hạng 3 (Librarian III). Ngày 10-1-2000, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ (Vice-President, Academic Affairs), và cũng là Chủ Tịch Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học (Chairman, University Review Committee), thông báo về việc này như sau:
“The University Review Committee has concluded its consideration of recommendations for tenure. I am pleased to advise you that the Committee voted to recommend to the Board of Governors that you be granted permanent status effective 1 July 2000. The award of tenure is an extremely important step for both you and the university. In addition to being an important stage in your own career development, the awarding of tenure represents the University’s long-term commitment to you in recognition of the satisfactory performance of your duties during your first years at the University of Saskatchewan.” [9]
Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học đã xem xét khuyến cáo cho ông vào biên chế thường trực và đã có kết luận. Tôi rất vui mừng thông báo cho ông là Ủy Ban đã bỏ phiếu tán thành và sẽ khuyến cáo lên Hội Đồng Quản Trị của Viện Đại Học để ông được vào biên chế thường trực kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2000. Việc ban tặng quy chế thường trực là một bước tiến vô cùng quan trọng đối với ông cũng như đối với Viên Đại Học. Ngoài việc thể hiện một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của ông, việc ban tặng đó còn thể hiện sự cam kết lâu dài của Viện Đại Học đối với ông qua việc công nhận ông đã công tác tốt trong những năm đầu tiên tại Đại Học Saskatchewan)
Vài tuần lễ sau đó, tôi được Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC) thăng cấp lên làm Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division), phụ trách cả 2 Ban là Ban Biên Mục (Cataloguing Department), và Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department), là Khối lớn nhứt của Thư Viện với tổng số nhân viên lên đến 44 người (Biên Mục 22 nhân viên, và Thủ Đắc cũng 22 nhân viên). Tôi đương nhiên trở thành một thành viên thường trực của LMC.
Thăng Cấp Lên Bậc 4
Hai năm sau, tôi thăng cấp lên Bậc 4 là bậc cao nhứt của ngạch quản thủ thư viện đại học (academic librarians), và ngày 20-3-2002, một lần nữa, tôi lại nhận được văn thư chính thức của Tiến Sĩ Michael Atkinson như sau:
“On behalf of the University Review Committee, I am pleased to inform you that the Committee has recommended to the Board of Governors that you be promoted to the rank of Librarian IV effective July 1, 2002. Congratulations! You should receive a letter from the Board of Governors later this month. The documentation provided supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date. Our recommendation to the Board of Governors is a vote of confidence in you as a senior member of the university community and in your continuing contribution to the academic life and vitality of the University of Saskatchewan.” [10]
Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thay mặt Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học, tôi vui mừng báo tin cho ông là Ủy Ban đã khuyến cáo với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học để ông được thăng cấp lên Quản Thủ Thư Viện Bậc IV kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2002. Xin chúc mừng ông! Ông sẽ nhận được văn thư của Hội Đồng Quản Trị vào cuối tháng này. Hồ sơ đã được đệ trình để hỗ trợ cho trường hợp của ông đã chứng minh rằng các đồng nghiệp của ông tại trường cũng như từ khắp Canada, và cả quốc tế, đã công nhận những thành quả mà ông đã đạt được cho đến ngày hôm nay. Khuyến cáo của chúng tôi với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học là một lá phiếu xác nhận sự tin tưởng của chúng tôi đối với ông với tư cách là một thành viên cao cấp của cộng đồng đại học, và đối với sự tiếp tục đóng góp của ông cho sự nghiệp và sức sống của Đại Học Saskatchewan.”
Nghỉ Phép Đi Làm Nghiên Cứu (Sabbatical Leave)
“Theo hợp đồng ký kết giữa nghiệp đoàn giáo chức và Đại Học, các giáo sư của Trường đã vào biên chế thường trực có quyền nghỉ phép (có hưởng lương) để đi làm công tác nghiên cứu (Sabbatical Leave) theo quy định như sau: 1) Nghỉ phép 6 tháng (hưởng 100% lương) sau mỗi 3 năm công tác; và, 2) Nghỉ phép trọn một năm (hưởng 80% lương) sau mỗi 6 năm công tác. Tôi đã quyết định nghỉ trọn một năm, từ ngày 1-7-2003 cho đến hết ngày 30-6-2004. Trong đơn xin nghỉ phép, tôi đề nghị một chương trình nghiên cứu gồm 2 dự án như sau: • Dự án thứ nhứt: làm một cuộc nghiên cứu về vấn đề “Kiểm Tra Phẩm Chất trong Công Tác Biên Mục Tại Ngoại tại Các Thư Viện Đại Học Của Bắc Mỹ.” • Dự án thứ nhì: thực hiện cho Thư Viện Đại Học Saskatchewan một “Cơ Sở Dữ Liệu Trực Tuyến Trên Web Các Tài Liệu Đã Giải Mật Trong Khoảng Thời Gian 1975 2000 Của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ Về Chiến Tranh Việt Nam.” Vào ngày 28-10-2002, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến sĩ Mark Evered, Vice-Provost, và cũng là Chủ Tịch của Ủy Ban Nghỉ Phép Đi Làm Nghiên Cứu (Sabbatical Leave Committee), thông báo là Ủy Ban đã chấp thuận cho tôi được nghỉ phép. Trong thời gian nghỉ phép một năm này, tôi đã thành công, hoàn tất được cả hai dự án nghiên cứu, và kết quả của hai dự án nghiên cứu này đã được tôi viết thành hai bài báo, một cho tạp chí Cataloging & classification quarterly, và một cho tạp chí Online.” [11, 12, 13]
Thôi Không Làm Cấp Chỉ Huy Nữa
Trước khi đi nghỉ phép Sabbatical Leave, tôi đã gởi một văn thư cho ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện của Đại Học Saskatchewan, và trình bày cho ông biết ý định của tôi là sẽ xin thôi không giữ các chức vụ chỉ huy nữa sau khi trở về trường vào đầu tháng 7 năm 2004, và tôi sẽ dành hai năm còn lại trước khi nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006 làm việc với chức vụ Original Cataloguer:
M E M O R A N D U M
To Frank Winter, Director of Library
cc David Fox, Acting Associate Director of Library for Technical Services
From Vinh-The Lam, Head, Technical Services Division & Cataloguing
Department
Date 15 June 2003
RE: Request for Reassignment of Duties
__________________________________________________
As I am about to take 0ne-Year Sabbatical Leave, I would like you to consider my request for a reassignment of duties when I come back:
1. I have expressed to you some time ago my intention to step down from my position as Head of both Technical Services Division and Cataloguing Department. I would like to ask that you consider it now. The main reason for this is my age. I am now 62 years old and I am planning to retire at 65, i.e., in 3 years, specifically on July 1, 2006. My stepping down will give you much needed time to find someone to replace me.
2. I would like to continue to make contributions to University of Saskatchewan Library as an Original Cataloguer. I strongly believe that I can provide good original cataloguing services in many areas in social sciences, such as, Education, Law, Human Rights, Labour Relations, Occupational Health & Safety, History, Geography, Area Studies and Political Studies. I could also provide original cataloguing for Special Collections and Gifts materials (there is a quite large volume of them) as well as electronic resources, especially Web documents. I would also not rule out the possibility of making contributions to the various digitization projects that are being undertaken by University of Saskatchewan Library.
Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau:
VĂN THƯ
Kính gởi: Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện
cc David Fox, Quyền Phó Giám Đốc Thư Viện, Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật
Người gởi: Vinh-The Lam, Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật và Ban Biên Mục
Ngày 15 Tháng 6 Năm 2003
Về việc Xin Chuyễn Công Tác
__________________________________________
Trước khi đi nghỉ phép một năm để đi làm nghiên cứu, tôi kính xin Ông Giám Đốc cứu xét đề nghị được chuyển công tác của tôi.
1. Nhiều lần trước đây tôi đã ngỏ ý cho ông biết là tôi có ý định xin thôi không làm nữa các chức vụ Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật và Trưởng Ban Biên Mục. Bây giờ tôi xin ông cứu xét yêu cầu đó của tôi. Lý do chính của việc này là tuổi tác của tôi: hiện nay tôi đã 62 tuổi và tôi đang lên kế hoạch để nghỉ hưu vào năm 65 tuổi, tức là 3 năm nữa, cụ thể là ngày 1-7-2006. Việc xin thôi này sẽ giúp ông có thời gian cần thiết để tìm người thay tôi.
2. Tôi muốn tiếp tục đóng góp cho Thư Viện của Đại Học Saskatchewan với chức vụ Biên Mục Viên Nguyên Thủy. Tôi tin chắc là tôi có thể cung cấp dịch vụ biên mục nguyên thủy [14] cho các tài liệu thuộc các bộ môn khoa học xã hội như là Giáo Dục, Luật Pháp, Nhân Quyền, Quan Hệ Lao Động, An Toàn Lao Động, Sử Ký, Địa Lý, Nghiên Cứu Vùng, và Chính Trị Học. Tôi cũng có thể cung cấp dịch vụ biên mục nguyên thủy cho các tài liệu thuộc Sưu Tập Đặc Biệt và các Tài liệu mà thư viện được trao tặng, cũng như các tài nguyên điện tử, nhứt là các tài liệu trên Mạng Internet. Tôi cũng không loại bỏ khả năng có thể đóng góp vào các dự án số-hóa mà Thư Viện Đại Học Saskatchewan đang thực hiện.
Công Tác Trước Khi Nghỉ Hưu
Đề nghị chuyển công tác trong văn thư vừa kể trên đã được Ông Frank Winter chấp thuận. Do đó, khi trở về trường sau một năm nghỉ phép Sabbatical Leave vào ngày 1-7-2004, tôi hoàn toàn không còn nắm các chức vụ chỉ huy trong Thư Viện nữa. Tôi chỉ làm một Biên Mục Viên chịu trách nhiệm về công tác biên mục nguyên thủy cho các tài liệu đặc biệt trong Thư viện trong hai năm cho đến lúc nghỉ hưu vào ngày 1-6-2006.
Thay Lời Kết
Dù muốn hay không, phần số của tôi là phải đảm nhận các chức vụ chỉ huy, trong lúc làm việc tại Việt Nam, cũng như sau khi đã định cư tại Canada. Trong cuộc đời đi làm 41 năm của tôi (1963-2006, không kể 2 năm đi du học tại Hoa Kỳ 1971-1973), tính ra tôi đã làm cấp chỉ huy trong 23 năm như sau:
• Tại Việt Nam: 8 năm (1973-1981)
• Tại Canada: 15 năm:
° Tại tỉnh bang Ontario: 9 năm, 1982-1983, và 1984-1992
° Tại tỉnh bang Saskatchewan: 6 năm, 1997-2003
Có thể nói 3 năm cuối cùng trong cuộc đời đi làm, trước khi nghỉ hưu, 2003-2006, là khoảng thời gian tôi cảm thấy vui thích và thoải mái nhứt. Năm đầu tiên, 2003-2004, tôi nghỉ Sabbatical Leave đi làm nghiên cứu hai đề tài mà tôi rất thích thú, giúp tôi có thêm được hai bài viết được đăng trong hai tạp chí chuyên môn của Hoa Kỳ. Hai năm cuối, 2004-2006, tôi chỉ làm công tác biên mục nguyên thủy cho các tài liệu đặc biệt của thư viện, một công việc mà tôi đã từng được đào tạo chuyên sâu trong thời gian hai năm theo học ngành thư viện tại Đại Học Syracuse, New York, Hoa Kỳ.
GHI CHÚ:
1. Lâm Vĩnh-Thế. Chị Hai của tôi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com/2024/01/chi-hai-cua-toi_94.html
2. Lâm Vĩnh-Thế. Phát triển thư viện tại Miền Nam trước 1975, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/phat-trien-thu-vien-tai-mien-nam-truoc-1985-lam-vinh-the/
3. Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 – Wikisource tiếng Việt
4. Bản Tin (Hội Thư Viện Việt Nam), số 4 (Tháng 7-1974), tr. 4.
5. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt. San Jose, California: Nhân Ảnh, 2021, tr. 61-62.
6. Lâm Vinh-Thế. Hay không bằng hên, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/hay-khong-bang-hen-lam-vinh-the/
7. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 121-122.
8. Lâm Vĩnh-Thế. Hai trải nghiệm “Tái Ông Thất Mã,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/hai-trai-nghiem-tai-ong-that-ma-lam-vinh-the/
9. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 135-136.
10. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 139.
11. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 141.
12. Vinh-The Lam. Quality control issues in outsourcing cataloging in US and Canadian academic libraries, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com/2021/10/quality-control-issues-in-outsourcing.html
13. Vinh-The Lam and Darryl Friesen. Web-based database of CIA declassified documents on the Vietnam War, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com/2021/10/a-web-based-database-of-cia_25.html
14. Trong ngành Biên Mục, người ta phân biệt hai loại công tác biên mục: biên mục sao chụp (Copy cataloging), và biên mục nguyên thủy (Original cataloging). Biên mục sao chụp do nhân viên trung cấp (library technicians, hay library assistants) thực hiện từ các ký lục thư tịch (bibliographic records), phần lớn là dưới dạng điện tử, đã được làm sẵn rồi, thường là do các thư viên quốc gia của các nước, hay Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (Library of Congress = LC), hay do công ty dịch vụ thư viện OCLC (Online Computer Library Center). Biên mục nguyên thủy là công tác biên mục dành cho các tài liệu không có sẵn ký lục thư tịch, và người biên mục viên nguyên thủy (original cataloger) phải đích thân tự làm ra. Công việc này, do đó, phải được thực hiện bởi các quản thủ thư viện – biên mục viên chuyên nghiệp (professional librarian-cataloger) có bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS).










