Các vị Thầy trường Petrus Ký
Đàm Thiên Trí
Nguồn: Nội san Xuân Ất Hơi, tháng 2/95, Hội Ái Hữu Trung Học Trương Vĩnh Ky, Paris)
Là một học sinh cũ của trường Petrus Ký nghỉ học đã lâu, nhưng mỗi khi có ai nhắc đến trường thì tôi nghĩ ngay đến các thầy cũ như tôi mới vừa nghỉ học gần đây. Thời kỳ đó còn là thời “tôn sư trọng đạo”, ai cũng kính trọng thầy. Tôi vào học với lòng kính cẩn đó. Các thầy đã đem hết khả năng, kinh nghiệm và tâm huyết dạy dỗ học sinh của mình nên người. Tư cách, tài dạy học và tình thương học trò của các thầy là một tấm gương sáng chiếu vào tâm hồn của đám học sinh trẻ. Lúc ấy chiến tranh đang tàn phá dữ dội gây những xáo trộn lớn trong xã hội. Các thầy vẫn điềm tĩnh dạy, giữ cho môn học được trong sáng, không bị vẫn đục vì thời cuộc. Nghĩ không nên khen tặng, đề cao các thầy vì làm như vậy chẳng khác nào “khen phò mã tốt áo” là làm việc dư thừa. Sau này, trải qua không biết bao nhiêu tiếp xúc va chạm với nhiều người, tôi càng thấy các thầy là bậc đáng kính, đáng mến.
Lúc tôi vô học trường Petrus Ký, vào khoảng tháng 4 năm 1946, trường còn tạm mượn chỗ ở trường Taberd Sài-gòn. Học được vài tháng thì bãi trường. Tựu trường tháng 9/1946, trường lại dời về trường đầm Marie Curie, cũng vẫn là chỗ mượn. Mãi đến kỹ tựu trường tháng 9/1948, trường mới trở về Chợ Quán, là trường cũ khi xưa.
Ban đầu, Hiệu trưởng là ông Taillade, sau đó ông Lê văn Kim thay thế. Trường còn một số giáo sư người Pháp như ông Pujarniscle, lúc ấy đã già lắm rồi, ông Marquis, bà Michèle, cô Marie Goubert, ông Losfield (mượn tạm của trường J.J.Rousseau). Có ông Hougron là người Anh.
Giáo sư người Việt thì lúc ở trường Taberd có bà Đôn (phu nhân bác sĩ Đôn), cô Suzanne Võ ngọc Thành, ông Mai. Khi dời đến trường Marie Curie và trở về trường cũ thì mỗi môn đều có giáo sư riêng dạy:
– Môn Toán có: ông Đốc, ông Cang, ông Thử, ông Phương.
– Môn Khoa Học có: ông Hanh, ông Trương văn Huấn, ông Phùng, ông Hưng, ông Tước, ông Trần.
– Môn Việt Văn có: ông Chí, ông Trương, ông Lân, ông Nho.
– Môn Pháp Văn có: ông Hai, ông Phúc, ông Lúa, ông Di.
– Môn vẽ có: ông Cứng, ông An.
– Môn Luân Lý có: ông Mạnh.
– Môn Sử Địa có: ông Lê văn Huấn, bà Dung, ông Toản, ông Gần.
– Môn Thể Thao có: ông Quí, ông Mai, ông Bích.
Còn các thầy giám thị nữa, tôi chỉ nhớ tên do mấy anh học trò rắn mắc hay quấy phá đặt: ông Bàn chải, bác Man-hơ-rơ râu, ông Đê tiện (vì ông hay mắng học trò: đồ đê tiện).
Bây giờ, chắc tôi có quên đi một vài giáo sư. Dù nhớ dù quên, tôi cũng biết ơn các thầy bằng nhau cả.
Hôm nay tôi xin bắt đầu bằng giáo sư Nguyễn văn Cang, dạy Toán năm thứ tư.
Ông Cang rất nóng tánh, trong giờ dạy, mỗi khi ông hét to, cả lớp đều điểng hồn. Tướng người ông thấp, có bề ngang, bụng phệ. Mặt ông vuông, có râu quanh hàm cạo sát, miệng rộng, tóc hớt cao. Ông mang kính trắng, mặc quần tây dài áo sơ mi tay ngắn, đi gậy. Khi đi dạy, ông đi bằng xe xích lô. Mùa mưa ông cặp nách một cây dù đen lớn có cà ngoéo ở cán. Ông đi bệ vệ, ngó chăm bẳm về phía trước.
Lúc chưa lên lớp, tới giờ ra chơi, thấy ông Cang còn đang dạy, chúng tôi đứng ngoài xem. Ông đọc đề bài lẹ như xe lửa, các anh còn đang ngồi học đều le lưỡi lắc đầu. Thấy ông Cang không bao giờ cười, chúng tôi hỏi mấy anh cũ, chừng nào ông cười. Mấy anh ấy nói: tới giữa năm ông mới cười vài tiếng. Nghe ớn quá!.
Khi chúng tôi lên lớp học với ông, trong buổi học đầu tiên, ông cho mười câu hỏi đại số và hình học. Vừa đọc xong đề bài được vài phút thì ông biểu gộp giấy ngay. Kế đó ông biểu mỗi người phải sắm tập vở: 1 quyển tập có cuốn để dán bài tập giấy rời, 1 cuốn tập khổ lớn để vẽ sơ đồ hàm số, một số tập để chép bài học. Ông không đọc bài trong lớp, mỗi người phải mượn tập của mấy anh cũ để chép. Không được chép sách khác. Tập vở phải giử kỹ lưỡng vì ông xét tập và cho điểm. Buổi học sau, ông lấy điểm bài thi trắc nghiệm để xếp chỗ ngồi lại. Người có điểm nhỏ ngồi bàn trước, điểm lớn ngồi bàn sau. Ông Cang nói: “người học yếu như người bịnh, phải ngồi gần ông để cho thuốc nhiều”. Phải giử chỗ ngồi cho tới hết năm học. Ông có bản đồ chỗ ngồi.
Tới lúc giảng bài, ông dạy một hơi gần hết nửa chương trình. Ông dạy chỉ trong thời gian ngắn thì hết bài. Đối với ông, làm cái gì cũng phải cho nhậm lẹ. Lúc đó ông khoảng 50 tuổi nên thường nghỉ dạy vì bịnh hoạn. Có bữa ông nói: “tôi đã già yếu, máy móc có thể bây giờ đã hư sét hết rồi”.
Ông vẽ sơ đồ hàm số đẹp lắm. Trước hết, ông lấy phấn màu viết bằng biến số, vẽ mũi tên lên xuống. Để vẽ những chấm trong sơ đồ, ông gạch một đường thẳng rồi lấy ngón tay thấm nước miếng bôi lên phần từng đoạn để làm thành đường chấm. Vẽ xong ông đứng chóng nạnh xem, tỏ vẽ rất bằng lòng. Nhờ ông dạy, đến cuối năm, anh nào cũng vẽ sơ đồ hàm số đường thẳng, đường cong của hình pa-ra-bôn, hy-péc-bôn rất khéo. Qua thi trung học bên trường Tây, lúc vào vấn đáp, học sinh trường ta vẽ sơ đồ, thầy Pháp khen nức nở.
Lúc ông dạy, cả lớp phải chú ý nghe. Ông giao sổ điểm cho một anh ngồi bàn đầu. Ông đọc một câu hỏi vài lần rồi chỉ đại vào một anh nào đó, nếu anh này đọc suông sẻ thì ông nói “20 điểm”. Còn người nào ấp úng thì tức khắc, ông giơ hai bàn tay ra phía trước lấy hai ngón tay khoanh lại ra dấu “0 điểm”.
Ông dạy bài tập rất ít, hiểu được bài mẫu nào ông cho thì giải được nhiều bài toán khác. Ông biểu về nhà lấy sách toán làm thêm bài tập. Sau khi ông Cang kêu một anh nào lên bảng làm bài tập, nếu vừa nghe đề xong mà anh ấy làm ngay thì ông đứng trên bục giảng hét lớn rồi nhảy xuống tát liền. Ông nói bất cứ bài làm nào cũng phải đọc kỹ đề bài ít nhút là 3 lần, nếu thuộc lòng thì càng tốt. Khi học sinh giải phương trình bậc 2 trên bảng mà ghi dấu bằng đuôi không ngay với dấu bằng trên, ông cũng tát. Tôi cũng bị ông đá đít vì viết dấu căn bậc 2 của một phân số không trùm luôn mẫu số.
Ông Cang dạy rất dễ hiểu. Hình học không gian là một môn trừu tượng mà ông cụ thể hóa được nhiều bài. Ông lấy hai cây thước kẻ cho giao lại để làm thành một mặt phẳng. Ông lấy một tờ giấy tập xoay chung quanh một cạnh để hình thành một khõi hình ống. Khi dạy vẽ hình khối, ông biểu học sinh dán hộp hình lập phương hình tháp… và chấm điểm. Chúng tôi làm biếng dán hộp nên đợi các anh ở lớp được chấm điểm trước xong, đến xin hộp. Lúc đó, mắt ông Cang cũng yếu rồi: có khi cùng một cái hộp mà ông cho anh dán 15 điểm, còn anh xin thì được tới 17 điểm.
Các anh năm trước dặn: ông Cang thích màu mè lắm, phải tô màu cho khéo các tập Cours và bài làm thì được điểm lớn. Có một buổi học, trong lúc chúng tôi đang làm bài, ông di vòng trong lớp và thấy có một anh tô màu tập rực rở. Ông khen hết sức và biểu lấy sổ điểm cho 3 con 20 điểm vào các cột toán. Lúc ấy gần kỳ thi trung học nên ít hôm sau anh ấy nghỉ ở nhà để học ôn. Khi ông điểm danh thấy anh vắng mặt, ông bèn nổi giận vì cho anh ấy cúp cours rồi biểu lấy sổ điểm bôi hết 3 con 20 điểm đã cho.
Lúc dạy học, ông Cang nói nhiều câu ngộ nghĩnh làm học sinh nhớ tới già. Một bữa dạy đại số về số dương, số âm và số đối xứng, ông biểu một anh cho thêm một vài thí dụ về đối xứng. Anh ấy ấp úng trả lời chưa kịp thì ông Cang nói : “như ba má mày là hai người đối xứng”. Giảng về những bài toán có đáp số không hợp lý, phải loại bỏ, như đầu bài hỏi người, mà đáp số là số âm hay phân số chẳng hạn. Ông hỏi: “nếu cho tụi bây chọn một khúc của một phụ nữ bị chặt ngang làm đôi, tụi bầy lấy khúc nào?”. Dạy hình học không gian tới bài phép xoay quanh một trục, ông vẽ một đường thẳng đứng và một đường cong kế bên, ông đứng ngắm rồi chỉ đường cong nói: “đây là xương sống của chị dâu tụi bây”. Ông vẽ tiếp, khi xoay hai điểm ở đầu đường cong tạo thành hai hình tròn còn đường cong thì tạo thành diện tích ngang của hình khối. Có lần ông gọi một bạn lên bảng, tôi nhớ là anh Tôn Xuân. Anh Xuân đi hơi chậm. Ông nói: “bây giờ mày làm bộ lù đù chớ ra ngoài, đứng xếp hàng chiếc cả chục người, mày cũng xỏ tuốt hết”. Một hòm khác, ông bắt được anh Lê Quang Trung với tôi đang nói chuyện. Ông nói: “tụi bây làm gì mà nói chuyện hoài vậy? Chắc tụi bây đang tính hùn tiền cưới vợ phải không? Hai thằng mà cưới có một con vợ, không biết tụi bây chia làm sao cho đồng đều”. Tất cả đều cười, không dám cười lớn, còn ông vẫn nghiêm nghị. Ông Cang cho cóp bài nhưng ông khuyên bằng tiếng Pháp: “tôi trân trọng thỉnh cầu quý vị có cóp bài phải cóp một cách thông minh…”.
Ông Cang muốn học trò mình phải tôn trọng kỷ luật. Có một hôm chúng tôi vào lớp đi không có hàng lối. Ông bảo ra ngoài xếp hàng vào lớp lại. Ông mắng: “các anh đi như bầy bò” và nghiêm khắc đứng giảng về trật tự. Anh nào anh nấy cũng đứng cúi đầu sợ tản thần. Trái lại, có lúc ông cũng binh vực học trò về chuyện vô lớp. Một lần tới giờ học đúng xếp hàng lâu mà không thấy trống đánh vào lớp, chúng tôi tự động vô. Tổng giám thị người Pháp ông Motais de Narbonne chạy đến bắt lỗi. Lúc đó ông Cang nói đỡ: “chính tôi cho phép chúng nó vô lớp”.
Ông Cang nói tiếng Pháp rất sổi nhưng có khi ông nói tiếng Việt rất lôi thôi: một bữa kia có một giáo sư đến hỏi ông địa chỉ của một người nào đó. Ông Cang nói “tôi biết nhà nó nhưng không biết chỗ ở của nó”. Cả lớp đều bụm miệng cười lên.
Tới cuối năm học, tất cả các lớp do ông Cang dạy đều có một căn bản toán vững chắc để đi thi. Trong kỳ thi vấn đáp, ông cho điểm rất rộng. Không những đối với học sinh Petrus Ký mà đối với học sinh trường ngoài, ông cũng tốt. Có một anh học trường Lê Bá Cang bị ông hỏi, anh trả lời lôi thôi và xanh mặt. Khi thi xong, anh tỏ vẻ thất vọng đi ra. Ông kêu lại cho xem điểm và hỏi: “tao cho mày như vầy có được không?”. Nét mặt anh ấy tươi hẳn lên.
Anh Bùi Khắc Tứ đang ngồi chờ tới phiên mình, ông Cang chỉ ngay vào mặt nói: “mày”. Anh Tứ chạy liền lên bảng. Ông biểu: “Dessinez-moi un cercle”. Anh Tứ vẽ một cái vòng thật là tròn theo cách vẽ của ông dạy. Ông Cang nghiêm nghị nói với anh Tứ : “tao biểu mày vẽ một vòng tròn chứ tao có biểu mày vẽ mông đít đâu mà mày vẽ bự quá vậy? Cái thằng nhỏ con mà ham đít bự”. Nghe ông nói, anh Tứ lật đật bôi vẽ lại nhỏ hơn. Ông lại tiếp: “tại sao mày bôi? Tao nói mày ham đít bự chớ tao có biểu mày bôi đâu?”. Trong phòng thi vấn đáp có bà Mỹ, giáo sư toán bên trường Gia Long và mấy chị thí sinh. Ông biểu một anh viết căn bậc 2 của một số. Anh này viết dấu căn không khéo. Ông hét: “mày chắn hai ra coi”. Tới phiên một anh khác viết chữ nhỏ trên bảng. ông nói: “bảng rộng như vậy mà mày viết chữ nhỏ quá!”. Vừa nói ông vừa lấy tay chỉ vào lưng bà Mỹ là người phôp pháp. Vì vậy khi học sinh của ông Cang mà thi với bà Mỹ thì bị bà “cô-lê” gắt.
Tháng 10/1951, tôi rời khỏi trường Petrus Ký, trước khi tốt nghiệp xong lớp 12, lúc ấy ông Phạm văn Còn làm Hiệu trưởng. Tôi ít có dịp gặp lại ông Cang và các thầy cũ.
Từ đó đế nay đã lâu lắm rồi. Trải qua một cuộc bể dâu, tôi đến ngụ tại một tỉnh lẻ ở vùng biển và dùng thời giờ rảnh rỗi để dạy kèm một số trẻ em nghèo. Ở đây có nhiều em học rất kém, có em học đến lớp 3 mà chưa biết đọc, không thuộc cửu chương, lớp 5, lớp 6 mà viết một câu tiếng Việt chưa chỉnh, lớp 8, lớp 9 mà chỉ biết mơ hồ về đại số, hình học. Bấy giờ tôi đã trọng tuổi và trẻ con trong vùng kêu tôi bằng Ông Bác. Má các em dẫn chúng lại nhờ ông bác dạy dùm. Nhờ dùng phương pháp của các thầy, đặc biệt là của ông Cang, tôi dạy các em học mau khá và giỏi. Nhà các em có ghe câu, mỗi lần ghe đi biển về, nhà thường sai các em đem cá lớn đến cho ông bác. Cuối năm học, má các em dẫn chúng đến cám ơn tôi và nói: “nhờ ông bác dạy học, con chúng tôi được cô cho lên lớp, được lãnh phần thưởng”. Tôi khiêm tốn trả lời: “Không có chi, tôi chỉ dạy theo những gì đã học của các thầy tôi mà thôi”.
ĐÀM THIÊN TRÍ
Colorado Springs
Mùa Thu 1994
