Xe lửa Mỹ Tho và bò lá lốt
Đoàn Xuân Thu
(Nguồn: https://baotreonline.com/van-hoc/phiem/xe-lua-my-tho-va-bo-la-lot.baotre)
Bến Tre là vùng đất cù lao sông nước. Ðường bộ trắc trở nhiêu khê nên ông nội mình phải đi đò, cả buổi mới tới vàm Mỹ Tho. Ðói bụng, chiều ông nội ghé tửu lầu Nam Sơn trên đường Trưng Trắc gần rạp chớp bóng Ðịnh Tường ăn cơm thố với cá chiên mặn hầm vĩ, uống trà đá. Trời sụp tối, ông nội sương sương ở các quán nhậu nhà sàn chạy dọc theo bờ kinh Bảo Ðịnh. Nhậu cửng cửng, ông nội về phòng ngủ Ðịnh Tường, Mê Giang cuối đường Gia Long ngủ để sáng mai đi chuyến xe lửa tài nhứt tới chợ Bến Thành, Sài Gòn.
Ðêm miên man coi chừng hoang mang. Coi chừng mấy con ‘nhền nhện’ thổi bùa mê làm bay mất tờ giấy xăng bộ lư nhe ông nội.
Con đường xe lửa, chữ Hán Việt gọi là thiết lộ, Mỹ Tho Sài Gòn nầy đều có xuất hiện trong tác phẩm của các nhà văn như: Vương Hồng Sển, Bình Nguyên Lộc…
Vương Hồng Sển trong cuốn “Sài Gòn năm xưa” đã chọc quê xe chụm củi của mấy thằng Tây: “Mỗi lần chạy, đầu xe lửa Le Myre de Villers vừa ho vừa khạc ra khói vừa thét ra lửa, mà có khi không đủ trớn lên dốc cầu Tân An và cầu Bến Lức, trèo lên tụt xuống, lên dốc không nổi, xe cặp bến cũng còi, cũng ‘xả hơi’ ồn ào oai vệ khiếp”.
Còn nhà văn Sơn Nam viết báo ở Sài Gòn. Vợ con ông ở Cua Ðạo Ngạn, Mỹ Tho, nơi đường lộ cắt ngang đường rầy xe lửa. Mỹ Linh, con gái ông, nhắc tui nghe thời thơ ấu: “Chiều thứ Bảy hay dắt em là Ngọc Ánh và rủ tui (hàng xóm sát vách) ra đứng trước nhà dõi mắt qua đường xe lửa đợi ba; vì ba có mua bánh mì Sài Gòn đem về.
(Nói nào ngay nhỏ lớn tui có cái tật con gái kêu tui làm cái gì là tui làm cái nấy. Lớn lên, đàn bà kêu tui làm cái gì tui cũng làm luôn! Tui dễ biểu dễ sai như vậy đó bà con ơi).
Chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn, vượt sông Vàm Cỏ Đông đến ga cuối cùng tại trung tâm thành phố Mỹ Tho với hành khách là các công dân Pháp, ngày 20/7/1885.
Năm 1958, thiết lộ Sài Gòn Mỹ Tho, sau 73 năm, nghỉ chạy. Nhà văn Bình Nguyên Lộc trong truyện ngắn ‘Xe lửa Mỹ bung vành’ có trích dẫn mấy câu ca dao như: “Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành/Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em!”. Hoặc: “Ðại mộc lưu giang bất đắc hồi cố/Cây lớn trôi sông, đâu mong trở lại. Anh thuận gió xuôi buồm…” để diễn tả mối tình đơn phương của một thầy cầm cây kềm bấm vé xe lửa tương tư một em từ ga Trung Lương đi Chợ Lớn bán hàng bông mỗi sớm.
“Kho bạc, Hải quân, dinh Tỉnh trưởng, tất cả những thứ ấy lui lại sau lần lần. Hồ nước ngọt, rồi đến những xóm nhà lụp xụp rồi cánh đồng… Chuyến chót phải không thầy? Thôi vĩnh biệt!”
Lúc xe lửa Mỹ Tho Sài Gòn chạy chuyến cuối cùng, tui chỉ mới 7 tuổi, học lớp tư (tức lớp hai bây giờ) tại trường tiểu học Trung An sát cầu sắt xe lửa. Thầy Tường làm hiệu trưởng và cô Lợi dạy lớp tui đứng trước hàng hiên lớp vẫy tay bùi ngùi vĩnh biệt chuyến xe lửa cuối cùng trên đường trở lại Sài Gòn.
Còn nhỏ chút éc, bằng trái ớt hiểm, nên kỷ niệm tui ngồi trên xe lửa với ba, với má, với anh, với em đâu chỉ được một lần. Nhưng vốn khoái ăn ngon, tui nhớ biết bao ga (gare, trạm dừng) Tân Hiệp, dân tình xôm tụ, chỉ cách Mỹ Tho có 13 cây số. Nhớ Tết năm 1967, tui chạy xe Honda vô Ấp Me, Tân Hiệp chơi nhà ông Hai Sóc bà con. Về, ghé một quán ăn tại chợ Tân Hiệp. Trong nhà hàng có chưng tấm hình cựu Quốc trưởng VNCH Phan Khắc Sửu. Chủ tiệm ăn khoe là bà con đại bác bắn không tới. Kêu một tô canh chua cá ba sa bắp chuối hột, tôm rim để ăn cơm. Nước canh đục như màu sữa, tôm rim màu gạch đỏ. Bữa cơm ngày xưa đó ngon bá chấy bù chét.
Tui nhắc Tân Hiệp thì hồi ức của một bạn văn ở Brisbane, tiểu bang Queensland cho tui biết: “Em ông ngoại của Hoàng Yến là bà Huỳnh Thị Quế. Những năm 1930s, bà cô em có chồng là Adams Henri, người Ấn có quốc tịch Pháp. Adams tiếng Việt là Nguyễn Thành Ðam. Ấn Ðộ nhưng ông Ðam, không theo đạo Hindu thờ bò. Ông đạo Hồi, không ăn thịt heo nhưng thịt bò thì quất láng. Ông bà em mở nhà hàng Au Pagolac. ‘Pagode’ là chùa và ‘lac’ là hồ, do phía sau quán có một hồ sen sát chùa Bà Thiên Hậu ở Tân Hiệp.
Ga Mỹ Tho năm 1905.
Tuần 7 ngày, ngày một món nên có bò 7 món: bò bít tết, bò nhúng giấm, bò nướng mỡ chài, bò sa tế, chả đùm, cháo bò và bò nướng lá lốt. Lá lốt là lá hoang giống như lá trầu. Thịt bằm nhuyễn trộn mỡ và sả bằm. Rồi ướp tiêu, tỏi, đường, nước mắm, muối quấn với lá lốt lụi và nướng trên than hồng. Thịt bò chín rất thơm; lá lốt vẫn xanh. Ðậu phộng rang đâm nhuyễn rải lên dĩa thịt bò. Bánh tráng cuốn với rau, chuối chát, dấp cá, dưa leo, húng lủi, húng quế, khế xắt lát mỏng, rau thơm, tía tô, chấm mắm nêm ớt xắt. Ăn bò lá lốt, uống với bia 33 là hết sẩy.
Bò 7 món Au Pagolac nghe tiếng nhưng tui chưa được ăn. Tiền đâu ăn? Thú thiệt với bà con hồi xưa, tui chỉ được ăn bò 7 món có hai lần. Lần đầu năm 1970, ở Sài Gòn, thằng bạn học cùng ở trọ, ba nó từ Phan Thiết vô thăm, dắt nó và cho tui theo ăn khính món bò 7 món Ánh Hồng ở cổng xe lửa số 6. Lần thứ hai năm 1981, ba dắt anh em tui đi ăn bò 7 món cũng tên Ánh Hồng ở đường Nguyễn Thiện Thuật gần ngã tư Phan Ðình Phùng.
Tại sao chủ nhà hàng chọn tên “Ánh Hồng”? Ánh hồng là ngọn lửa hồng ánh lên khi nướng thịt bò lá lốt hay chăng?
Nhớ hồi xưa, năm 1970, đi học đại học ở Sài Gòn, mỗi tháng ba cho 4 ngàn đóng tiền cơm. Cuối tháng, ngồi sau cốp xe lô Minh Chánh từ Bến xe Petrus Ký về thăm nhà. Má thương con đi học ở Sài Gòn ăn cực quá; má làm bò lá lốt cho con chấm với mắm nêm. –
Chữ hiếu nầy chưa kịp trả. Tui tha hương. Ba má mất hết còn đâu! Làm sao tui tìm được ngày vui hồi xưa đó? Chỉ còn buồn trong kỷ niệm.
Quán Bò 7 Món Ánh Hồng hiện nay tại Gò Vấp, Sài Gòn


