Vĩnh biệt người chiến sĩ can trường Võ Đại Tôn
Vưu Văn Tâm
“Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi để tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc”
(Võ Đại Tôn, Hà-Nội 1982)
1. Chiến sĩ Võ Đại Tôn


Chiến sĩ Võ Đại Tôn
Ông Võ Đại Tôn (1936 – 2025) sinh quán ở Đà-Nẵng và là sĩ quan cấp tá trong Quân lực Việt-Nam Cộng Hòa. Ngoài ra, ông còn đảm nhiệm nhiều công vụ dân chính tại miền Nam Việt-Nam như phụ tá tổng trưởng bộ Thông Tin, giám đốc công tác bộ Chiêu Hồi (1970).
Sau ngày mất nước, ông vượt biển đến định cư tại Úc năm 1976 và dấn thân vào công cuộc đấu tranh dành tự do, dân chủ cho Việt-Nam. Tiếc thay, ông bị sa cơ tại biên giới Lào-Việt vào tháng 10.1981 trên bước đường quy cố hương để tham gia kháng chiến phục quốc. Trong cuộc họp báo ngày 13.07.1982 tại Hà-Nội, ông cương quyết giữ vững lập trường không đầu hàng Việt-Cộng nên bị biệt giam hơn 10 năm nơi trại tù ở ngoại ô Hà-Nội. Nhờ áp lực quốc tế và sự kiên nhẫn đấu tranh của đồng bào hải ngoại, ông được trả tự do và trở lại Úc ngày 20.12.1991.

Mười năm tù ngục đọa đày không làm nản chí anh hùng, ông tiếp tục dấn thân phục vụ lý tưởng tự do dân chủ cho quốc gia Việt-Nam. Với cương vị là tổng ủy viên điều hợp trung ương của tổ chức đấu tranh “Liên minh quang phục Việt-Nam”, ông đi khắp nơi trên thế giới và đến những nơi có mặt người tị nạn sau một cuộc biển dâu.
Ông Võ Đại Tôn còn là một họa sĩ, một văn thi sĩ lỗi lạc qua các chủ đề quê hương đất nước với bút danh Hoàng Phong Linh. Các tác phẩm văn thơ của ông đã xuất bản từ trong nước như “Hoa tim”, “Đêm trắng”, “Cánh chim bằng”, “Đăng trình”, “Hồn ca” cho đến những ấn phẩm ở hải ngoại như “Lời viết cho quê hương” (1979), “Đoản khúc người ra đi” (1986), “Tắm máu đen” (hồi ký lao tù), “Tiếng chim bên dòng thác Champi” (thơ), “Chim Bắc cành Nam” (tập truyện), “Tổ quốc, hành trình 30 năm” (tuyển tập thơ, văn đấu tranh).
Thi phẩm “Mẹ Việt-Nam ơi, chúng con vẫn còn đây” được nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 viết thành bài ca và được phổ biến khắp nơi tại hải ngoại từ nửa thế kỷ qua.
2. Mẹ Việt-Nam ơi, chúng con vẫn còn đây
Những đứa con của mẹ được dưỡng nuôi bằng dòng sữa ba miền Bắc, Trung, Nam, là cháu con của Lê, Lý, Nguyễn, Trần, không nệ hà trai gái nên mang mểnh trong người lòng nhiệt huyết đi bảo vệ non sông ..
“Con của mẹ đều một giống da vàng
Quyết một lòng diệt hết lũ tham tàn
Trên đầu voi rạng ngời vung ánh thép
Gái Triệu, Trưng bồ liễu chống xâm lăng
Hé môi cười nghe tiếng sóng Bạch-Đằng
Con Hưng Đạo như Rồng Tiên vùng vẫy
Vượt Trường-Sơn, Nguyễn Huệ Bắc Bình Vương”
Mẹ Việt-Nam đau đớn trước họa xâm lăng từ phương Bắc đã gây nên thảm cảnh tan đàn, xẻ nghé. Chiến cuộc tương tàn khiến cho mẹ rơi nước mắt, khóc thương cho dân tình ly loạn khắp muôn phương ..
“Nhưng mẹ ơi giờ đây sao mẹ khóc
Hai vai gầy run rẩy nát tâm can
Mẹ lòng đau thương xót cảnh lầm than
Áo nâu nghèo mẹ rách để phơi thân
Một đàn con quên ơn mẹ nuôi dưỡng
Súng đạn cày tan nát luống quê hương
Mẹ lòng đau thương xót cảnh lầm than
Xót xa nhiều phương Bắc chiếm phương Nam”
Mẹ ơi, chúng con xin mẹ đừng than khóc nữa. Tuổi trẻ Việt-Nam sẽ không phản bội quê hương, nòi giống. Chúng con nguyện mai này sẽ đem lại thanh bình về trên quê cũ sau bao năm chiến chinh trầm luân, thống khổ ..
“Chúng con nguyện cùng ra sức đắp xây
Chúng con nguyện đi dựng lại quê hương
Mẹ Việt-Nam ơi chúng con vẫn còn đây
Không phản bội dòng sữa thơm nuôi đưỡng
Chúng con nguyện đi dựng lại quê hương
Mẹ Việt-Nam ơi, mẹ Việt-Nam ơi”
3. Cố nhân
Ngày đã hết, đêm cũng sắp tàn. Ngoài kia, tiết trời lạnh giá nhưng cũng không sánh được với nỗi cô đơn ngút ngàn và niềm tiếc nhớ người thương đã đi về một nêo xa xôi ..
“Người ơi, hoang lạnh đây rồi
Cô đơn chảy xuống hồn côi giọt dài
Nghìn thu lá rụng triền miên
Nghìn đêm mộng trắng, đỗ quyên gọi hồn
Đường khuya vó ngựa gõ ròn
Ai xuôi vạn lý đá mòn nhớ thương”
Nhớ chiều nào còn vương vấn mộng lòng nhưng nay sắc hoa bẽ bàng, sao trăng lạnh giá. Mối tình ngày xưa đã âm thầm chắp cánh bay xa để người ở lại mong ngóng cố nhân và đợi chờ trong tuyệt vọng ..
“Chày sương gõ nát nhịp cầu
Tình xưa biển mộng, cồn dâu bây giờ
Hạc vàng vẫy cánh cung mơ
Còn đây rượu nhạt mong chờ cố nhân”
Nỗi niềm thương nhớ cố nhân có vơi bớt được chăng qua tiếng đàn hay ly rượu lạt. Đêm về với ngỗn ngang tâm sự, khi rượu phá thành sầu và đập nát gương xưa cũng không thể tìm thấy hình bóng cũ. Hỡi cố nhân đang lưu lạc phương nào ..
“Thanh âm dang dở bây giờ
Đàn treo vách lạnh, gió hờ hững lay
Một mình ta uống nhớ say
Nửa đêm chợt tỉnh, đời tay trắng rồi
Rót thơ vào chén ly bôi
Tìm hương xưa, cố nhân ôi, nghẹn ngào”
Trước vận nước điêu linh, tác giả đã âm thầm ví von quê hương là người yêu và gửi gắm tâm sự của người dân mất nước qua thi phẩm “Cố nhân”. Đầu thập niên 60, lần đầu tiên nghệ sĩ Hồ Điệp diễn ngâm “Cố nhân” của Hoàng Phong Linh trong chương trình Thi Văn Tao Đàn do thi sĩ Đinh Hùng phụ trách. Dù bài thơ được tác giả sáng tác ở tuổi học trò nhưng với lời thơ ai oán và giọng ngâm Hồ Điệp nức nở qua làn sóng điện của đài phát thanh Sài-Gòn đã khiến cho thính giả bồi hồi, thương cảm. Sau đó, nghệ sĩ Hồ Điệp có thu thanh bài thơ này trong cuốn băng thơ Hồ Điệp số 2, phát hành tại Sài-Gòn năm 1973.
TV, 04.06.2025


