Huyền Thoại Nàng Công Chúa Bị Lãng Quên

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG II – VĂN HÓA & LỊCH SỬ 2010)

Danh từ công chúa (1) làm người ta liên tưởng tới một giai nhân tuyệt sắc hương trời, chim sa cá lặn mà ai ai cũng mơ ước. Từ cổ chí kim, nước nào cũng có không biết bao nhiêu nàng công chúa, giai nhân tuyệt sắc khuynh thành, cũng không biết bao chuyện tình éo le thương tâm. Cũng trong chốn hoàng cung rực rỡ, lại bao trùm mùi ám khí, không biết bao nhiêu chuyện dâm ô, đồi trụy ghê tởm, mưu mô tranh quyền, cướp ngôi, cha con, vợ chồng giết hại lẫn nhau không thương tiếc, mà cũng không biết bao nhiêu chuyện hùng tráng, oanh liệt của nữ nhi trong lịch sử ta.

Dầu người phụ nữ có làm nên việc gì, danh phận gì, cũng không được người đời coi là trọng. Bởi vì họ mang trong tâm khảm cái quan niệm cố hữu “nhứt nam viết hữu, thập nữ viết vô” hay “trọng nam khinh nữ”. Người phụ nữ sống trong giáo điều cực kỳ khắt khe, bị ràng buộc đủ điều, nào là:

“Tam tòng tứ đức”,

“Tại gia tùng phụ,

Xuất giá tùng phu,

Phu tử tùng tử”

Từ thời phong kiến tới bây giờ, người phụ nữ gần như không có quyền hạn và tiếng nói trong mọi vấn đề! Ðộc địa nữa là:

“Phu xướng phụ tùy”!

Chồng nói gì, phải quấy đều phải vâng vâng, dạ dạ, tuân theo! Khổ nhứt là chồng chết phải ở vậy nuôi con. Họ phải sống trong niềm đau nỗi khổ, cô đơn lẻ bóng, để ôm chặt cái bảng hư danh:

“Tiết hạnh khả phong”

Họ phải mõi mòn, nhan sắc tàn phai, đau buồn chờ chết trong cô quạnh, biết cùng ai mà giải bày nỗi lòng tâm sự! Ðúng là ích kỷ, chết rồi mà còn ghen!

CÔNG CHÚA MỴ CHÂU

Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, thì vào năm 208 trước Công nguyên (còn Việt Sử Tòan Thư của Phạm Văn Sơn minh chứng thì 130 trước Công nguyên), nước ta thường bị giặc xâm lăng đánh chiếm, vua An Dương Vương mới xây thành Cổ Loa để chống giặc. May nhờ có thần Kim Qui nổi lên giúp và hiến dâng cho cái móng chân làm lẩy cò. Nhờ có nỏ thần bắn ra ngàn vạn quân chết. An Dương Vương thắng trận, đất nước thanh bình.

Triệu Ðà giảng hòa và giao hảo với nước ta bằøng cách xin cưới Công chúa Mỵ Châu cho con là Trọng Thủy. An Dương Vương với lòng nhân hậu, bao dung, thương dân yêu nước, muốn hòa bình, sống trong thanh bình, chớ không vì có nỏ thần mà tự cao tự đại, gây cảnh binh đao.

Không chịu làm đàn anh, xâm lăng các nước lân bang làm chư hầu để bốc lột, như kiểu ta đây có vũ khí hạt nhân, khinh khí, hoả tiễn xuyên lục địa với đầu đạn nguyên tử…

Trọng Thủy vì lòng hiếu thảo trở nên mù quáng, chỉ biết cúi đầu vâng lời, bị vua cha mưu mô bày quỉ kế, đánh cắp chiếc nỏ thần. Nàng công chúa Mỵ Châu ngây thơ, mù quáng, đắm say trong tình trường mà không đề phòng được sự gian dối của người yêu. Khi Trọng Thủy bái từ về quê thăm cha có bảo:

– Nếu có biến loạn thì làm sao mà anh tìm kiếm để cứu em?

– Nhìn vào chiếc cẩm bào lông ngỗng, thơ ngây nàng cho biết sẽ rứt từng cọng lông báo hiệu, trên đường đào tẩu để chàng lần theo mà tìm đường.

Ngờ đâu, Triệu Ðà xua quân tấn công Âu Lạc, vua ta đem nỏ thần ra bắn, nỏ thần không linh nghiệm nên bại trận phải bỏ chạy.

Vì thương con nên ông cùng công chúa cỡi ngựa chạy thoát thân về phương Nam. Không ngờ, địch biết đường đuổi theo ông. Khi tới núi Mộ Dạ, thuộc tỉnh Nghệ An, Ngài ngừng lại, xuống ngựa quì lạy cầu nguyện xin Thần Kim Quy cứu giúp một phen.

Thật ra nhà vua chưa biết việc chàng phò mã không phò mỹ nữ, mà phò chiếc nỏ thần về cho vua cha, để rồi ông xua quân tấn công đất nước của hiền thê mình. Thần Kim Quy cho biết là địch quân ngồi sau lưng Ngài.

Nhà vua ngoảnh đầu nhìn lại, thì ông phát hiện con gái mình đang rứt lông áo, rải theo dọc đường.

Trước cảnh nhà tan, nước mất, nhà vua giận dữ rút gươm chém Mỵ Châu chết. Tức giận cho lòng từ tâm bị đánh lừa, giấc mơ sống trong hòa bình tự do, an cư lập nghiệp không thành tựu, bởi lòng tham của kẻ gian bạo tàn, của kẻ xảo quyệt quyết xâm lăng đất nước. Nghĩ lại không thể nào để kẻ bạo tàn bắt cầm tù hãm hại một lần nữa, rồi nhà vua nhảy xuống biển mà tự vận.

Trọng Thủy lần theo dấu lông ngổng đến nơi, thương tâm, ôm xác nàng về an táng. Ðoạn chàng hận cha quỷ quyệt, lừa dối, không hào hiệp như đấng trượng phu, sát hại người dân vô tội, sinh linh đồ thán, cướp mất lẽ sống của đời mình, mà còn liên lụy tới người yêu chân thật ngây thơ. Chàng liền nhảy xuống giếng trong Cổ Loa mà tự thác.

Có nhiều bài thơ tưởng nhớ tới như:

Cổ Loa Hoài Cảm

“Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa,

Trải bao gió táp với mưa sa.

Nỏ thiêng hờ hững giây oan buộc,

Giếng ngọc vơi đầy giọt lệ pha.

Hoa cỏ vẫn cười ai bạc mệnh,

Cung đình chưa sạch bụi phồn hoa.

Hưng vong biết chữa người kim cổ?

Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà”.

Trần Tuấn Khải

Huyền thoại đau thương oan ức của mối tình dang dở, trái ngang do mưu đồ độc ác, hủy hoại sinh linh đồ thán, nó còn âm ức tức tối chưa dứt. Nó lại thêm tục truyền là máu của nàng công chúa chảy ra biển, làm mấy con trai ăn phải, nên kết tinh thành những hạt ngọc trân châu. Nếu đem nó rửa bằng nước giếng trong Cổ Loa thì những hạt ngọc nầy sẽ óng ánh, trong sáng.

Phải chăng cũng vì vậy mà trên thế giới chỉ có hạt ngọc trân châu vùng biển nầy mới có màu hồng kỳ lạ? Phải chăng hồng ngọc nầy là kết tinh của mối tình lãng mạn, chết xuống tuyền đài mà vẫn chưa phai?

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Sau khi dẹp hết quân Tàu xâm chiếm qua những trận lẫy lừng nhờ Hưng Ðạo Vương đại phá quân Nguyên, nước ta được an lành. Sự giao hảo nước ta và Chiêm Thành cũng hòa thuận. Chỉ có nước Lào luôn kéo sang quấy phá rồi rút về núi rừng lẩn trốn, rất khó cho quân ta ngăn chặn. Phải đợi tới danh tướng Phạm Ngũ Lão dẹp họ mới yên.

Nhận thấy đất nước thanh bình an cư lập nghiệp, vua Nhân Tông nhường ngôi cho con, rồi vào chùa Võ Lâm rồi sang chùa An Tử Sơn tu. Nhân chuyến du ngoạn Chiêm Thành (1301), Ngài lại hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm, lúc bấy giờ là Chế Mân. Vì Ngài muốn hai nước giao hảo, chung sống hòa bình, để rảnh tay dồn sức lực lo chống sự xâm lăng ở Bắc phương của quân Nguyên.

Ít lâu sau (1304) vua Chiêm cho đem đồ sính lễ, triều thần phản đối, gây ra nhiều nghị luận tiếc rẻ và khinh miệt người Chiêm còn gọi là Chăm, là Hời. Như người thiểu số ở Miền Nam thì gọi là mọi. Muốn chê bai, khinh khi, chửi thì cho là đồ mọi rợ, dơ như mọi. Chữ thằng Mán, thằng Mường nghe sao nó khinh miệt quá nặng. Chính vì vậy mà có câu mỉa mai thậm tệ:

“Tiếc thay cây quế giữa rừng,

Ðể cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.”

Hay

“Tiếc thay cây quế Châu Thường

Ðể cho người Mọi người Mường nó leo!”

“Con vua lấy thằng bán than

Nó đưa lên ngàn cũng phải đi theo!”

Còn nàng công chúa Huyền Trân có đẹp hay không, không ai biết. Có điều là hoàng đệ của nàng, vua Anh Tông rất đẹp trai, như vậy chắc nàng cũng đẹp không thua gì tiên nữ giáng trần, nên Chế Mân mới tương tư tưởng nhớ suốt 5 năm trời như vậy.

Vì bên ta không chịu gả, mà vua Chiêm cũng muốn cầu an với nước ta nên đề nghị dâng Châu Ô và Châu Lý (1305) làm quà sính lễ. Lúc bấy giờ Anh Tông và triều đình mới chấp nhận. Nhưng lại cho rước công chúa vào tháng 6 năm sau, Bính Ngọ 1306.

“Nước non nghìn dậm ra đi, mối tình chi.

Mượn màu son phấn, đền nợ Ô-Ly,

Ðắng cay vì đương đôï xuân thì

Số lao đao hay là nợ duyên gì?

Má hồng da tuyết, quyết liều như hoa tàn trăng khuyết

Vàng lộn với chì,

Khúc ly tao cớ sao mà mường tượng nghê thường

Thấy chim hồng nhạn bay đi, tình tha thiết,

Bóng dương hoa quỳ

Nhắn một lời Mân quân, nay chuyện mà như nguyện.

Ðặng vài phân vì lợi cho dân,

Tình đem lại mà cân.

Ðắng cay trăm phần…”

Thân gái dậm trường làm sao không buồn, lòng dạ tan nát, nên đến đèo Hải Vân (1306), nàng có xin dừng kiệu, bùi ngùi ngắm nhìn sau lưng mình, phương Bắc, đất nước hùng vĩ của tổ tông lần cuối… với nổi niềm:

“Chiều chiều gió thổi Hải Vân,

Chim kêu ghềnh đá giẫm chân em buồn”.

Vào năm sau 1307, vua Anh Tông nhận hai châu nầy và đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu. Bây giờ nó trở thành Thừa Thiên và Quảng Trị. Ngài còn cho Ðoàn Nhữ Hài, một sứ thần sặc mùi kỳ thị, vào kinh lý và đặt quan cai trị. Từ đây bờ cởi nước ta từ từ mở rộng biên cương về phía nam, để tiếp tục cuộc Nam tiến sau nầy mà không tốn một cây tên và sinh mạng của quân dân hai bên nào hết.

Ðây là hôn nhân toan tính mang màu sắc chính trị, lợi cho nước cho dân của đôi bên, thì dại gì mà không nhận. Hơn nữa trước đây đôi phen, quân Chiêm thường xuyên qua đánh chiếm làng mạc, cướp phá biên cương Việt Nam, nhứt là có lúc ta bị Mông Cổ xâm chiếm.

Nghĩ lại trước đây các vua đời nhà Lý cũng từng gả các nàng công chúa cho về thượng du cho các Châu mục để mở thêm bờ cỏi mà. Từ cổ chí kim từ Âu sang Á trong thời Ðông Châu Liệt Quốc cũng có những cảnh giai nhân tuyệt sắc, gái nước Việt đã mê hoặc, nghiêng thành đổ nước như Tây Thi đã giúp Câu Tiễn phục quốc.

Ðây là một thành công và là một thắng lợi to tát trong lịch sử Việt Nam, mà không dùng đao kiếm, bom đạn xâm lăng, gây cảnh nhà tan cửa nát, tàn sát sinh linh, nhân tâm đồ thán. Ðây là bài học lịch sử mà hậu thế phải noi theo.

“Ðổi chác xưa nay khéo nực cười,

Vốn đà chẳng mất lại thêm lời.

Hai Châu Ô lý vuông nghìn dậm,

Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi.

Lòng đỏ khen ai lo việc Nước,

Môi son phải giống mãi trên đời.

Châu đi rồi lại Châu về đó,

Ngớ ngẩn nhìn nhau một lũ Hời.”

Hoàng Thái Xuyên

Không biết có phải vua Chiêm Thành, vì quá say mê, thương yêu nàng công chúa tuyệt sắc giai nhân, nên nâng lên hàng hoàng hậu. Chắc Chế Mân ham mê hoan lạc không thua gì vua Ngọa Triều của ta, nên chỉ có mười một tháng là đuối sức ngủm cù đèo?

Theo tục lệ Chiêm Thành, công chúa là hoàng hậu được quân vương sủng ái, phải bị chôn theo Ngài xuống tuyền đài.

Vị tướng trẻ từng thầm yêu trộm nhớ nàng, Trần Khắc Chung liều thân, thay vì đại diện vua đi phân ưu vua Chiêm băng hà, lại lập mưu cứu và đưa nàng về nước mà người Chiêm không ngăn chặn nổi.

Theo Ts Po Dharma, gốc Chăm, hiện là đại diện cho trường Viễn Ðông Bác cổ tại Mã Lai, cho ý nghĩ trên không còn đứng vững. Theo Ts Po trong bài “Góp phần tìm hiểu Chiêm Thành’ đăng trong đặc san Champaka số 1-1999, Công chúa Huyền Trân chưa đủ điều kiện để được lên dàn hỏa thiêu theo vua Chiêm, vì theo truyền thống Chiêm Thành, chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được nhận vinh dự đó, mà Huyền Trân không phải hoàng hậu chính thức. (10)

Ts Po và Dominique Nguyễn giúp ta thở phào nhẹ nhõm tấm lòng… Nhưng dầu sao đi nữa Trần Khắc Chung cũng phải chờ quyết định của triều đình Chiêm Thành. Ðằng nầy, TKC ngang nhiên hành động nông nổi như vậy là không phải đạo, làm nước ta mang tiếng. Ông ta phải bị xử chém mới phải.

Vị tướng nầy lại quanh quẩn lánh trốn ở đâu không biết để cả năm mới về kinh thành. Cũng vì đó mà có lời dị nghị, nên có câu:

“Tiếc thay hột gạo trắng ngần,

Ðã vò nước đục, lại vần lửa rơm!”

(Ý nói Công chúa đã gả cho Chế Mân, sau còn bị Trần Khắc Chung phỏng tay trên, làm ô uế thanh danh nàng).

Khi công chúa trở về, chính Thái Thượng Hoàng tiếp đón. Còn trăm quân hầu, vệ binh được gởi về Chiêm thành và cáo lỗi sự việc xẩy ra.

Ðây là một việc làm quá đáng, thật là bất công, không có công bằng giao hoán, tiền trao cháo múc, đằng nầy đã gả đi rồi mà còn mưu toan cướp về. Ðạo lý ta không cho phép. Thiệt giả không biết, dầu sao đi nữa, TKC cũng lỗi đạo, phải bị xử chém vì làm hoen ố tiết hạnh công chúa, chồng mới chết lại sang thuyền khác!

“Xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”,

“Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”.

Mà đằng nầy, cũng không theo phong tục tập quán của người Chiêm luôn. Có phải chăng vì vậy mà về sau vua Duệ Tông phải trả cái giá đắt ở trận Ðồ Bàn năm Ðinh Tỵ 1377, do Chế Bồng Nga đã thù hận và ngấm ngầm trả thù về việc nầy?

CUỘC NAM TIẾN

Vua Lê, chúa Trịnh-Nguyễn phân tranh làm mất nhân tâm, lòng dân thán oán, lo sợ bởi nồi da xáo thịt. Nguyễn Hoàng, con Nguyễn Kim và là em vợ Trịnh Kiểm, tìm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một danh tài, biết quá khứ vị lai, để xin ý kiến về vận mạng của mình.

Là người tài trí thông thiên địa lý, thấy sự việc trăm năm trước và trăm năm sau, suốt đời lại phò Mạc. Ông được nhà Mạc tôn kính như quân sư và phong chức Trình Tuyền Hầu. Cũng vì thế người đời gọi ông là Trạng Trình.

Ngay tại Am Bạch Vân, ông nuôi trong lòng chủ trương:

“Bắc hòa, Nam tiến”

“Cổ lai nhân nghĩa tri vô địch,

Hà tất khư khư sự chiến tranh”

Vì thế, khi Nguyễn Hoàng hỏi nhờ ông giúp đỡ, ông hướng về phương Nam mà điềm chỉ và trao cho 8 chữ:

“Hoành sơn nhứt đái, vạn đại dung thân”

Nguyễn Hoàng hiểu ý về xin chị Nguyễn Ngọc Bảo giúp, xin chồng cho em vào trấn đất Thuận Hóa đầy núi rừng hiểm trở. Trịnh Kiểm chấp thuận vì ông ta muốn mượn tay nhà Mạc giết Nguyễn Hoàng, bởi vì đây là vùng chiếm đóng của nhà Mạc.

Ðến đầu năm 1558, Nguyễn Hoàng dẫn đoàn tùy tùng gia nhân chạy nhanh vào Thuận Hóa lập nghiệp. Nhờ tài khéo léo, chiêu hiền đãi sĩ của ông nên nhiều nhân tài qui tựu giúp ông tạo dựng cơ đồ. Với lòng quảng đại, lấy nhân từ đức độ đối đãi mọi người, hết lòng thương dân yêu nước mà người đời cho ông là Chúa Tiên. Vùng đất hoang trở thành nơi sầm uất, phồn thịnh.

Thế rồi sau đó, không muốn phiền toái bên nào hết, nên khi Chúa Trịnh phò Lê, Trạng Trình với tâm nguyện ôn hòa nên đưa lời khuyên:

“Cao Bằng tuy thiển, khả diêu số thế”

Ý ông muốn nói đất Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng cũng giúp yên thân sinh sống được mấy đời.

Nhưng chúa Trịnh lại không muốn thấy chúa Nguyễn phát triển ở Ðàng trong, nên lúc nào cũng tìm cách xâm chiếm.

Ðất miền Nam là đồng bằng với nhiều sông rạch, lại hoang vu với nhiều dã thú. Ðàng ngoài thì vua Lê-chúa Trịnh nắm quyền bính, Ðàng trong thì chúa Nguyễn đem hết nỗ lực chấn hưng, xây dựng, phát triển miền Nam.

Sau khi chúa Tiên, tức Nguyễn Hoàng (1556-1613) mất, thì con là Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi lúc 51 tuổi. Ngài là vị chúa anh minh, chăm lo và thương yêu con dân, chiêu hiền đãi sĩ.

Vì Ngài là nhà vua quảng đại, từ tâm nên được người đời xem Ngài như nhà tu nên được mệnh danh là chúa Sãi (1613-1635). Các nhân tài tề tựu phù trợ cho Ngài. Ðặc biệt nhứt là Ðào Duy Từ, tác giả bài “Ngọa Long Cương”, tự ví mình như Khổng Minh, hết lòng giúp Chúa Sãi cải tổ triều chính, quân sự và hành chánh, xây đấp đồn lũy chống Ðàng ngoài.

Chính vì thế nên ông mới dùng sách kế của Khổng Minh là

Bắc cự Tào Tháo, Nam hòa Tôn Quyền”, đổi lại thành:

“Bắc cự họ Trịnh, Nam hòa Chiêm Thành”

Về phương Bắc ông cho đấp lũy chống chúa Trịnh. Nỗi tiếng nhứt là Lũy Thầy.

“Hiễm nhứt lũy Thầy,

Thứ nhì đồng lầy Võ Xá”

Về phương Nam, theo ông phải tìm đủ cách hòa hợp, sống chung hòa bình với lân bang để tìm vi cánh, sự giúp đỡ, phòng khi thất thế có nơi nương tựa sau nầy.

CÔNG CHÚA NGỌC KHOA

Thấy Cao Miên thanh bình, lại được chúa Nguyễn bảo hộ, nên vua Chiêm Thành Pô Rôme (1627-1651) cũng muốn giao hảo với nước ta vì đất nước của ông luôn bị Thái Lan xâm lăng, quấy nhiễu. Ðể được yên thân, vua Chiêm xin được cầu hôn với công chúa Ngọc Khoa. Chúa Sãi ôn hòa, đạo hạnh, tài trí chẳng những biết chiêu hiền đãi sĩ, mà còn biết thu phục nhân tâm các nước lân bang. Vì muốn rảnh tay với lân bang sớm đầu tối đánh, quấy phá biên cương nên kết tình thâm giao làm hậu thuẫn, gây sức mạnh, Ngài mới ưng chịu, để rảnh tay đối phó với Ðàng ngoài của chúa Trịnh. Hơn nữa, Ngài cũng đã có hai tướng tài giỏi, trung thành phò trợ là chồng của hai nàng Công chúa Ngọc Ðỉnh và Ngọc Liên.

Tuy sử sách không nói nhiều về Công chúa Ngọc Khoa, nhưng người Chiêm cho công chúa, dùng tài sắc chinh phục lòng thương yêu của vua Chiêm. Từ đó nàng muốn gì, nhà vua cũng chìu hết.

Cũng vì vậy mà người Chiêm cho là công chúa mê hoặc Ngài, nên họ đem lòng oán ghét nàng lắm. Họ cho chính nàng đã xúi vua đốn bỏ cây Kraik (cây cam xe), một cây cổ thụ trong vườn ngự uyển, một biểu tượng thiêng liêng của Chiêm Thành. Họ tin vào sự linh thiêng của cây nầy.

Vì muốn vui lòng ái phi của mình, nhà vua cho các lực sĩ đốn. Nhưng họ không cách nào hạ được, vì khi nhát rìu rút ra thì vết chém thần bí khép lại. Nhà vua tức giận, cầm rìu bủa vào thân cây, máu trong cây phún ra và cây ngả xuống? Cây mất thì đất nước họ cũng mất theo thành ra họ bị diệt vong. TNDV.25

Biến cố chính trị và tôn giáo xẩy ra vào năm 1651, phe phản loạn giết vua và hoàng hậu. Chúa phải gởi quân dẹp loạn và đặt viên chức Việt cai trị. Thế là vùng đất nầy trở về ta. (2)

Theo nhiều tác giả nghiên cứu thì câu chuyện trên chỉ được kể như huyền thoại chớ không có được ghi rõ ràng trong sử liệu nào hết. Dầu sao đi nữa, đây cũng là bước tiến đầu cho cuộc Nam Tiến vào miền nam Trung phần, kế tới đồng bằng Cửu Long-Ðồng Nai sau nầy.

CÔNG CHÚA NGỌC VẠN

Chính vua Miên cũng nhường đất cho phép họ (ngườiViệt) khai khẩn đất đai, phá rừng để làm ruộng rẫy năm 1623 (7), để khỏi bỏ đất hoang vu không kiểm soát được. Vì đã bao phen các nước Xiêm và Lào muốn chiếm đoạt, mà Miên không có khả năng gìn giữ hay chống xâm lăng. Bắt đầu từ đây người Việt Nam hợp pháp đặt chân khai phá mảnh đất hoang vu đầy thú dữ Mô Xoài, gần Bà Rịa ngày nay để trồng trọt, cày cấy.

Cùng năm đó (1623), chúa xin mở đồn thâu thuế người Việt ở Prey Nokor và Kas Kokey tức Saigon và Gia Ðịnh. Vua Chetta II chấp thuận sau khi tham khảo ý kiến của triều đình. (VL tr 27)

Theo André Migot, nhà truyền giáo Tây Phương, ghi “Vào năm 1623, một phái bộ của Chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu cho lập sở thu thuế ở Prey Nokor tức Sài gòn để thu thuế người Việt và hàng hóa. Vua Chette II chấp thuận. Lấy cớ là bảo vệ chánh quyền Chân Lập và giữ gìn an ninh trật tự, triều đình Thuận Hóa còn phái một tướng lãnh đến đóng ở Prey Nokor nữa.”

Nhà truyền giáo khác, Christopho Borri nói rõ hơn. “Chúa Nguyễn viện trợ cho Vua cả tàu lẫn binh lính chống lại quân Xiêm. Sứ bộ rất đông người, cả quan lẫn lính chuyên chở trên những chiếc thuyền có trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ thần đến kinh đô thì dân chúng Chân Lập, thương nhân người Bồ Ðào Nha, Nhật Bổn, Trung Hoa đã tụ tập đông đảo để tiếp đón và hoan nghinh. Sứ giả là người quen thuộc, chớ không phải mới đến lần đầu…” (18)

Ðến năm 1658, bà xin vua em là Réam Thip Dei Chăn (1642-1659) cho phép người Việt được quyền khai thác xứ Biên Hòa, tức vùng biên cương hòa bình. Vua Miên chấp nhận là muốn dùng ảnh hưởng của triều đình Huế để chế ngự ảnh hưởng của người Xiêm (7)

Tại sao Vua Miên lại ưu đãi Việt Nam ta?

Vua Miên không phải khờ mà cho ta khai thác. Ðây là công lao của Công chúa Ngọc Vạn. Nàng là lịnh nữ của Chúa Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635).

Nghe theo lời của thầy, chúa Sãi mới mở yến tiệc, mời đãi lân bang Chiêm Thành và Chân Lập. Vua Chân Lập là thanh niên đầy năng lực nhìn thấy dáng yêu kiều thướt tha, lời nói diệu dàng, nồng ấm của các ái nữ làm khách say đắm…

Chỉ vào tháng sau vua Miên gởi sính lễ sang cầu hôn công chúa Ngọc Vạn. Thấy chúa và công chúa còn ngần ngừ, thầy Duy Từ khuyên lơn vì lợi ích quốc gia, vì phải chống trả chúa Trịnh độc ác ở Ðàng Ngoài… Chúa đau khổ, ngậm ngùi để than gái dặm trường ra đi vì đất nước và dân tộc.

Phủ chúa tưng bừng rộn rịp, trang hoàng rực rỡ mừng bao nhiêu thì nhưng giọt lệ ứa trào đầy đôi mi, lòng công nương rối như tơ vò, chìm đắm trong xót xa, khổ đau xa quê hương, xa người cha gánh nặng quốc gia dân tộc trên bờ vai già gầy yếu, mà nàng không còn cơ hội để săn sóc cùng chia xẻ nổi niềm gian truân (2).

Riêng phần công chúa cũng lắm điều cay đắng, phú cho định mệnh đẩy đưa vâng lời chúa Sãi và thầy, nàng đành gạt lệ ra đi. Nàng hiểu rằng, mình phải cứng rắn, phải hy sinh tuổi xuân xanh, mà gồng gánh trên đôi bờ vai mềm, non nớt nghĩa vụ quốc gia dân tộc! Ðây là một hy sinh vì nghĩa vụ cao cả quá!

Công chúa được gả làm ái phi cho Vua Miên Chey Chetta II (1618-1626) năm 1621, để liên minh, thắt chặt tình lân bang, hòa đồng chung sống trong hòa bình, tương thân, tương trợ, và nhứt là để được chúa Nguyễn hỗ trợ chống xâm lăng cho ông.

Trên đường về nhà chồng ở Miên, công chúa có mang theo trong đoàn tùy tùng nhiều người như thương buôn, nghệ sĩ, thợ mộc… để mở việc làm ăn sau nầy.

Sau đó, Vua Miên dời đô từ Lovet đến Oudong tức Nam Vang ngày nay, rồi xây đồn đấp lũy chống quân Xiêm. Năm 1622, triều đình Xiêm cho hai đội quân đánh Oudong đều thất bại. Triều đình Ayutthaya Xiêm cho chiến thuyền tấn công vẫn bị thảm bại, nhờ sự hỗ trợ của công chúa và đoàn tùy tùng.

Từ đó tình thông gia lân bang càng khắng khít, nhà vua cũng dễ dãi cho dân ta qua lại làm ăn sinh sống.

Hơn nữa, sở dĩ được như vậy là vì ngoài tài sắc, mà còn có sự khôn khéo, dịu hiền của công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Vạn. Công chúa hết lòng làm tròn bổn phận người vợ hiền của nền văn hoá Khổng Mạnh. Hơn nữa, Công chúa lấy được long dân thương mến và kính trọng bằng cách trang sức, theo phong tục và tập quán Miên, cùng nói ngôn ngữ và đọc viết được chữ Miên nữa. Tuyệt đối không hề chê bai khinh thường nhà chồng hay người Miên.

Nhờ trên được ơn mưa móc của quân vương, dưới được long dân thương mến, cảm phục, nên công chúa được ân sủng tấn phong làm hoàng hậu Sodach, Sâm Ðát.

Hơn nữa, đất Miên bao lần bị Xiêm La tấn công quấy nhiễu chiếm đất, đều được Chúa Nguyễn xua quân tiếp viện, đánh đuổi về nước. Ðể tỏ tình thông giao và lòng ái mộ công chúa và cám ơn nhạc phụ đã giúp quân cứu viện, nên Vua Miên nhường đất cho Chúa Nguyễn nhờ sự òn ỉ của công chúa. Thế là người Việt được chánh thức khẩn hoang vùng Ðồng Nai và Mô Xoài.

Theo chân nàng công chúa, còn có một số tùy tùng đông đảo, làm đủ nghề và buôn bán đến Oudong, Phnom Pênh mở xưởng đóng tàu và cửa hàng buôn bán. Như vậy không cần một tướng lãnh nào cả, chỉ thân gái dậm trường, chịu bao nỗi khổ đau xa lìa quê cha đất tổ đi “cống hồ” về Miên, lại mang về tổ quốc hai tỉnh Ðồng Nai và Bà Rịa.

Ðúng là bất chiến tự nhiên thành, không cần đánh mà thắng:

“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng”

Hay:

“Nhất tiếu (tố ?) khuynh nhân thành,

Tái tiếu (tố ?) khuynh nhân quốc”

Một lần nữa, Công chúa Ngọc Vạn là một Tây Thi tái thế, nghĩa khí đoan trang của thế kỷ XVII vậy. Nàng không như Tây Thi chạy trốn theo người yêu Phạm Lãi hay Huyền Trân công chúa theo Trần Khắc Chung, mà hết mình với quân vương lúc sinh tiền và cả sau nầy sống chết với con cháu và lịch sử nước Chùa Tháp. Nàng đáng được kính trọng và ca tụng là “Tiết hạnh khả phong”.

Hoàng hậu Samdach hạ sanh được hai hoàng tử, còn hai bà phi trước người Chân Lập và Lào cũng có con trai. Nhưng vì vua Chetta qua đời đột ngột sau cơn bạo bịnh năm 1625, nên có sự tranh giành ngôi báu. Muốn tránh sự tranh giành, chém giết, Hoàng hậu xin được phép mang con về phần đất Biên Hòa-Bà Rịa lập chùa tịnh tu vì nơi đây có toàn người Việt sinh sống và bảo vệ mẹ con bà.

Ðến năm 1642, Ponhea Chan, hoàng tử con của bà Lào lên ngôi lấy hiệu là Nặc Ong Chân. Chân cưới vợ người Mã Lai theo đạo Hồi. Vua lại muốn lấy Hồi giáo làm quốc giáo, nên dân kêu là Vua “Tà Ðạo”. Thế là có việc thanh trừng Phật giáo, nên xẩy ra thánh chiến.

Một số chạy sang nhờ Hoàng thái hậu che chở. Thế là Nặc Ong Chân tức giận, xua quân tấn công Biên Hòa và Bà Rịa.

Bà kêu gọi cháu là chúa Hiền Vương đem quân cứu viện, dẹp loạn và bắt được Nặc Ong Chân. Ponhea Chan được tha, “Nặc Ong Chân xin hiến đất để được tha tội và hứa giữ đạo phiên thần, lo bề cống hiến, không xâm phạm dân sự ở ngoài biên cương.” Dưới thời Chetta II, chủ quyền khai thác vùng nầy không rõ là mượn? Nay Ponhea Chan và Batom Reachea minh thị xác nhận. Sử Cao Miên cũng ghi lại sự kiện nầy:

“Nhờ người Việt Nam mới được làm vua, Quốc Vương Batom Reachea ký hòa ước nhận triều cống chúa Nguyễn hằng năm. Cho người Việt Nam làm chủ phần đất vừa khai hoang. Cho người Việt được định cư trong lãnh thổ Chân Lập và hưởng quyền lợi ngang hàng với người Miên.” (VL tr 42).

Như vậy nhờ Công chúa Ngọc Vạn mà Cao Miên mới khỏi nạn diệt vong, nước ta mới có phần đất mới khẩn nầy. Người Miên chạy về đây lánh nạn thánh chiến, ở luôn cùng người Việt phát triển mần ăn buôn bán. Từ đó vùng nầy trở nên sầm uất. Thấy vậy Chúa Hiền phong cho người con thứ hai của Công chúa Ngọc Vạn là Ang Non làm Nhị Vương đóng đô ở Prey Nokor tức Sài gòn. Từ đây nước ta có chủ quyền ở Miền Nam nầy.

Ðây không phải là xâm chiếm hay cướp đất, mà là một thỏa thuận tương giao, nương tựa để khai khẩn rừng rú hoang dã, chống bịnh tật và thú dữ, để sống còn trong thanh bình của hai nước lân bang.

Ðến năm 1698 Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh (Kim) mới chính thức nắm chủ quyền và đặêt nền tảng hành chánh tại phủ Gia Ðịnh. Ðến năm 1672, Vua Batom Reachea bị con rể soán ngôi giết chết. Hoàng tử Ang Chey, trưởng nam của Batom Reachea giết được phản đồ. Triều đình đưa Ang Chey lên ngôi báu, lấy hiệu là Nặc Ong Ðài.

Ðến năm 1674, Nặc Ong Ðài cùng quân Xiêm xâm lăng đất của chú ruột. Lần nữa, Chúa Nguyễn sai quân cứu viện, đánh lấy Sài gòn lại. Nặc Ong Ðài thua chạy bị đồng bọn giết chết. Em là Ang Saur (Nạc Thu) được Chúa Nguyễn đưa lên ngôi hiệu là Chetta IV.

Nghe lời xàm tấu của kẻ xấu, Nặc Nguyên liên kết với chúa Trịnh ở Ðàng Ngoài, đánh phá Miền Nam năm 1756. Thống suất Nguyễn Cửu Vân vâng lịnh chúa ta đem quân dẹp yên quân Miên. Nặc Ong Thu chạy ra Hà Tiên, nhờ Mạc Thiên Tứ dâng hiến vùng Tầm Bôn và Lôi Lạp cầu hòa. Vùng đất nầy lập thành Phủ Tân An và Gò Công.

Năm sau 1757, ông ta qua đời, người chú là Nặc Nhuận muốn lên ngôi nên tự ý dâng hai xứ Preah Trapeang và Bassac, tức Trà Vinh-Ba Thác- Sóc Trăng, để xin cầu phong.

Nạc Nhuận lại bị con rễ Nặc Hinh giết chết và soán ngôi. Con Nặc Nguyên là Nặc Tôn bèn chạy sang Hà Tiên cầu cứu Mạc Thiên Tứ. Chúa Võ Vương chấp nhận cho Nặc Tôn làm vua Chân Lạp, đoạn cho Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tứ hộ tống Nặc Tôn dẹp Nặc Hinh. Ðể tri ân, Nặc Tôn xin hiến dâng vùng Tầm Long Phong, giữa sông Tiền và sông Hậu. Vùng đất nầy không gì khác hơn là Châu Ðốc, Tân Châu, Kiến Phong, Sa-Ðéc và Vĩnh Long.

Vì nhờ Mạc Thiên Tứ giúp đỡ, nên vua Chân Lập cũng cắt nhượng dâng cho họ Mạc 5 phủ: Kompong Som Hương Úc, Kompt Cần Bột, Chưng rum Trực Sâm, Cheal Meas Sài Mạc và Linh Quynh. Họ Mạc lại đến dâng cho chúa Nguyễn.

Ðến năm 1847, vua Thiệu Trị giao trả phần nầy lại cho Cam Bốt (theo Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật, VL, tr 68). Chúa cũng giao vùng đất Hà Tiên cho Mạc Thiên Tứ cai quản. Vùng nầy được chia thành 2 đạo: Kiên Giang đạo và Long Xuyên đạo. (Long Xuyên ở đây không phải là tỉnh Long Xuyên ngày nay, mà là vùng Cà Mau)

Di dân

Người Việt Nam ta có cả một tràng chuỗi lịch sử di cư từ cổ chí kim. Xưa kia trên 2.000 năm trước CN, dân tộc ta ở gần Tây Tạng, vùng Chiết Giang bên Tàu. Trải qua nhiều thời đại, ta cứ di dân lần lần xuống Bắc Việt, rồi Trung Việt. Cuối cùng là Nam Việt. Cũng may là tới mũi Cà Mau hết đất, tới bờ biển Nam Hải với Vịnh Xiêm La, nếu không chắc còn đi xa hơn nữa!

Vì có nhiều tộc Việt cho nên khó biết mình thuộc tộc nào. Nhưng phần đông các nhà nghiên cứu cho là mình thuộc tộc Việt của Câu Tiễn thế kỷ thứ VI trước CN, thời Chiến Quốc.

Trung Hoa

Người Việt ở Miền Nam cũng có thể là người Trung Hoa thuộc nhà Minh, vì không phục tùng nhà Thanh nên một số quan quân như:

1. Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên

Họ đem theo 3.000 quân và 50 chiến thuyền xin tùng phục chúa Nguyễn năm 1679. Chúa Hiền chỉ định cho họ vào Gia Ðịnh, Trần Thượng Xuyên về Trấn ở Ðồng Nai (Biên Hòa), còn Dương Ngạn Ðịch về trấn Mỹ Tho khai khẩn.

Lâu ngày họ hội nhập với chúng ta, vì vậy mới có biệt danh là Minh Hương? Ðây là người Minh sống ở đất nước ta và lấy nước ta làm quê hương thứ hai. Họ cũng có tinh thần phục quốc gọi là Phục Minh. Họ cũng giống như chúng ta tỵ nạn đến Úc, Mỹ, Pháp, Anh… và mang nhãn hiệu người Úc gốc Việt, và có những đảng phái muốn quang phục quê hương với tên là Phục Quốc trước đây.

Lâu ngày họ đồng hóa với chúng ta bằng cách gả cưới với người Việt, sanh con đẻ cái lai cũng gọi là Minh Hương, ba Tàu lai, xẫm lai hay người Việt lai Tàu hay Tàu lai Việt.

2. Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích

Họ tôn thờ nhà Minh, không khuất phục nhà Thanh, bỏ nước chạy xuống Vịnh Thái Lan, chiếm đất Miên. Sau bị Miên khuấy phá, Mạc Cửu cốt lõi là thương buôn chỉ biết trục lợi, hay văn nhân chỉ tìm sự an cư lập nghiệp không thích hợp với chiến tranh, bèn đem dưng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn để được sống yên ổn làm ăn sinh sống vào năm 1708, và được chúa phong làm Tổng binh. Lúc đó đất Hà Tiên rất rộng lớn chớ không phải như bây giờ đâu.

Khi Mạc Thiên Tích qua đời, con là Mạc Thiên Tứ được phong chức Ðô đốc thế cha. Ông có công khai hóa đất Hà Tiên và phát triển nền giáo dục bằng cách mở trường dạy Nho học.

Phong trào văn học nầy có tên là “Chiêu Anh Các”. Nền văn học nầy mở mang và đóng góp cho sự phát triển của nền văn học Miền Nam từ đây.

Sau nầy, thi nhân nổi tiếng nhứt phát xuất từ nơi nầy là thi sĩ Ðông Hồ. Lên Saigon, ông sáng lập Diễm Diễm Thư trang ở đường Kitchener.

Về việc di dân do nội chiến cũng giống một tướng Việt Nam chán ghét sự tranh quyền, cướp ngôi báu, tàn sát và hãm hại hoàng tộc của Tể tướng Trần Thủ Ðộ mà hoàng tử Lý Long Tường vượt biển sang Cao Ly năm 1226. Nhờ tài thao lược giúp Cao Ly chống phá quân Mông Cổ xâm lăng nên được phong chức Bạch Mã Tướng Công.

Chính tổng thống Lý Thừa Vãn cũng thừa nhận là hậu duệ đời thứ 25 của Lý Long Tường khi ông sang Việt Nam gặp tổng thống Ngô Ðình Diệm ngày 6/11/1958. Người nữa là hoàng tử Lý Dương Côn vượt biên sang Cao Ly năm 1150.

Còn Lý Quang Diệu thì sao?

Tuy ông không chấp nhận là người xứ Bưởi, nhưng không biết tại sao ông vấn vương đất nước nầy để truyền bá chủ thuyết xây dựng thành công nước Tân Gia Ba của ông nhờ độc đảng, độc tôn?

Riêng Gia Ðịnh, nhứt là Bình Dương lại có nhóm “Sơn Hội” do các sĩ phu đương thời lỗi lạc về văn học như cụ Chí sơn Trịnh Hoài Ðức, Nhữ sơn Ngô Nhân Tịnh, Kỳ sơn Diệp Minh Phụng, Bác sơn Hoàng Ngọc Uẩn vân vân…

Người Miền Trung và Miền Bắc

Trước kia giữa Trung và Nam còn vùng đất của Chiêm Thành, nên người Trung vào Nam phải đi vòng ra biển bằng ghe bầu, nên được người ta gọi là người bầu, hay người Huế.

Trên đường Nam tiến đó, thế nào cũng có các bậc nho sĩ, văn nhân, hiền tài không màng tới sự đời, đua chen, chém giết nhau vì miếng đỉnh chung bỏ vào Nam ẩn cư. Họ cũng mang theo cái bầu văn hóa, cái khí phách trượng phu của nhà nho, cho nên đôi lúc rảnh rỗi họ cũng làm văn thơ, ca dao, cho vơi đi nỗi buồn tha phương.

Vì vậy mới có những câu ca dao na ná như những câu ngoài Trung, ngoài Bắc. Ðôi khi họ cũng nhớ tới cố hương, kinh thành, cố đô, cho nên mới có câu:

“Ai về Bắc cho ta theo với,

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng.

Từ độ mang lương đi mở cõi,

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”.

Cũng vì sống trong sự an nhàn, sung túc ấm no do thiên nhiên ưu đãi, nên họ không cần lợi danh, phẩm trật vua ban. Họ chỉ học qua các quan quân rút lui khỏi chính trường, an nhàn ẩn cư, các cụ đồ nho ẩn sĩ mà thôi. Cũng vì vậy mà họ không thi cử, để kiếm chút danh lợi, phẩm tước, nhờ ơn mưa móc của triều đình.

Chính vì sống trong thanh bình, không đấu tranh, không bon chen mà họ trở nên hiền hòa chất phác. Cũng chính vì bản tính nầy mà lời nói nó nhẹ nhàng, chân thật, không chải chuốc, và trở thành nền tảng, đặc thù cội rễ của nền văn hóa miệt vườn Miền Nam.

Tiếng nói

Vì có nhiều sắc dân đến đồng bằng Ðồng Nai – Cửu Long sinh sống làm ăn, nên nơi đây có rất nhiều thứ tiếng như Trung Hoa, Miên, Lào, Ấn, Chăm mà người Nam gọi là Chàm.

Người Chăm quây quần vùng Tân Châu ở Châu Ðốc, sống với nghề tơ lụa gọi là lụa Tân Châu. Lụa nầy đặc biệt được nhuộm bằng trái mặc nưa chớ không phải bằng cau ăn trầu. Về tôn giáo họ thuộc đạo Hồi.

Người Miên sống rải rác ở nhiều tỉnh. Gần như hầu hết họ theo đạo Phậït và sống trong các sóc có chùa Miên với các sư sãi mà họ rất kính trọng còn hơn cha mẹ. Họ nói tiếng Miên.

Người Hoa, Minh Hương tập họp tại các thị xã, tỉnh thành sinh sống về nghề buôn bán. Họ tập trung nhiều nhứt ở Chợ Lớn. Phần đông theo đạo Phật, đạo Khổng và đạo Lão, đạo thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ, và đạo Công Giáo.

Có điều lạ là họ tụ tập mần ăn, buôn bán là có lập chùa Ông Bổn? Vậy ông Bổn là ai. Xin thưa, đây là tên người thái giám với chức Bổn đầu công Trịnh Hòa, thường hải hành khắp nơi (1403-1429) mua bán đồ quí của lạ, chỉ dạy người Hoa lưu vong làm ăn. Nhớ ơn ông họ lập đền thờ cầu tài.

Con trai người Hoa cưới vợ Việt không sao, còn con gái họ không cho lấy chồng Việt. Tại sao?

Bởi vì trong thâm tâm họ lúc nào cũng nặng tấm lòng quang phục nhà Minh. Ðây là tâm trạng chung của mọi người chúng ta trên ba mươi năm qua về việc Phục Quốc. Họ chăm lo gian khổ làm việc kiếm tiền nên khá giả. Lâu năm chầy tháng rồi họ cũng quên đi và hòa đồng với ta.

Cho nên mấy anh con trai Việt cay cú, ngạo như vầy khi mở lời trêu gái:

“Chợ Bến Thành mới

Kẻ lui người tới

Xem tứ diện thật xinh

Thấy em tốt dạng tốt hình

Chẳng hay có chốn duyên tình hay chưa?

Xin thưa về chuyện duyên tình,

Em đã có chốn gởi mình cho Thanh

Căn duyên đâu mà thấu tận bên Tàu

Họa chăng em thấy “tửng “ giàu em ham”.

Hầu hết số di dân trên nói tiếng nước họ, nhưng vì chung đụng, sinh sống hòa thuận với nhau, nên họ cũng lần lượt nói được tiếng của sắc dân khác. Từ đó nẩy ra những câu tục ngữ ca dao mang đầy sắc thái của sự hài hòa, pha trộn rất dễ thương. Người Việt có cách nói độc đáo là nói lái pha lẫn Việt Tàu như:

Sủi tài ngầu cập

(Nước lớn ngập cầu)

(Tiếng Hoa sủi tài là nước lớn. Ngầu cập là tiếng Việt nói lái tức ngập cầu).

“Xám cô dành sực dách cô xường tại”

(Có nghĩa là xám là ba, cô dành là người, sực là ăn, dách là một, còn xường tại lại là xoài tượng. Ba người ăn một trái xoài tượng)

Trong xã giao, ta thường nghe những tiếng hết sức ngây thơ, mộc mạc, hồn nhiên như: chệt, bá, hia, a mạ… rất là thân mật.

Còn thấy ai mát da mát thịt thì gọi phì lủ. Ông mập cũng đủ cho người ta cười rộ lên.

Trong việc nấu nướng, nhiều khi không biết từ đâu có “thịt kho Tàu”, vì người Hoa kho thịt không có nước màu, mà nhứt là nước màu bằng “nước màu dừa Bến Tre” mới lạ?

Ngay như “tôm kho Tàu” cũng không thấy ở các nhà hàng Tàu lớn hay nhỏ, mà chỉ có ở các tiệm cơm ta thôi. Nó kho bằng nước mắm, mặn nồng trong tô, gạch tôm lại màu đỏ thơm phức.

Hai món nầy là món ngon đặc biệt của dân lục tỉnh. Nó ngon đáo để, không bao giờ quên được. Trong lúc ra đồng làm ruộng rẩy, nhứt là có việc phải đi xa mà có tôm càng kho Tàu mà ăn với cơm vắt bằng tào cau thì hết xẩy. Bông sua đủa hay bông điên điển (hoàn toàn MN) luộc chấm nước tôm kho Tàu thì ngon không gì bằng. Nhắc tới thấy thèm chảy nước giải rồi. Nhớ quá đi thôi! Phải không quý vị?

Về đất nước và con người

Văn tài

Miền Nam có rất nhiều văn tài lỗi lạc, nhưng hầu hết là những người Minh Hương như: Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Ðức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Ðịnh, Phan Thanh Giản…Ðặc biệt nhứt là nhóm Gia Ðịnh Tam Thi Gia dưới thời vua Minh Mạng: Trịnh Hoài Ðức, Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Ðịnh.

Gia Ðịnh nổi tiếng có “Tam hùng”:

• Biên Hòa với Ðỗ Thành Nhân

• Gò Công với Võ Tánh

• Tân An với Nguyễn Huỳnh Ðức

Cho nên có câu hò giao duyên của người con gái như sau:

“Hò ơ… Nghe anh làu thông lịch sử,

Em xin hỏi thử đất Nam Trung:

Hỏi ai Gia Ðịnh tam hùng,

Mà ai trọn nghĩa thủy chung một lòng?…Hò hơ…

Người con trai đáp:

Hò ơ… Ông Tánh, ông Nhân cùng ông Huỳnh Ðức,

Ba ông hết sức phò nước một lòng

Nỗi danh Gia Ðịnh tam hùng:

Trọn nghĩa thủy chung có ông Võ Tánh.

Tài cao sức mạnh, trọn nghĩa quyên sinh,

Bước lên lầu bát giác thiêu mình như không!… Hò ơ…”

Ðây là ba hiền tài một lòng, một dạ phò chúa Nguyễn, vì nước vì quân vương mà hy sinh tánh mạng. Ngày xưa Gia Ðịnh gồm cả Biên Hòa, Ðồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh…

Chữ viết

Xưa kia ta dùng chữ Hán, các học giả ta mới nghiên cứu ra thứ chữ đặc biệt Việt Nam gọi là chữ Nôm. Chữ Nôm lại đứng dậm chân không phát triển thêm chút nào hết theo tiến trình của nền văn minh như Nhựt Bổn. Sự trục trặc là do các cụ đồ chưa rành ngữ học như bên Nhựt.

Giáo sĩ Pháp, Cha Alexandre de Rhodes cho ra cuốn Từ Ðiển An Nam-Bồ-Latin lần đầu tiên năm 1651.

Cũng may đến năm 1839, Tổng Giám Mục Pháp Pigneau de Behaine cùng Thầy Taberd rất rành về ngữ học mới biến cải lại thành chữ Quốc ngữ mà hiện nay ta sử dụng. (Pigneau de Behaine, giáo sĩ Bá Ða Lộc là người giúp chúa Nguyễn khôi phục giang san, hướng dẫn Hoàng tử Cảnh sang Pháp cứu viện).

Những nhân tài Miền Nam sử dụng và viết sách và từ điển như cụ Petrus Trương Vĩnh Ký (Quyển nầy bị cháy rụi theo nhà tôi năm Mậu Thân 1968). Nhà bác học Trương Vĩnh Ký cùng các ông Paulus Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký đều là nhà văn nhà báo đầu tiên của nước Việt Nam.

Về chữ nghĩa Miền Bắc và Miền Nam có chút ít khác nhau. Trong Nam ít dùng chữ Hán hơn tỉ như:

Miền Bắc                                 Miền Nam

Bản                                          Bổn

Hoàng                                      Huỳnh

Sơn                                          San

Hoa                                          Huê

Nhân                                        Nhơn

Phúc                                        Phước

Hòm, hòm thơ                       Rương/thùng, thùng thơ…

Lạ nhứt là người con đầu lòng, lớn nhứt lại gọi:

Anh cả, cậu cả                         Anh hai, thằng hai nhà tôi…

(Mẹ kêu con bằng cậu cả…)

Ngày Tết người Bắc cúng bánh chưng (trái đất hình vuông), bánh dầy (mặt trời hình tròn), còn người Nam cúng bánh tét. Sự khác biệt nầy được thể hiện qua cuộc di cư năm 1954, và sau ngày 30/04/75.

Văn nghệ

Người Miền Nam chẳng những biết thích nghi với cuộc sống, với khí trời oi bức lại có tinh thần sáng tạo không lệ thuộc với lễ nghi triều đình. Họ biến cải mọi thứ kể cả âm nhạc. Ðầu tiên là hát bộ (hát bội), đây là cách vừa hát vừa ra bộ, phải biết chút đỉnh mới hiểu được các động tác biểu diễn bởi các nghệ sĩ, như đi, cỡi ngựa vân vân… Hát bộ chỉ hát để cúng đình miễu, chỗ thờ phượng thần linh mà thôi.

Sau đó họ biến cải thành ca vọng cổ bắt nguồn từ Bạc Liêu. Ông Sáu Lầu nổi danh với bài vọng cổ hoài lang. Từ đó mới có hát cải lương. Chính vì vậy mà MN được coi như cái nôi của cải lương vọng cổ. Mỹ Tho cũng có nhóm cải lương. Riêng Vĩnh Long có Trương Như Toản, nhà nho, nhà ái quốc lại làm bầu và viết tuồng cải lương mới là lạ chớ. Về sau lại biến cải, phối hợp vọng cổ với tân nhạc thành tân cổ giao duyên, rất thích hợp vì nó làm hài lòng người ủng hộ của cả hai nền ca nhạc.

Ðạo giáo

Ngoài các đạo giáo lớn như Phật, Khổng và Lão Giáo còn có Thiên Chúa Giáo và Tin Lành du nhập vào do bọn thực dân mang tới. Người dân Nam Bộ kết hợp biến cải các đạo trên thành nền đạo giáo bản xứ từ hai vùng đồng bằng Cửu Long và Ðồng Nai mấy triệu tín đồ.

Thất Sơn huyền bí, An Giang có Ðạo Hòa Hảo. Khởi đầu là do ông Ðàm Minh Huyền lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương (1849) lấy Tứ Ân như giáo lý.

1. Ân tổ tiên cha mẹ

2. Ân đất nước

3. Ân Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng)

4. Ân đồng bào nhân loại

Ðạo đức của ông được người đời kính trọng, tôn vinh như Phật sống, nên được gọi là Phật Thầy Tây An và lập đền thờ ông ở Châu Ðốc. Ông còn là nhà cách mạng trước đây.

Năm 1939, Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ thay thế ông và đổi thành Phật Giáo Hoà Hảo. Tín hữu mặc đồ nâu dà, ăn chay trường… và chuyển về làng Hòa Hảo, quê ông ở Châu Ðốc.

Tây Ninh có núi Bà Ðen, Ðiện Bà huyền linh và Ðạo Cao Ðài do ông Ngô Văn Chiêu sáng lập năm 1926. Nó bao gồm nhiều đạo giáo hợp thành Thiên giáo và vị giáo chủ đầu tiên là ông Lê Văn Trung. Về sau có Ðức Hộ pháp Phạm Công Tắc.

Lưu thông, vận chuyển

Nói tới MN thì ai cũng chỉ nghĩ tới những cánh đồng lúa bao la cò bay thẳng cánh, chớ ít ai nghĩ tới MN còn có đặc điểm là một hệ thống sông ngòi chằng chịch từ hai nhánh sông Tiền và sông Hậu của sông Cửu Long. Chính nhờ nó mà ghe xuồng lưu thông khắp nơi và vận chuyển hàng hóa rất dễ dàng từ Cà Mau về tới Sàigòn.

Cũng vì vậy mà MN có cái đặc sắc là chợ nổi, nổi tiếng nhứt là chợ nổi Cái Bè. Vì Cái Bè trước kia thuộc Vĩnh Long, còn là dinh Trấn Vĩnh Thanh về sau chuyển về Long Hồ. Cho nên ghe chài, xuồng, tam bản chở đầy hoa quả tấp nập, tụ họp lại buôn bán rất vui nhộn nhịp.

Khi Cần Thơ được mở mang, thì chợ nổi Ngả Bảy nổi lên vì qui tụ các con kinh rạch, trở nên rất sầm uất với kẻ buôn người mua suốt ngày.

Các ghe xuồng thường khoe sản phẩm trên cây kèo móc để ai muốn mua gì thì tìm thấy ngay.

Trong đêm trăng thanh vắng, tưởng chừng như ngáy ngủ, lại trổi lên tiếng đờn cò, đờn kìm với mấy câu vọng cổ mùi mẫn!

Hò Ơ… chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm

Cơng tơi cực lắm mưa nắng dãi dầu

Chiếu nầy tơi chẳng bán đâu

Tìm cơ khơng gặp

Hò ơ tìm cô không gặp, tôi gối đầu mỗi đêm

(Tình anh bán chiếu)

Nó nói lên nỗi niềm cơ cực, đau buồn đời thương hồ rày đây mai đó, lại mang nặng mối tình câm dang dỡ!

Ðịa linh nhân kiệt

Về địa linh nhân kiệt, Tây Ninh với giáo hữu Cao Ðài có những vị từng là nguyên thủ quốc gia như Nguyễn Phan Long, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Văn Lộc (Về sau ông làm Viện trưởng Viễn Ðại học Tây Ninh).

Vĩnh Long tuy không có núi non huyền bí, rừng rậm âm u như bưng biền Cao Lãnh, lại là cái nôi cuộc Cách mạng Miền Nam, có nhà Bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký, nguyên thủ quốc gia có Thủ tướng Trần Văn Hữu, Trần Văn Hương, Nguyễn Văn Lộc và sau nầy có Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt…

Chủ quyền Miền Ðồng bằng Ðồng Nai-Cửu Long

Nhà văn Sơn Nam, từng sống chết với vùng đồng bằng sông Cửu Long, mô tả nơi đây xưa kia đầy thú dữ, nhứt là vùng U minh Chèm Chẹm:

“Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um”.

Nhà khảo cổ Vương Hồng Sển lại có ý nghĩ nơi đây “Chim trời cá nước, đất rộng người thưa, ai bắt được nấy nhờ”.

Cũng có giả thuyết cho rằng đồng bằng Nam bộ xưa kia không trực thuộc của người Khơme. Thật vậy, trên mảnh đất nầy không có vết tích văn hóa Khơme ngoài vài địa danh mang tên Khơme. Người Khơme đi tới đâu đều lập chùa cúng bái, những ngôi chùa nầy lại xây cất không lâu.

Chính vì vậy mà cụ Vương Hồng Sển dứt khoát về chủ quyền vùng đất nầy là: “Một điều khác cần nói rõ thêm, là đất Miền Nam của bán đảo Ấn Ðộ-Chi Na cũng không phải thiệt thọ phần đất phụ ấm của Khơme. Sự thật thì giống thổ dân tiên chiếm vùng nầy là giống Phù Nam, đã bị tiêu diệt từ thế kỷ thứ VII”.

Nhà văn Bình Nguyên Lộc chuyên khảo cổ về nguồn gốc Dân tộc Việt Nam dựa theo tài liệu của ông Pièrre Dupont (B.S.E.I. 1949) đã xác nhận người Cao Miên không ở được đất nê địa như Nam Kỳ (8). Hơn nữa trên dãy đất này, chúng ta đã phát hiện nền văn hóa xưa ở Óc Eo thuộc xã Mỹ Lâm, Ba Thê, Long Xuyên (An Giang) đó là văn hóa Phù Nam.

Gần đây có nhiều tài liệu nghiên cứu mới cho thấy không riêng gì An Giang mới có văn hóa Óc Eo, mà nó có rải rác nhiều nơi trên đồng bằng Nam Bộ: Bến Tre, Mỹ Tho, Vĩnh Long.

Các nhà khảo cổ như Ts Vũ Thế Long, Trần Anh Dũng, Lai Văn Tới đã khai quật trong những năm 2003, 2004, 2005 tại Giồng Nổi tìm thấy di tích văn hóa Óc Eo của Phù Nam.

Nam Kỳ Lục Tỉnh

Toàn bộ vùng đất Miền Nam được Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt làm Phủ Gia Ðịnh năm 1698. Sau đó, Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần bị anh em Tây Sơn đánh bật khỏi miền Trung chạy vào Nam và bị Nguyễn Lữ bắt giết hết gia đình năm 1777 tại Long Xuyên. Người sống sót là Nguyễn Phúc Ánh lấy lại Phủ Gia Ðịnh năm 1779, rồi phục hồi giang san năm 1801. Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long (1802 tới 1820).

Khi Pháp chiếm Nam kỳ thì họ gọi là Chochinchine. Tại sao?

Theo Nhà văn biên khảo các tỉnh Miền Nam, thì vì công chúa Ngọc Vạn xinh đẹp nên vua Miên gọi là Cô Chín Xinh. Khi Tây hỏi đất Thủy Chân Lạp là đất gì? Vua Miên liền nói: Cô Chín Xinh.

Người Pháp lại phiên âm thành: Cochin-chine. Từ đó mới có tên là Cochinchine? (Vĩnh Long Quê hương trong trí nhớ, Nhật báo Chiêu Dương, tr 30, ngày 13/9/1997).

Theo Emilie Aymonier thì Nam Kỳ có tên là Cochinchine. Marco Polo vào thế kỷ XIII cho là Giao Chỉ (Kiao Tche),

Caugigu (Giao Chỉ Quốc), Giao Chỉ Quận.

Miền Nam được chia làm 3 trấn năm 1779: trấn Biên tức Biên Hòa, Phan trấn tức Gia Ðịnh và Ðịnh Tường và Long Hồ tức Vĩnh Long và An Giang. Sau đó, ngày 17 tháng 6 năm 1805, Gia Long lại chia Miền Nam làm 5 trấn:

1. Trấn Biên (Biên Hòa)

2. Phan Trấn (Gia Ðịnh)

3. Vĩnh Trấn (Vĩnh Long và An Giang)

4. Ðịnh Trấn (Ðịnh Tường) và

5. Hà Tiên

Ðến năm 1832, vua Minh Mạng lại chia thành 6 tỉnh thường được gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh: Phiên An (Gia Ðịnh), Biên Hòa, Ðịnh Tường, Vĩnh Long (Vĩnh Long, Sa Ðéc, Trà Vinh và một phần Bến Tre như Chợ Lách), An Giang (Long Xuyên, Châu Ðốc) và Hà Tiên (Hà Tiên, Rạch Giá tức Kiên Giang)

Thời Pháp thuộc, năm 1899, Toàn quyền Paul Doumer chia Lục Tỉnh thành 20 tỉnh. Có người viết thành vận như sau để dễ nhớ:

“Gia Châu Hà Rạch Trà

Sa Bến Long Tân Sĩc

Thủ Tân Biên Mỹ Bà

Chợ Vĩnh Gị Cần Bạc”

Sau lại rặng thêm tỉnh Cap St Jacques (Vũng Tàu), thành 21 tỉnh để dễ bề cai trị.

Ðến thời TT Ngô Ðình Diệm lại sanh thêm tỉnh Chương Thiện và Mộc Hóa…Về sau các tỉnh phân chia, thay đổi luôn nên rất khó mà nói nguồn gốc của danh nhân hay xuất xứ của ca dao. Thí dụ Sa Ðéc khi thì là quậân của Vĩnh Long, khi là tỉnh, bây giờ là quận của tỉnh Ðồng Tháp/Cao Lãnh.

Miền Nam mà thực dân gọi là Cochinchine có diện tích 65.000 km vuông, cũng bị thay đổi tên qua các thời đại như:

• Nam Kỳ 1833-1945

• Nam Bộ 1945-1949

• Nam Việt 1949-1955

• Nam Phần 1955-1975

Chỉ có địa danh Sàigòn đã có từ 1698 cho tới nay.

Vì Gia Ðịnh là phủ nên được cho thành lập trường thi. Người sĩ tử đầu tiên Miền Nam là cụ Phan Thanh Giản (1796-1867). Ông đỗ Cử nhân ở Gia Ðịnh năm 1825, năm sau 1826 đỗ Tiến sĩ tại Triều đình Huế.

Về sau có rất nhiều danh tài khác như Thủ khoa Nghĩa tức Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Ðình Chiểu, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, vân vân… Cho nên có câu nầy:

‘Vĩnh Long có cập rồng vàng

Nhứt Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuẫn Thần.’

Phan Tuẫn Thần ý nĩi cụ Phan Thanh Giản thấy ý đồ của Pháp muốn chiếm hết ba tỉnh Miền Đơng, giờ lại lấy ba tỉnh Miền Tây, nên uống độc dược tuẫn tiết, để tỏ lòng “Tận trung báo quốc”. Cụ đồ Chiểu ca ngợi: “Lịch sĩ tam triều độc khiết thân”

Về đất nước và con người:

Tất cả những người từ các miền đất nước đến đây lập nghiệp, sống hài hòa với cảnh trí mà họ tạo lập với các sắc dân khác. Họ không bị ảnh hưởng của nền văn hóa Óc Eo của Phù Nam. Trái lại họ có nhiều nghị lực, khai khẩn rừng rậm hoang vu, phấn đấu với thiên nhiên, dã thú và thích nghi với thời tiết khắc nghiệt để tạo nên nền văn hĩa đặc thù, cá biệt Miền Nam hay đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Nai. Phải nói là cảnh vật thiên nhiên ảnh hưởng tới con người. Họ khơng bon chen, tranh danh đoạt lợi, sống hài hịa trên cánh đồng hay mảnh vườn tươi mát, vui thú điền viên, bạn cùng cây cỏ. Chính vì vậy mà họ cần cù, thật thà, chất phát, quê mùa như đồng ruộng xanh tươi bao la bát ngát, gió mát trăng thanh…

Tuy coi lơ tơ mơ như vậy, song họ có sáng tạo về mọi phương diện để không hổ danh với cái quê miệt vườn của mình. Tuy khờ khạo, lại quý trọng nghĩa tình, biết vui vầy giúp đỡ lẫn nhau trong lúc lỡ làng. Vì là vùng quê vắng vẽ, đi tới đâu thì không thể về liền được, nên họ hiếu khách, mời đãi như người thân. Đối với họ, đãi khách coi như thêm chén cơm đôi đũa mà thôi.

Họ không câu nệ, thắc mắc. Ai có việc muốn quá giang, họ sẳn sàng chiều ý, xin mời lên xuồng đưa qua sông.

Nhờ thiên nhiên ưu đãi, đời sống dư dã, nên họ hào phóng, không keo kiệt. Đối với miền Nam, tình người là trên hết. Tuy quê mùa mà họ lại có tinh thần dân tộc và yêu nước rất cao. Những anh hùng chống thực dân Pháp như Trương Cơng Định, Thiên hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị… Ngay những người Tây học cũng đấu tranh ở nghị trường chống Tây đòi độc lập tự do. Họ hết mình bảo tồn mảnh giang san nầy.

Công ơn:

Dầu sao đi nữa, chúng ta cũng phải cám ơn công lao, đức độ của Công chúa Ngọc Vạn đã hy sinh trọn đời cho chồng là quốc vương Miên và thần dân của chồng. Sau khi chồng qua đời, Công chúa cùng các minh chúa ta hết lòng giúp đỡ con cháu vua Miên gây dựng cơ đồ. Nhờ đó mà các vua Miên cảm kích, tự động hiến tặng khi vùng nầy, khi vùng nọ để rồi chúng ta có cả vùng đất phì nhiêu của đồng bằng Ðồng Nai – Cửu Long ngày nay.

Mảnh đất nầy đã nối liền với Miền Bắc và Trung tạo thành một dãi đất trải dài từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau. Ðất nước Việt Nam hình cong như chữ S mến thương, tuy nhỏ bé, nghèo nàn bởi dựa lưng dãy Trường Sơn, bên bờ Thái Bình Dương mà tôi không bao giờ quên được.

Chính Công chúa Ngọc Vạn đã đem về cho quốc gia dân tộc một dãy giang san gấm vóc trù phú từ đất phù sa được mệnh danh là vựa lúa, vựa cá, vựa khô, trái cây nhiệt đới, xoài riêng, nhãn, chôm chôm, măng cụt… Vùng đất đỏ lại mang lại tài nguyên càphê, cao su vân vân mà không được ai nhắc tới thật đau lòng cho nữ nhi anh tài.

Ðây là một thiếu sót, không công bằng! Chúng ta phải ghi công ơn của bà Công chúa nầy. Nếu không có tài sắc, từ tâm, khiêm tốn thì Công chúa không chu toàn nghĩa vụ người vợ, người mẹ, người bà với đất nước nhà chồng và nghĩa vụ của một công dân nước Cao Miên mang dòng máu Việt Nam.

Công chúa đã làm tròn nghĩa vụ công dân của hai nước Việt-Miên, nghĩa vụ người phụ nữ vẹn toàn với nền lễ giáo Khổng Mạnh: “Công dung ngôn hạnh”, “Tứ đức tam tòng”

Nếu không có bà, chúng ta thật sự không có mảnh đất phì nhiêu Ðồng Nai & Cửu Long mà đứng, mà sinh sống!

Tôi thương yêu mảnh đất nầy, vì chính nó đã chứng kiến ngày tôi sinh ra, chôn nhau cắt rún và lớn lên thành nhân. Không có công lao của bà và các tiền nhân vô danh hy sinh phấn đấu khắc phục thiên nhiên, khai khẩn rừng rậm hoang vu, đầy thú dữ, thì chúng ta không có mảnh đất thân thương sông nước Nam Kỳ Lục Tỉnh hôm nay.

Chúng ta đã thừa hưởng thành quả tốt đẹp của nàng công chúa cao sang quyền quí nầy, chúng ta có bổn phận gìn giữ để ghi nhớ công ơn của bà đã mở mang bờ cỏi, để ta có mảnh đất phì nhiêu, với những dòng sông ẩn bóng dưới rặng dừa, tưới nước phù sa lên những cánh đồng xanh tươi xinh đẹp, mang lại sức sống cho dân ta.

Rất tiếc cho đến hôm nay, chúng ta cũng không biết di tích lịch sử, nấm mộ hay lăng tẩm của bà ở đâu, như thế nào, để mổi người chiêm ngưỡng, lễ bái một nén hương cho ấm lòng đấng anh hào quần thoa liệt nữ. Ta chỉ nghĩ và biết qua loa là có một sư cô tuyệt sắc như tiên, giàu lòng từ bi ở chùa nào đó ở Biên Hòa thôi. Nữ anh hùng Jeanne d’Arc (1412-31) của Pháp đã hiển thánh. Có lẽ Công chúa Ngọc Vạn linh thiêng, từ trên trời cao luôn phù hộ và bảo vệ non sơng gấm vóc ngày càng phồn thịnh của dân tộc ta.

Hi vọng sẽ có nhà nghiên cứu tìm ra manh mối để lập đền thờ một tiền nhân đã cĩ cơng xây dựng đất nước. Con cháu hậu lai phải ra công gìn giữ và bồi đấp.

Cũng từ đây, non sông gấm vóc đất nước Việt Nam ta chạy dài từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau.

Sau khi đánh tan quân nhà Tống, tướng Lý Thường Kiệt dõng dạc tuyên bố:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư.”

Cụ Hoàng Xuân Hãn dịch:

“Sông núi nước Nam vua nước Nam coi,

Rành rành phân định ở sách trời.

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,

Bây sẽ tan tành chết sạch toi”.

Ðây bản đồ Miền Nam

Hồi niệm, tri ân công đức một liệt nữ đã chịu hy sinh để mở rộng bờ cỏi… không ai không khỏi xót xa khi có những người chỉ vì ham danh lợi, mãi quốc cầu vinh mà quên bảo vệ đất nước dân tộc, công lao của tiền nhân!

Dầu xa quê hương, xa “quê mẹ”, hồn thiêng sông núi lúc nào cũng canh cánh bên tôi. Tôi không bao giờ quên được cái dãi đất mến yêu với tràn đầy kỷ niệm lúc ấu thời. Lúc nào nó cũng sống mãi trong tim tôi, không bao giờ quên được.

Xin không quên, kết thúc bài nầy bằng câu ca dao:

“Chim xa rừng thương cây nhớ cội,

Người xa người trôi nổi lắm nơi.

Nước non là nước non Trời,

Ai chia đặng nước, ai dời đặng non!

Chú giải

(1) Công chúa là người con gái của vua. Ở đây Ngọc Vạn, Ngọc Khoa là con gái của chúa Nguyễn thật ra không được gọi là công chúa mà phải gọi là Công Nương mới đúng. Xin tha cho việc tiếm chức, vì muốn nó hay hay vậy thôi.

(..)Bài thơ bất hủ làm cho tôi xúc động nhớ quê hương mến yêu

Ta terre natale

Pourquoi le prononcer ce nom de la patrie?

Dans mon brillant exil mon coeur en a fremi;

Il resonne de loin dans mon âme attendrie,

Come les pas connus ou la voix d’un ami.

Montagnes que voilait le brouillard de l’automne,

Vallons que tapissait le givre du matin,

Saules dont l’emondeur effeullait la courone,

Vielles tours que le soir dorait dans le lointain,

Murs noircis par les ans, coteaux, sentier rapide,

Fontaine où les pasteurs accroupis tour à tour

Attendaient goutte à goutte une eau rare et limpide

Et, leur urne à la main, s’entretenaient du jour,

Chaumière où du foyer étencelait la flamme,

Toit que le pèlerin aimait à voir fumer,

Objets inanimés, avez-vous donc une âme

Qui sáttache a notre âme et la force d’aimer?…

Alphonse de Lamartine

(…) Có phải Chế Mân ngu khờ, dại gái cắt đất trao tặng hai Châu Ô và Châu Lý cho ta để làm quà cưới công chúa không?

Thật ra sau khi nhà Trần với danh tướng Trần Hưng Ðạo đánh đuổi được quân Nguyên hùng mạnh, Chế Mân muốn giảng hòa sống chung hòa bình với nước ta. Hơn nữa ông ta cũng không có thua thiệt chi hết. Vì theo như Tôn Thất Tuệ, trong bài “đôi nét về Huế” thì vua Gia Long xây thành Huế sau khi thống nhất giang san. Thật ra Huế hay Thuận Hóa xưa kia là một phần của nước Văn Lang thời Hồng Bàng. Dưới thời vua Trưng Nữ Vương nó thuộc quận Nhật Nam trong Ngũ Lĩnh bị Chiêm Thành đánh lấy trong thời Bắc thuộc. Hai nước đã phân tranh với nhau từ lâu.

Như vậy, đây chỉ là một việc trao trả mà thôi. Hư thiệt chưa rõ. Xin kiểm chứng lại.

SÁCH ÐỌC THÊM

1 Huỳnh Minh, Tây Ninh Xưa và Nay, 1972.

2. Lãng Nhân, Công Nương Ngọc Vạn và Công Nương Ngọc Khoa, Làng Văn tr 25-28.

3. Lê Quang Hiền. Di Chỉ Giòng Nỗi Bến Tre, TS ÐN & CL số 1, 3/2007, tr 29.

4. Mường Giang, Champa, Chiêm Thành tự làm vong quốc. Văn Nghệ 17/08/06 Sydney.

5. Nam Sơn Trần Văn Chi, 300 năm Văn Minh Miệt Vườn. Việt Luận 4/12/07, tr 28

6. Ngô Kim Khôi: Huyền Trân và Công Chúa Vương Quốc Chiêm Thàmh, Chiêu Dương18/12/04 tr 54…

7. Nguyên Văn Khậy, Kampuchea Trong Bối Cảnh Chiến Tranh Ðông Dương, 2003

8. Nguyễn Viết Kế: Kể chuyện các nhà vua đời Nguyễn, NXB Ðà Nẵng, 2006.

9. Phạm Thế Ðịnh: Chung quanh nhân vật lịch sử: Huyền Trân Công Chúa. Việt Luận số 1033 (Tues. Oct. 17, 1997)

10. Phan An: Người Hoa ở Nam Bộ, NXB Khoa Học Xã Hội 2000

11. Phan Giang Sang: Tuyển Tập PGS 1, 2007 tái bản 2007

12. Phan Lạc Phúc: Huyền Trân Lịch sử, TB Việt Luận ngày 25/3/05, số1975 tr 50-51

13. Thái Văn Kiểm: Ðất Việt Trời Nam.

14. Thi Long: Nhà Nguyễn Chín Chúa mười ba Vua, NXB Ðà Nẵng, 2005

15. Thi Long: Truyện kể về các Vương Phi, Hoàng Hậu nhà Nguyễn, NXB Ðà Nẵng, 2006.

16.Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược tr 19, 167, Ðại Nam XB 1971

17. Trương Ðình Tin: Vua Chúa Việt Nam qua các triều đại, NXB Ðà Nẵng.

18. Vĩnh Long Ðịa Linh Nhân Kiệt, Hội Ðồng Hương Vĩnh Long Ấn hành, 2006.

19. Võ Sĩ Khải: Văn Hóa Ðồng Bằng Nam Bộ, NXB KHXH, 2002

20. Xin cám ơn anh Vương Kim Hùng đã gởi tặng mấy câu nầy.

21. Tôn Thất Tuệ, Đơi nét về Huế, Nhật báo Chiêu Dương, 1-11-2008,Tr.52,

22. Trần Thanh Thuận, Đơi nét về tính cách người Nam Bộ, Báo Việt Luận, thứ Ba 06/03/2009, trang 30.

23. Trần Thị Hồng Sương, Những vị Nữ vương, Cơng chúa Việt, Báo Việt Luận số 2408, thứ Sáu 23/10, 2009, Trang 65