“Trong số những bạn đồng nghiệp, tôi yêu nhất nhạc sĩ Lê Thương. Anh rời Bến-Tre lên Sài-Gòn làm nghề thầy giáo. Lê Thương làm thơ, viết nhạc bay bướm nhưng anh có cuộc sống rất giản dị. Lê Thương chuyên soạn nhạc cho thiếu nhi, thiếu niên qua những bài ‘Thằng Cuội’, ‘Tuổi thơ’, v.v… Bài ‘Bà Tư bán hàng’ và bài ‘Học sinh hành khúc’ phổ biến đến độ có những câu bị sửa lời ca. Tôi vẫn quan niệm, bài hát nào có lời ca nhại là bài hát thành công nhất .. Trong làng tân nhạc, Lê Thương là người trí thức nhất”

(Nhạc sĩ Phạm Duy)

“Tôi không hẳn là người tiền phong của tân nhạc Việt-Nam vì trước đó đã có những vị sáng tác từ lâu. Nhưng có lẽ người kích động tôi nhất để đi theo âm nhạc thì đó là anh Lê Thương. Những dòng nhạc của anh đem lại hơi thở của một giai điệu Việt-Nam”

(Nhạc sĩ Văn Cao)

“Nơi xứ dừa tỉnh Kiến-Hòa (tỉnh Mỹ-Tho sau này), lúc đó còn là cù lao An-Hóa, tình trạng dao động của một tâm hồn ưu tư về thời cuộc (Nhật chiếm Lạng Sơn 1940 rồi tràn vào Hải-Phòng Hà Nội và tôi vào Nam năm 1941) hòa nhiễm nỗi lòng chinh phu trong văn thơ đưa tôi đến việc sáng tác lần hồi 3 bài ‘Hòn vọng phu’ thành một truyền kỳ cảm động. Mang nặng mối tình nước non đang xao xuyến, phân vân trước bao nhiêu nghi vấn của đời người nên tôi gởi thác tâm tình vào để tài dân tộc là tích người đàn bà hóa đá”

(Nhạc sĩ Lê Thương)

1. Nhạc sĩ Lê Thương 

Nhạc sĩ Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ (1914-1996), sinh quán ở Nam-Định nhưng theo hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy, Lê Thương sinh năm 1913 tại Hà-Nội và là thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Ngoài nghề dạy học ở Hà-Nội và Hải-Phòng, Lê Thương nuôi dưỡng niềm đam mê âm nhạc chất ngất. Ông cùng các bạn Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức nhạc sĩ Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân lập ra nhóm sáng tác “Đồng vọng” và hát phụ diễn cho chương trình thoại kịch của Thế Lữ ở Hải-Phòng cũng như đi lưu diễn tại các vùng phụ cận. 

Năm 1941, Lê Thương vào miền Nam và sống ở Bến-Tre rồi chuyển lên Sài-Gòn. Năm 1945, ông tham gia kháng chiến chống Pháp rồi bị bắt giữ và được phóng thích vài năm sau đó. Từ năm 1954 đến 1975, Lê Thương làm công chức ở Trung tâm học liệu, bộ Quốc gia giáo dục, giảng viên trường Quốc gia âm nhạc & kịch nghệ và là giáo sư nơi một số trường trung học ở Sài-Gòn. Tuy nghề chính là dạy học nhưng Lê Thương được công chúng biết đến là một nhạc sĩ tài danh.

Ngoài ra, Lê Thương còn tham gia ban thoại kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch và sáng tác nhạc nền cho nhiều vở kịch, nhạc phim (soundtrack) cho những cuốn phim truyện của hãng phim Mỹ Vân.

Sau năm 1975, ông không tham gia hoạt động văn nghệ và sống lặng lẽ bên lề âm nhạc. Những năm cuối đời, Lê Thương bị mất trí nhớ và âm thầm qua đời ở tuổi 83.

Nhạc sĩ Lê Thương, thứ nhì từ trái qua

Tên tuổi Lê Thương đến được với đông đảo công chúng qua nhạc phẩm “Bản đàn xuân”, “Thu trên đảo Kinh Châu”, nhạc phổ thơ (“Lời kỹ nữ”, “Tiếng thùy dương” tức “Ngậm ngùi”, “Tiếng thu”, v.v..), nhạc thời kháng chiến (“Lòng mẹ Việt-Nam”, “Bà Tư bán hàng”, v.v..), nhạc hài hước, nhạc thiếu nhi (“Con mèo trèo cây cau”, “Thằng bé tí hon”, “Học sinh hành khúc”, “Thằng Cuội”, v.v..) và một loạt truyện ca nhưng thành danh với bản trường ca “Hòn vọng phu”. Từ những câu thơ trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” đã in sâu vào tiềm thức những ngày còn đi học cho đến khi có dịp đi tận nơi, ngắm nghía tận mắt những tượng đá vọng phu ở Đồng-Đăng, Phú-Yên, Hà-Tiên (vịnh Thái-Lan), nhạc sĩ Lê Thương ấp ủ thành những cung bậc đầu tiên cho nhạc phẩm “Hòn vọng phu” và tiếp theo là “Ai xuôi vạn lý”, “Người chinh phu về” lần lượt ra đời trong những năm 1943, 1946 và 1947.

2. Bản trường ca “Hòn vọng phu”

Từ hình ảnh người vợ mòn mỏi chờ chồng đến hóa đá, nhạc sĩ Lê Thương muốn kể lại câu chuyện chia cắt của hai vợ chồng bởi cuộc binh đao và khi người chồng trở về thì đã muộn màng, người vợ tào khang không còn trên dương thế nữa .. 

Phần thứ nhất là “Đoàn người ra đi” (Hòn vọng phu 1) nhắc đến chiến cuộc đi qua vùng đất này và trai tráng theo lệnh vua lên đường tòng quân cứu nước. Gác lại tình riêng và tạm biệt thê nhi với lời hẹn ước sẽ trở về sau khi yên giặc. Người đi ngoài vạn lý quan san và người ôm con đứng chờ trong bóng cô đơn. Hình ảnh vợ tiễn chồng trong “Chinh phụ ngâm khúc” của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm được đưa vào âm nhạc oai hùng nhưng xao xuyến nỗi bi ai khi người tung hoành bên núi xa xăm và người ở lại mong chồng còn đứng muôn năm.

“Ai xuôi vạn lý” (Hòn vọng phu 2) là phần tiếp nối của ngày đưa tiễn. Đông tàn, xuân mãn, thời gian cứ mải miết trôi mà người vợ vẫn bặt tin chồng. Chiều từng chiều, nàng vẫn bồng con mong ngóng và nuôi nấng một niềm hy vọng. Dẫu “đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ” nhưng sao chỉ thấy mình cô lẻ giữa đất trời quạnh hiu, trơ vơ cây cỏ. Chàng vẫn chưa về và nàng vẫn chờ, vẫn đợi. Nắng mưa sương gió và bụi thời gian phủ nhạt nhòa lên tấm thân cô phụ, “thấm vào đến tận tâm hồn đứa con”. Nàng dần tuyệt vọng và thầm nhủ “thôi đứng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ, những người mang mệnh biệt ly”. Nàng và con hóa đá sau bao tháng ngày mòn mỏi chờ mong. 

Đoạn kết “Người chinh phu về” (Hòn vọng phu 3) là hình ảnh người chồng sau khi báo đáp ơn nhà, nợ nước và vượt qua bao đồi núi cheo leo với cây rừng rườm rà kể cả những gian khổ, hiểm nguy đã giữ tròn lời hứa trở về với người vợ tào khang. Nhưng hỡi ôi, bèo nước khó thể tương phùng, duyên nợ vợ chồng hết còn cơ hội sum vầy. Nàng ôm con và hóa thành tượng đá ngàn năm. Chàng lầm lũi bước chân đi trên phiến đá mòn còn in dấu để niềm ray rức ghi khắc trong lòng cũng như nỗi tiếc thương sẽ còn được lưu truyền cho đến muôn đời sau.

Theo nhạc sĩ Lê Thương thì bản trường ca Hòn vọng phu với những tình cảm êm đềm lẫn ghê rợn và tuyệt vọng mà ông chắp nối dần các tình tiết thành một truyện ca. Cho đến ngày nay, giới thưởng ngoạn của nhiều thế hệ tiếp nối vẫn đón nhận nhiệt tình và báo chí đánh giá tác phẩm “Hòn vọng phu” là một đóng góp lớn lao cho nền tân nhạc Việt-Nam. Ngoài ra, bản trường ca được xem như một vở nhạc kịch kể lại câu chuyện cổ tích dân gian Việt-Nam dù được tác giả sáng tác theo kỹ thuật âm nhạc Tây phương.

TV, 15.09.2026