Xin gửi nghiêng mình trước sự hy sinh lớn lao của các bác, các chú, các anh, những người lính trong quân lực VNCH đã bỏ bao máu xương để bảo vệ miền Nam tự do, dân chủ và thịnh vượng trong suốt hơn 20 năm!

Cuộc di tản hoảng loạn vào tháng 3/1975 đánh dấu bước đầu sự sụp đổ hoàn toàn của chính thể VNCH vào tháng 4 cùng năm vẫn chưa có câu trả lời xác đáng. Những oan hồn trên “Pháp Trường Cát”, bãi biển Thuận An, trong đó có bao đồng đội TQLC của niên trưởng Petrus Ký, cựu thiếu tá mũ xanh Tô Văn Cấp đã mãi mãi trở thành những chiến sỹ vô danh của lịch sử Việt Nam cận đại.

Xuân đến trên đất người
Xa nửa vòng trái đất
Tuyết vẫn mịt mù rơi
Xám thay màu xanh ngắt

Tháng ba của hôm nay
Thanh bình và êm ả
Hồn chợt nghe đắng cay
Lệ tuôn về biển cả

Của Non Nước bến xưa
Anh và tôi tắm máu
Tối, sáng rồi vẫn chưa
Ra được nơi tàu đậu

Bom đạn bủa vây quanh
Bàng hoàng thêm ngơ ngác
Đói, khát, thân từng mảnh
Biển hờn ôm đầy xác!

Tôi đứng, anh nằm kia
Đồng đội xen dân lành
Những tấm bia đỡ đạn
Oan nghiệt thấu trời xanh?!

Thịt xương vùi trong cát
Gào thét lẫn rỉ rên
Máu trào tuôn thành thác
Trắng mắt đã bao đêm!

Tối hậu thư, hoảng loạn
Sau ngày Ban Mê mất
Quảng Trị, Huế tan hoang
Và đây, “pháp trường cát”!

Như đàn ong vỡ tổ
Dân khóc lóc theo quân
Dân quân đều thống khổ
Trong binh biến, nghiệp trần!

Trên không chẳng thể vào
Tiếp cứu lúc nguy nan
Từng giờ thêm chao đảo
Sóng oà lên, vỡ tan!

Hụp lặn trong sóng nước
Cứu tôi hay kéo anh
Tàu xa dần, mỗi bước
Nhân sinh, sao nỡ đành?!

Ai lên tàu ngỡ thoát
Bom đạn vẫn chưa tha
Loài sa- tan tàn ác
Người thoát bỗng thành ma!

Xuôi Nam dòng người đổ
Vĩ tuyến thôi đã xa
Tim nát theo thành cổ
Đâu rồi Huế của ta?!

Xương máu bao đồng đội
Từng giọt rơi chiếm lại
Mậu Thân, còn thương tiếc
Huế, nào đâu đã phai

Quảng trị mùa hè ấy
Hòm gỗ, thiếu hoa cài
Hy sinh thân đắp núi
Cờ vàng phất thêm oai.

Xuôi Nam, dòng người chạy
Tim, áo rách tả tơi
Súng kia đành phải gãy
Lệ đẫm ướt, mưa rơi!

Xác mẹ cha, chồng vợ
Anh chị em, bạn bè
Người già đến trẻ thơ
Mạng người sao nhỏ bé?!

Tháng ba mỗi bận về
Hồn oan còn than khóc
Nước biển mặn sơn khê
Xót Thuận An tang tóc

Anh và tôi, người lính
Ngả nghiêng cùng núi sông
Đồng đội chung một nấm
Mồ hoang ai khóc trông?

Nửa kia vòng trái đất
Tượng đài có tên anh?
Khắc ghi lòng cao cả
Của chiến sỹ vô danh

Tuyết vẫn rơi mù mịt
Giá buốt cắt tim ta
Quê hương còn vời vợi
Nửa Đường, ôi Tháng Ba!

Khiếu Ngọc Lam

Laval, 23/3/2024

(Viết trong cảm xúc khi nghĩ về Nửa Đường– “Những hồn oan trên pháp trường cát” của nhà văn Tô Văn Cấp)