Tà áo xanh
Tình qua mau sầu ở lại lâu dài …
Phạm Văn Đình
Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (1924-2001) là một nhạc sĩ tiền chiến nổi tiếng với những ca khúc trữ tình như Tà Áo Xanh, Lá Đổ Muôn Chiều, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Gửi Người Em Gái, Thu Quyến Rũ, …
Trong những bài hát này thì “Tà Áo Xanh” được nhiều người hát nhất, trong đó có những ca sĩ tên tuổi như Sĩ Phú, Lệ Thu. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa tìm được một người hát thật ưng ý, vậy thì các bạn nghe thử một version nào đó của AI để xem AI có hát hay hơn người không .
Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn sáng tác bài hát này vào năm 1955, năm mà đa số các anh giai Petrus Ký (niên khóa 1966-1973) chào đời, tuy đây chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên nhưng trên một góc cạnh nào đó thì cũng là một cái duyên, còn riêng tôi thì cũng khó quên bài hát vì đã có chút kỷ niệm với nó.
Trong trang phục Việt Nam, chỉ có áo dài của phụ nữ mới có “Tà”, và nói gì thì nói, tôi vẫn thấy áo dài Việt Nam đẹp nhất thế giới, quyến rũ nhất thế giới. Bạn tôi, Trần Quốc Hùng, có viết một bài về áo dài, rất tỉ mỉ công phu, xin được giới thiệu đến các bạn.
Khi bước chân vào trường Petrus Ký vào giữa thập niên sáu mươi thì tôi (và những người bạn đồng trang lứa) chỉ khoảng mười một tuổi, còn ngây thơ lắm, khờ khạo lắm. Tình thực, tụi tôi chả biết tí gì về âm nhạc, vì thế trong hai năm đầu tiên, tụi tôi được học về âm nhạc, mỗi tuần một giờ, sẽ kể thêm dưới đây, tạm thời, xin nói sơ qua về “đồng phục” của tuổi học trò.
Thời đó, học sinh ở những trường công lập như Petrus Ký, Chu Văn An, Gia Long, Trưng Vương … phải mặc đồng phục – nam sinh thì quần xanh áo trắng, nữ sinh thì áo dài trắng. Trường tư thục thì dễ dãi hơn, nhưng những trường đạo (như Thánh Linh. Thiên Phước…) thì nghiêm khắc y như trường công, và cũng để phân biệt với những trường khác thì nữ sinh trường Thiên Phước mặc áo dài màu hồng, trường Thánh Linh mặc áo dài màu xanh biếc, tuyệt đẹp.
Dĩ nhiên, ở tuổi mười một mười hai thì tụi tôi không để ý, nhưng vào tuổi mười bốn mười lăm thì do hormone thay đổi, bắt đầu mơ về những tà áo trắng – áo xanh – áo hồng … sáng trưa chiều tối.
Vào giờ tan học thì không cần mơ nữa, vì từ những trường nữ trung học đáng yêu đó, bao nhiêu tà áo trắng xanh hồng tím … bung ra trên khắp mọi nẻo đường
Yêu là yêu là yêu không bờ bến rồi
Yêu là yêu là yêu những nẻo đường mới
Rồi thì như dòng điện lúc nào cũng chạy từ dương sang âm, nhóm tụi tôi có người chạy xe theo em, có người đi bộ lẽo đẽo sau em, có người vui vì được em ban cho một nụ cười, có người buồn rười rượi vì em lên xe người khác. Nhưng tựu trung, đây là một khoảng thời gian dễ thương với nhiều kỷ niệm đẹp mà những xứ như Hoa Kỳ chưa bao giờ có, và ngay cả ở Việt Nam bây giờ cũng không còn. Đôi khi nhớ lại, tôi cảm thấy hạnh phúc vì là đã có những phần đời dễ thương như thế. (1)
Và cũng chính những tà áo tha thướt này đã tạo niềm cảm hứng cho nhạc sĩ Phạm Duy, Châu Kỳ – Hồ Đình Phương, Trịnh Công Sơn … sáng tác những bài tình ca tuyệt vời như “Con đường tình ta đi”, “Con đường xưa em đi”, “Đường em đi”, “Em đi bỏ lại con đường”, “Ngày xưa Hoàng Thị” …
Con đường tuổi măng tre,
nắng vàng tươi đẹp đẽ
Bóng người dài trên hè,
con đường tình ta đi
Con đường về ban trưa,
tới nhà hay vào lớp
Con đường của đôi mình,
ôi chuyện tình thư sinh.
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Ôm nghiêng tập vở
Tóc dài tà áo vờn bay
Em tan trường về
Anh theo Ngọ về
Chân anh nặng nề
Lòng anh nức nở
Mai vào lớp học
Anh còn ngẩn ngơ, ngẩn ngơ
Trường Petrus Ký có hai giáo sư dạy nhạc – thầy Nguyễn Hữu Ba và thầy Phạm Mạnh Cương. Lớp của tụi tôi được thầy Nguyễn Hữu Ba giảng dạy. Tình thực thì lúc đó, tụi tôi chẳng biết thầy là ai, và sau hai năm với Thầy thì tụi tôi quên bẵng đi (vì âm nhạc và hội họa không nằm trong chuong trình thi cử), mãi về sau mới biết thầy là một người chuyên về cổ nhạc, và rất nổi tiếng.
Nhạc cụ mà thầy thích nhất là cây đàn Violin, đối với thầy, “Violin is the King of all musical instruments”, và thầy đã dành nhiều thời gian nói về nhạc cụ đó, từ chuyện dây kéo đàn được làm từ lông đuôi con ngựa, cho đến cách dùng nhựa thông để vuốt những sợi dây kéo đàn đó – vì có nhựa thì lông mới rít, và có rít thì đàn mới kêu … to!
Thầy Nguyễn Hữu Ba không giảng nhiều về tân nhạc, nhưng tẩn mẩn tỉ mỉ nói về dân ca quan họ Bắc Ninh (Trống cơm, Qua cầu gió bay, etc), về những điệu Lý phong phú của miền Nam như Lý ngựa Ô, Lý con sáo, Lý chuồn chuồn, và những điệu Hò của miền Trung như Hò chèo thuyền, Hò đối đáp, Hò giã gạo.
Vào cái tuổi mười một mười hai đó thì các cậu bé giai chúng tôi chẳng biết tí gì về đàn bà con gái, vì thế trong bài “Trống cơm của Dân ca quan họ Bắc Ninh”, tụi tôi không hiểu được tại sao nàng lại lim dim đôi mắt mỗi khi nhớ chàng! (“em nhớ thương ai, đôi con mắt (ố mấy) lim dim”).
Nhưng những anh giai khác thuộc loại to con, lớn tuổi, rất là nghịch ngợm, và chỉ ngồi ở những bàn cuối lớp (còn gọi là xóm nhà lá) … thì hiểu ngay lập tức “tại sao nàng lim dim đôi mắt”, và các anh giai ấy bấm nhau cười khoái trá. Dĩ nhiên, mỗi khi thầy lập lại câu “có nhựa thì lông mới rít, và có rít thì đàn mới kêu” thì các anh nhà lá ấy lại còn cười to hơn nữa!
Cứ mỗi tháng thì Thầy Nguyễn Hữu Ba khảo bài học trò một lần, và đây cũng là chuyện mà tụi tôi sợ nhất. Sợ là vì Thầy chỉ có hai điểm – một là Zéro, hai là 20 trên 20, có nghĩa là nếu trả lời đúng thì được 20, còn trả lời sai thì được hai quả trứng vịt (hai con zê rô). Một trong những bài khảo thí ấy là đánh nhịp. Đối với thầy thì nhịp là cái quan trọng nhất trong âm nhạc, bởi vì ca sĩ mà hát sai nhịp thì sẽ mất người nghe, một ban nhạc mà trống đánh xuôi kèn thổi ngược thì ban nhạc đó tiêu tùng.
Đa số tụi học trò chúng tôi được thầy Nguyễn Hữu Ba tặng cho hai quả trứng vịt … đều đặn hàng tháng! Chỉ một thiểu số thoát nạn, và tôi là một trong số ít người may mắn đó. Lý do đơn giản là vì tôi có một ông chú rể làm lính kèn (thổi kèn cho ban quân nhạc), và ông ấy chỉ cho tôi cách đánh nhịp. Thêm vào đó, gần nhà tôi có một gia đình (khá giả) mua nguyên một dàn trống về cho mấy cậu con trai tập dượt, tôi thường qua đó tập ké. Có lẽ nhờ vậy mà tôi đã có niềm cảm hứng để học thổi sáo, thổi kèn Harmonica, để rồi sau này, khi bắt đầu vào chương trình trung học đệ nhị cấp (lớp đệ tam) thì ôm cây đàn ghi ta để nghêu ngao – “Gọi người yêu dấu” của nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm.
Một hôm, Truyển rủ tôi đến nhà chơi, và dặn mang theo cái kèn Harmonica. Hôm đó có hai bà chị của Truyển ở nhà, sau khi nghe vài bài hát thì chị Giang (chị cả của Truyển) hỏi tôi rằng – Em có biết bài hát “Tà áo xanh”? Tôi trả lời “Dạ không”. Và đúng như thế vì vào thời điểm đó, tôi chưa biết tại sao một Tà áo có thể làm mình rung động, và cũng chẳng biết ông Đoàn Chuẩn là ai. Mãi về sau, khi bắt đầu năm cuối cùng của bậc trung học, thì tiền duyên kiếp trước mới đưa đẩy tôi đến một Tà Áo Xanh của trường Thánh Linh, và tôi âm thầm cám ơn ông Đoàn Chuẩn vì đã sáng tác bài hát này.
Biết nhau để mà nhớ
nhớ nhau để sầu dâng
tình trần ôi mong manh
người mơ một sớm đến anh
rồi đi đi mãi cho anh sầu
đêm đêm ngồi chờ sáng mơ ai
Em còn nhớ anh nói rằng
tâm hồn anh dễ chóng quên
tâm tình anh dễ chóng phai
Em ơi, có đâu ngờ đến rằng
có tình nào không phai
như tình anh với em
Hôm nay, trong một ngày cuối năm ở Texas, tôi có chút bùi ngùi vì sắp được thêm một tuổi, và đó cũng là một trong những nghịch lý của đời sống – trẻ thì muốn thời gian qua mau, già thì muốn thời gian chậm lại. Tà áo xanh của tôi đã mất từ năm mươi năm trước. Dù vậy, dư âm của những ngày xưa tháng cũ vẫn còn, và tôi nghĩ, nếu vào tuổi này mà vẫn còn một chút rung động khi nghe những bài tình ca xưa cũ thì cũng tốt thôi, vì đó là dấu hiệu tim mình còn trẻ.
Đình
(Cuối tháng mười hai, 2025)
(1) Từ năm 1955 đến 1975 thì ở MIền Nam Việt Nam trai gái học chung ở bậc tiểu học. Lên trung học thì tất cả các trường công lập và các trường đạo trai gái học riêng. Trường tư thì mỗi trường có một quy chế riêng, nhưng con gái Việt Nam thời đó ở bậc trung học (hay đại học) thường mặc áo dài. Trường Pháp (và trường của người Hoa) cũng có quy chế riêng của họ.
Chính vì trai gái học riêng nên mới có chuyện các anh giai đợi các nàng gái vào giờ tan học. Sau 1975 thì trai gái học chung từ nhỏ đến lớn như Âu Mỹ, cộng thêm instant messaging và những social media khác … đã biến Ngày xưa Hoàng Thị thành một chuyện cổ tích. Nếu kể cho con cháu nghe thì chúng sẽ thắc mắc – tại sao cha anh mình ngày trước lại như thế nhỉ.