Tôi sinh năm 1941, lớn lên, đi học, và sống được tròn 40 năm tại khu Ðakao, thuộc Quận 1, Sài Gòn, cho đến khi rời Việt Nam đi định cư tại Canada vào tháng 9-1981.  Bây giờ là tháng 12-2025, tôi cũng đã sống tại Canada được hơn 44 năm.  Có thể nói Sài Gòn là một phần hành trang khá nặng trong cuộc sống đã trải qua trên 80 năm của tôi.  Hình ảnh, âm thanh, mầu sắc, cùng những nét sinh hoạt hàng ngày của Sài Gòn đã in sâu trong bộ nhớ của tôi.  Ðã có nhiều lần trong đời, tôi sống xa Sài Gòn trong một thời gian khá dài.  Mỗi lần như vậy, khi trở về, Sài Gòn lại mở rộng vòng tay đón tôi, và tôi lại khám phá thêm những cái mới hơn, đẹp hơn, và quyến rũ hơn của Sài Gòn.  Bài viết này cố gắng phối hợp những gì tôi biết được về Sài Gòn qua kinh nghiệm sống cùng với những gì tôi học được về Sài Gòn qua sách vở và tài liệu đã thu thập được.  Một điều tôi tin chắc và mọi người chắc cũng tin như tôi là mãi mãi sẽ có nhiều người viết về Sài Gòn của ngày hôm qua, của hiện tại và của ngày mai vì Sài Gòn vĩnh viễn là một thành phố đẹp, thân thương của rất nhiều thế hệ người Việt Nam. 

Ðất Sài Gòn

Từ khi được thành lập, cách đây đã hơn 300 năm, và được biết dưới nhiều tên khác nhau, Sài Gòn luôn luôn là một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa quan trọng của Việt Nam.   Chính vì thế, Sài Gòn đã từng là mục tiêu tranh chấp, giành giựt liên tục giữa các thế lực chính trị và quân sự trong suốt lịch sử cận và hiện đại của Việt Nam, và, dĩ nhiên, đã không thể tránh được việc đổi chủ và đổi tên rất nhiều lần.  Ngày 30-4-1975 là lần đổi chủ và đổi tên gần đây nhứt. 

Trong thời Chúa Nguyễn, thành phố này, lúc đó thường được gọi là thành Gia Ðịnh, đã từng là một trọng điểm giao tranh, với nhiều trận chiến dữ dội giữa quân Chúa Nguyễn và quân Tây Sơn, và, do đó, đã nhiều lần đổi chủ.  Năm 1788, lợi dụng sự bất hòa trong nội bộ của anh em nhà Tây Sơn, Nguyễn Vương (tức Nguyễn Phúc Ánh, sau này là Vua Gia Long) tấn công và chiếm lại được thành Gia Ðịnh.  Năm 1790, Nguyễn Vương cho xây dựng tại đây một thành hoàn toàn mới rất kiên cố dưới sự điều khiển của một cộng sự viên người Pháp của ngài là ông Olivier de Puymanel [1], gồm có 8 mặt với 8 cửa thành, nên cũng được gọi Thành Bát Quái, và vì giống hình con rùa, nên cũng có tên là Quy Thành, như chúng ta có thể thấy trong hình sau đây:

Thành Bát Quái (Quy Thành) – Nguồn: Internet

Dựa theo các tài liệu của thời Pháp thuộc còn lưu giữ được, các nhà nghiên cứu về Sài Gòn tin rằng Thành Bát Quái, theo như hình bên trên, đã được xây dựng trên một khu đất mà ngày nay được đóng khung bởi 4 con đường sau đây:

• phía Bắc: đường Nguyển Ðình Chiểu (thời Pháp thuộc gọi là đường Richaud, thời VNCH đổi gọi là đường Phan Ðình Phùng)

• phía Nam: đường Lê Thánh Tôn (thời Pháp thuộc gọi là Rue d’Espagne, thời VNCH đổi gọi là đường Lê Thánh Tôn)

• phía Tây: đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (thời Pháp thuộc gọi là đường MacMahon, thời VNCH đổi gọi là đường Công Lý)

• phía Ðông: đường Ðinh Tiên Hoàng (thời Pháp thuộc gọi là đường Albert 1er, thời VNH đổi gọi là đường Ðinh Tiên Hoàng) và tiếp theo là đường Tôn Ðức Thắng (thời Pháp thuộc gọi là đường Luro, thời VNCH đổi gọi là đường Cường Ðể)

Thành này tồn tại trong suốt triều đại của Vua Gia Long và một phần của triều đại Vua Minh Mạng dưới sự cai trị của Ðức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Tổng Trấn Gia Ðịnh Thành.      Sau khi Ðức Tả Quân mất năm 1832, Vua Minh Mạng, nghe lời gièm xiểm của triều thần, đã làm tội và xiềng mả của Ðức Tả Quân, đưa đến vụ nổi loạn của người con nuôi của Ðức Tả Quân là tướng Lê Văn Khôi vào năm 1833.  Tướng Khôi chiếm thành Gia Ðịnh và chống lại quân triều đình trong 3 năm.  Khi dẹp được loạn Lê Văn Khôi và chiếm lại đươc thành Gia Ðịnh vào năm 1836, Vua Minh Mạng ra lệnh phá bỏ hoàn toàn Thành Bát Quái.  Sau đó vua Minh Mạng lại cho xây một thành khác, nhỏ hơn, tại góc đông bắc của thành và gọi là Phượng Thành (trong dân gian gọi là Thành Phụng).

Ngày 17-2-1858, quân Pháp tấn công và chiếm được Thành Phụng nội trong một buổi sáng.  Nếu còn Thành Bát Quái kiên cố hơn rất nhiều, với hai lớp tường thành dày hơn và cao hơn, chưa chắc quân Pháp đã có thể chiếm thành dễ dàng như vậy.  Sau khi chiếm thành xong, quân Pháp cho phá hủy thành và rút đi.

Sau này, khi đã chiếm xong trọn 6 tỉnh của miền Nam, Pháp đã xây dựng một thành phố mới hoàn toàn theo lối Tây phương, và đó là Sài Gòn hiện nay.  Trong gần một thế kỷ dưới sự cai trị của người Pháp, Sài Gòn càng ngày càng được mở rộng và trở thành trung tâm kinh tế – tài chánh lớn nhứt của Ðông Dương nói chung và của Việt Nam nói riêng. 

Sau năm 1954, Sài Gòn càng trở nên quan trọng hơn, không những là thành phố lớn nhứt của Việt Nam, nó còn trở thành thủ đô chính trị của nước Viêt Nam Công Hòa (VNCH) trong khoảng 20 năm (1955-1975).

Ðường phố Sài Gòn

Bản đồ Sài Gòn năm 1928

Một nét đặc thù của thời Pháp thuộc này là tên đường phố của Sài Gòn phần lớn đều là tên Pháp. Trên hình của tấm bản đồ Sài Gòn năm 1928 ở đầu trang này, các bạn chắc đã thấy rõ các tên đường trong khu này đều là tên Pháp, thí dụ một vài con đường lớn như sau:

• Boulevard Albert 1er, thời VNCH đổi tên thành Ðại Lộ Ðinh Tiên Hoàng, bây giờ vẫn giữ nguyên tên mới

• Ðường Legrand de la Liraye: thời VNCH đổi tên thành đường Phan Thanh Giản, bây giờ là đường Ðiện Biên Phủ

Hiện nay đã có một tài liệu có thể giúp tra cứu giữa tên cũ và mới của đường phố Sài Gòn.  Xin đơn cử 1 thí dụ là đường Ðiện Biên Phủ như sau đây:

Trích dẫn:“Tên đường Thành phố Hồ Chí Minh xưa và nay,” trong sách Sài Gòn – Gia Ðịnh xưa: tư liệu & hình ảnh.  Tr. 121. [2]

Như vậy, trong quá khứ, đường Ðiện Biên Phủ hiện nay đã từng mang nhiều tên khác nhau: Phan Thanh Giản, Legrand de la Liraye, Polygone, Gereral Lizé, đường số 20.  Tôi vẫn còn nhớ, khi tôi còn nhỏ, trong khoảng thập niên 1950, con đường này, đoạn ở vùng Bàn Cờ, vẫn còn được dân Sài Gòn gọi là Ðường Hai Mươi, và phía bên trong bên phía tay phải (tính từ trong Chợ Lớn ra) vẫn còn một khu vườn đất khá rộng, cây cối um tùm, gọi là Vườn Bà Lớn (Bà Lớn đây là cách gọi tôn kính dành cho phu nhân của Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương), ở giữa vườn là một ngôi nhà xưa rất lớn trên cổng có mang 4 chữ Ðỗ Hữu Từ Ðường.  Ðó chính là bất động sản của ông Ðỗ Hữu Phương (1841-1914), thường được người Miền Nam gọi là Tổng Ðốc Phương, một nhân vật của đất Nam Kỳ sớm theo Pháp, được Pháp ban cho hàm Tổng Ðốc (tên Tổng Ðốc Phương cũng được dùng trong thời Pháp thuộc và thời VNCH để đặt tên cho một con đường lớn và thị tứ trong Chợ Lớn), và cũng là người đứng hàng thứ nhì trong 4 “đại phú gia” của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh thời Pháp thuộc: “Nhứt Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Ðịnh.”  Tác giả Vương Hồng Sển, sư phụ của tôi về môn Sử Việt Nam, trong năm thứ hai, Ban Sử Địa, Khóa 3 (1960-1963), Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, lúc đó là Giám Ðốc Viện Bảo Tàng Sài Gòn, đã dành ra khoảng 3 trang để nói về nhân vật này trong cuốn sách nổi tiếng của tác giả là cuốn Sài-Gòn năm xưa. [3]

Ảnh chân dung Đỗ Hữu Phương – Nguồn: Internet

Ông Ðỗ Hữu Phương có được 5 người con trai.  Người con út là ông Ðỗ Hữu Vị (1883-1916), du học ở Pháp, tốt nghiệp Trường Võ Bị Saint-Cyr, là phi công người Việt đầu tiên, tử trận năm 1916.

Đai Úy phi công Đỗ Hữu Vị – Nguồn: Internet

Tôi còn nhớ thêm một chuyện nữa về con đường Legrand de la Liraye này.  Chuyện đó là về xe điện của Sài Gòn như trong hình sau đây:

Hình xe điện Sài gòn – Chợ Lớn (Nguồn: Internet)   

Hệ thống xe điện của Sài Gòn gồm nhiều lộ trình, trong đó lộ trình Sài Gòn – Hóc Môn có đi ngang qua khu Ðakao. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh chiếc xe điện chạy trên đường Paul Blanchy (về sau thời VNCH đổi tên thành đường Hai Bà Trưng, hiện nay cũng vẫn còn giữ tên này) từ hướng bờ sông Sài Gòn lên, quẹo tay mặt vào đường Legrand de la Liraye, chạy đến đường Albert 1er (nay là đường Ðinh Tiên Hòang) thì quẹo trái, chạy ngang trước mặt rạp hát ASAM một đoạn đường rất ngắn rồi quẹo tay mặt vào đường Martin des Pallières (thời VNCH đổi tên thành đường Nguyễn Văn Giai, hiện nay vẫn giữ tên này), ngừng lại ở ga Ðakao, sau đó đi qua cầu sắt để vào Bà Chiểu.  Các ga còn lại của lộ trình này là: Bà Chiểu, Bình Hòa, Gò Vắp, Hạnh Thông Tây, Chợ Cầu, Quán Tre, và Trung Chánh. [4]

Một đặc điểm nữa của đường phố Sài Gòn là cây xanh.  Rất nhiều đường trong thành phố có trồng cây hai bên đường.  Phần lớn các cây xanh này đã được trồng từ thời Pháp thuộc nên đều rất lớn và cho nhiều bóng mát.  Các loại cây thường thấy nhứt trong thành phố là: cây me, cây sao, và cây dầu.  Hiện nay những cây này đều đã vào hàng cổ thụ hết cả rồi, như chúng ta có thể thấy trong các hình bên dưới đây:

Cây me đường phố Sài Gòn – Nguồn: Internet

Cây dầu đường phố Sài Gòn – Nguồn: Internet

Cây sao đường phố Sài Gòn (Nguồn: Internet)

Hình như chỉ có ở Sài Gòn mới có cái nghề hái me trên đường phố mà thôi, như trong bài báo điện tử: “Mưu sinh với nghề hái me trên vỉa hè Sài Gòn,” tại địa chỉ Internet sau đâyhttp://thoibao.today/paper/muu-sinh-voi-nghe-hai-me-tren-via-he-sai-gon-2026481

với các hình minh họa như sau:

Các công trình kiến trúc của Sài Gòn

Sài Gòn là thành phố lớn nhứt, quan trọng nhứt, và cũng đã từng là một trung tâm chính trị hàng đầu của Việt Nam trong hơn 300 năm vừa qua nên cũng là đô thị tập trung được một số công trình kiến trúc lớn có giá trị lịch sử và văn hóa rất cao.

Dinh Ðộc Lập

Dinh Ðộc Lập là danh xưng dành cho công trình kiến trúc được xây dựng hoàn toàn mới trong thập niên 1960 tại Sài Gòn, với mục đích sử dụng chính thức là nơi sinh sống và làm việc của vị Quốc Trưởng của VNCH, lúc đầu là của vị Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (từ tháng 10-1966 đến tháng 10-1967) và sau đó là của Tổng Thống VNCH (từ tháng 11-1967 cho đến ngày 30-4-1975).  Dinh Ðộc Lập tọa lạc trong một khuôn viên rộng lớn bao quanh bởi 4 con đường:

• mặt trước: đường Công Lý

mặt sau: đường Huyền Trân

mặt phải (từ ngoài nhìn vào): đường Hồng Thập Tự

• mặt trái (từ ngoài nhìn vào): đường Nguyễn Du

Hình chính diện Dinh Ðộc Lập (Nguồn: Internet)     

Tiền thân của Dinh Ðộc Lập là Dinh Norodom, nơi sinh sống và làm việc của vị Toàn Quyền Ðông Dương (Gouverneur Général de l’Indochine) trong thời Pháp thuộc, như hình bên dưới đây:

Hình chính diện Dinh Norodom (Nguồn: Internet)       

Dinh Norodom được xây cất xong vào năm 1875, lúc đầu là dinh thự của Thống Ðốc Nam Kỳ, về sau, khi Pháp đã chiếm được toàn cõi Ðông Dương, mới trở thành Dinh của Toàn Quyền Ðông Dương.  Khi Pháp rút khòi Việt Nam, Chính phủ Quốc Gia Việt Nam đã tiếp thu Dinh và đặt tên là Dinh Ðộc Lập.  Sau cuộc Trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 truất phế Quốc trưởng Bảo Ðại, Chính phủ Ngô Ðình Diệm công bố Hiến ước tạm thời, thiết lập nền Ðệ Nhứt Cộng Hòa vào ngày 26-10-1955 tại Dinh Ðộc Lập.  Sau ngày này, Dinh Ðộc Lập trở thành Phủ Tổng Thống, nơi sinh sống và làm việc của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và gia đình của Cố Vấn Ngô Ðình Nhu.  Ngày 27-2-1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc của Không Quân VNCH đã ném bom và làm sập một phần của Dinh Ðộc Lập, như chúng ta thấy trong hình bên dưới đây:

Dinh Độc Lập sau vụ ném bom năm 1962 – Nguồn: Internet 

Chính phủ VNCH quyết định xây cất một dinh mới.  Tác giả thiết kế Dinh Ðộc Lập mới là Kiến Trúc Sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ là người đã đoạt giải Khôi Nguyên La Mã về kiến trúc năm 1955.  Việc xây cất kéo dài trên 4 năm, hoàn tất và khánh thành vào ngày 31-10-1966 như chúng ta thấy trong bảng đồng kỷ niệm sau đây:

Bảng đồng ghi lại việc xây cất Dinh Độc Lập

Toàn cảnh chính diện Dinh Độc Lập đã được tái thiết năm 1966

Trong thời gian gần 10 năm, 1966-1975, Dinh Ðộc Lập, mà dân chúng và giới báo chí thường gọi là Phủ Ðầu Rồng, đã là biểu tượng của quyền Hành Pháp tại VNCH.  Nó là nơi sinh sống và làm việc của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, là trung tâm quyền lực của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.  Do đó, Dinh Ðộc Lập cũng chính là nơi chứng kiến sự kết thúc của chế độ VNCH vào trưa ngày 30-4-1975 khi Ðại Tướng Dương Văn Minh, vị Tổng Thống cuối cùng của VNCH, chấp nhận đầu hàng quân Cộng sản Bắc Việt.

Bản thân tôi đã may mắn có dịp được vào Dinh Ðộc Lập một lần vào năm 1974.  Tháng 6-1974, với tư cách Chủ Tịch Hội Thư Viện Việt Nam, tôi được các hội đoàn văn hóa tư bầu vào Hội Ðồng Văn Hóa Giáo Dục (HÐVHGD), nhiệm kỳ 2 (1974-1978).  Sau đó, tại phiên họp khoáng đại đầu tiên của nhiệm kỳ, tôi được toàn thể hội viên bầu vào chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Văn Hóa và Giáo Dục Ðại Chúng, một trong 8 ủy ban của HÐVHGD, và trở thành thành viên trẻ tuổi nhứt (lúc đó tôi mới có 33 tuổi) của cơ cấu đầu não của Hội đồng gọi là Hội Ðồng Các Chủ Tịch gồm tất cả 13 người là Chủ Tịch HÐVHGD (theo Hiến Pháp năm 1967 của Ðệ Nhị Cộng Hòa, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đương nhiên đảm nhận chức vụ này), Phó Chủ Tịch Ðặc Trách Văn Hóa là cụ Đỗ Văn Rở, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên Đặc Trách Văn Hóa, Phó Chủ Tịch Ðặc Trách Giáo Dục là Giáo Sư Trần Văn Tấn, Khoa Trưởng Trường Đai Học Sư Phạm Sài Gòn, Tổng Thư Ký là Tiến Sĩ Kỹ Sư Trần Văn Danh, Chánh Văn Phòng Bộ Giao Thông Công Chánh, Phó Tổng Thư Ký là Giáo Sư Võ Văn Bé, và 8 vị Chủ Tịch của 8 ủy ban của hội đồng.  Sau phiên họp khoáng đại này, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng, lãnh đạo toàn thể hội viên của hội đồng vào Dinh Ðộc Lập để trình diện Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.  Vì là thành viên trẻ tuổi nhứt của Hội Ðồng Các Chủ Tịch, tôi được xếp đứng ngay hàng đầu, bên cạnh vị Phó Chủ Tịch Đặc Trách Giáo Dục.  Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, với sự giúp đỡ của vị Phó Chủ Tịch Ðặc Trách Văn Hóa, giới thiệu từng vị hội viên với Tổng Thống.  Buổi lễ ngắn ngủi nầy, chỉ kéo dài độ một tiếng đồng hồ, đã diễn ra tại Phòng Khánh Tiết rộng lớn của Dinh Ðộc Lập.  Tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác thật êm khi bước đi trên tấm thảm thật dày, màu xanh lợt rất trang nhã của phòng này.  Buổi lễ cũng thật sự tạo cho tôi cái cảm giác tự hào cho đất nước VNCH về cái dinh tổng thống bề thế này với Phòng Khánh Tiết to lớn, trang nhã, rất xứng đáng làm nơi cho vị nguyên thủ quốc gia tiếp đón sứ thần các nước đến trình ủy nhiệm thư.  

Dinh Gia Long

Được khởi công xây dựng từ năm 1885 và hoàn thành vào năm 1890, Dinh này được sử dụng làm Phủ Thống Đốc Nam Kỳ, và thường được dân chúng gọi là Dinh Phó Soái.  Sau này chính Quốc Trưởng Bảo Đại đã đặt tên mới là Dinh Gia Long.

Mặt tiền của Dinh Gia Long – Nguồn: Internet

So với Dinh Ðộc Lập, Dinh Gia Long nhỏ hơn nhiều, chỉ chiếm một diện tích khoảng 2 mẫu tây (hectare), đóng khung bởi 4 con đường:

• trước mặt: đường Gia Long [nay là đường Lý Tự Trọng]

sau lưng: đường Lê Thánh Tôn

bên trái (nhìn từ trước): đường Công Lý [nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa]

• bên phải (nhìn từ trước): đường Nguyễn Trung Trực

Sau khi Dinh Ðộc Lập (cũ) bị ném bom hư hại vào ngày 27-2-1962, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cùng gia đình ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu dọn sang sinh sống và làm việc tại Dinh Gia Long.  Vì vậy, trong vụ đảo chánh ngày 1-11-1963, Dinh Gia Long đã bị thiệt hại nặng nề trong cuộc tấn công của các lực lượng đảo chánh.

Trong khoảng thời gian 1964-1966, sau khi được tái thiết, Dinh Gia Long trở thành Dinh Quốc Trưởng (nơi làm việc của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu cho tới ngày 18-6-1965), và sau đó là Phủ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (nơi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm việc cho đến khi ông trở thành Tổng Thống thì dọn sang Dinh Độc Lập mới được khánh thành vào cuối tháng 10-1966).  Sau khi nền Đệ Nhị Cộng Hòa được thành lập, Dinh Gia Long được sử dụng làm trụ sở của Tối Cao Pháp Viện.  Hiện nay đia điểm này trở thành Viện Bảo Tàng Thành phố Hồ Chí Minh.[5] 

Tòa Đô Chánh

Toàn cảnh chính diện của Tòa Đô Chánh Sài Gòn

Là tòa nhà đã được sử dụng làm trụ sở của chính quyền thành phố Sài Gòn cho đến ngày hôm nay, ở năm 2025 này, nó chính là Trụ Sở của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh.  Trong thời Pháp thuộc nó được dân chúng gọi là Dinh Xã Tây.  Từ năm 1955 trở đi cho đến ngày 30-4-1975, thời VNCH, nó mới được gọi là Tòa Đô Chánhvì thành phố Sài Gòn đã trở thành thủ đô của VNCH.

Tòa nhà này là một trong những công trình kiến trúc đẹp và được nhiều ngươi, kể cả du khách ngoại quốc, biết đến và yêu thích. “Việc xây dựng tòa nhà này vấp phải nhiều trở ngại, và phải mất đến 40 năm kể từ khi bắt đầu ý tưởng cho đến lúc hoàn thành năm 1909”.[6]

Chợ Bến Thành

Nói đến Sài Gòn thì gần như mọi người đều nghĩ ngay đến ngôi chợ này, và có thể nói từ bao nhiêu năm nay Chợ Bến Thành gần như luôn luôn được xem và trình bày như là biểu tượng chánh của Sài Gòn, giống như Chùa Một Cột ở Hà Nội và Chùa Thiên Mụ ở Huế.

Chợ Bến Thành năm 1965 – Nguồn: Internet

Ngôi chợ nổi tiếng nhứt của Sài Gòn này được xây cất vào đầu thế kỷ 20 (1912-1914) chiếm một diện tích gần như vuông vức với diện tích khá lớn ngay tại trung tâm Sài Gòn thuộc Quận 1, bao quanh bởi các đường sau đây:

– phía Đông: đường Phan Bội Châu (thời Pháp thuộc là Rue Viénot)

– phía Tây: đường Phan Châu Trịnh (thời Pháp thuộc là Rue Schroeder)

– phía Nam: công trường Quách Thị Trang (thời Pháp thuộc là Place Cuniac)

– phía Bắc: đường Lê Thánh Tôn (thời Pháp thuộc là Rue d’ Espagne)

như chúng ta thấy trong tấm không ảnh sau đây:

Không ảnh toàn cảnh Chợ Bến Thành (Nguồn: Internet)

Vì ngôi chợ quá lớn, để tiện cho người đi mua sắm, các nhà thiết kế đã quyết định làm cho chợ 4 cửa vào, mỗi cửa ngay giữa mỗi cạnh của hình vuông của chợ, với cửa Nam là cửa chánh có tên chợ và tháp đồng hồ ngay bên trên:

Cửa Nam có Tháp đồng hồ – Đối diện Công Trường Quách Thị Trang (Nguồn: Internet)

            Sau đây là ảnh 3 cửa còn lại của chợ Bến Thành:

Cửa Bắc – Đường Lê Thánh Tôn (Nguồn: Internet)

Cửa Đông – Đường Phan Bội Châu (Nguồn: Internet)

Cửa Tây – Đường Phan Châu Trinh (Nguồn: Internet)

Chợ Bến Thành là ngôi chợ bán lẻ lớn nhứt của Sài Gòn với đủ thứ mặt hàng, từ quần áo vải vóc cho đến các loại đồ dùng hàng ngày trong nhà, và cả thực phẩm, rau củ, hoa quả.  Phần lớn các mặt hàng này được sản xuất trong nước, nhưng cũng có một số là hàng ngoại nhập.  

Sở Thú

Cổng chính Sở Thú Sài Gòn – Nguồn: Internet

Sở Thú cũng còn được gọi dưới nhiều tên khác như Vườn Bách Thú, Vườn Bách Thảo, Thảo Cầm Viên (thời Pháp thuộc gọi là Jardin botanique).  Sở thú chiếm một khu đất rất lớn ở cuối Đại Lộ Thống Nhứt, dọc theo đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đối diện với 2 trường trung học lớn của Sài Gòn là Trường Võ Trường Toản (cho nam sinh) và Trường Trưng Vương (cho nữ sinh).           

Đây là nơi mà người lớn cũng như trẻ con đều thích đến thăm.  Tuy gọi là Sở Thú nhưng không phải chỉ có thú vật hiếm quý mà còn có đủ kỳ hoa dị thảo, ỡ giữa vườn lại có một hồ sen rộng rất đẹp.

Bọn trẻ con tụi tôi khoái nhứt là cái chuồng khỉ rất lớn, cất trên bệ xi măng cao khoảng ngang thắt lưng, chung quanh toàn song sắt để bảo vệ du khách.  Tuy chuồng thì lớn như vậy nhưng bên trong chỉ nuôi đâu chừng trên một chục con khỉ đủ loại mà thôi.  Tôi khoái coi nhứt là con khỉ khá lớn, mặt xanh, có vẽ như là khỉ chúa của cả đàn khỉ trong chuồng.

Tuốt trong góc xa nhứt, gần bờ sông Thị Nghè, là chuồng voi với một con voi chưa già lắm, vì ngà còn nhỏ và ngắn.  Bọn tôi thích mua mía đút cho voi ăn để nhìn nó lấy cái vòi cuốn khúc mía lại, đưa vô miệng, và nhai rào rào.

Các Trường Đại Học

Đại Học Công: Viện Đại Học Sài Gòn

Viện Đại Học Sài Gòn có trụ sở tọa lạc ngay tại Công Trường Hồ Con Rùa:

Toán cảnh Công Trường Hồ Con Rùa

Mặt tiền trụ sở của Viện Đại Học Sài Gòn

Theo thống kê, năm 1973, Viện Đại Học Sài gòn, với 8 phân khoa, có tổng số sinh viên là 64.000 như trong tài liệu bên dưới đây:[7]

Đại Học Tư

Đại Học Vạn Hanh

Cổng chính Viện Đại Học Vạn Hạnh

Viện Đại Học Vạn Hạnh do Gíáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập vào năm 1964 tại số nhà 222 đường Trương Minh Giảng, Quận 3, Sài Gòn.  Vào niên khóa 1973-1974, Đai Học Van Hạnh có được tất cả 4 phân khoa: 1) Khoa Học Xã Hội; 2) Văn Hoc và Khoa Học Nhân Văn; 3) Giáo Dục; và 4) Phật Học và một Trung Tâm Ngôn Ngữ, với tổng số sinh viên là 3.685.

Đại Học Minh Đức

Đại Học Minh Đức do Giáo Hội Công Giáo thành lập năm 1970 với Linh Mục Bửu Dưỡng, thuộc dòng Đa Minh, làm Viện Trưởng, với 5 phân khoa như sau: 1) Kỹ Thuật Canh Nông; 2) Khoa Học Thực Dụng; 3) Kinh Tế Thương Mại; 4) Triết Học; và, 5) Y Khoa.  Vào đầu niên khóa 1973-1974, tổng số sinh viên của riêng Phân Khoa Kinh Tế – Thương Mại đã lên đến 1.000 người.[8] 

Viện Bảo Tàng

Viện Bảo Tàng Sài Gòn

Viện Bảo Tàng Sài Gòn, trong thời Pháp thuộc có tên là Musée Blanchard de la Brosse tọa lạc tại số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1, Sài Gòn, ngay trong khuôn viên của Thảo Cầm Viên Sài Gòn.  Thời Pháp thuộc nó có tên là Musée Blanchard de la Brosse và trong thời VNCH nó chính thức là Viện Bảo Tàng Quốc Gia.  Nó đã được thiết kế bởi kiến trục sư người Pháp tên là Auguste Delaval(1875-1964), và đã được khánh thành cùng ngày 1-9-1929 với Đền Hùng Vương nằm đối diện trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn.

Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt

Cổng chính vào Lăng Tả Quân Lê Van Duyệt

Lăng mộ của Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832), một vị đại công thần của Nhà Nggyễn, dưới 2 triều Gia Long và Minh Mang, với chức vu Tổng Trấn Gia Định Thành.  Dân chúng Miền Nam cảm kích công đức của Ngài và đã tôn vinh Ngài lên bậc thánh thần.  Lăng mộ của Ngài được bảo quản thật tốt trong gần 200 năm qua và đã trở thành một nơi linh thiêng mà dân chúng luôn luôn đến cầu xin ân huệ.

Nhà Hát Lớn

Mặt tiền Nhà Hát Lớn Sài Gòn chụp trong khoảng các thập niên 1930-1940

Nhà Hát Lớn Sài Gòn được khởi công xây cất vào năm 1898 và hòan tất vào năm 1900, mô phỏng theo mẫu của Nhà Hát Lớn tại Paris (Opéra de Paris), thủ đô Pháp, với mặt tiền được kiến trúc và trang trí rất đẹp bằng nhiều hình tượng và họa tiết rất tinh xảo. 

“Nằm ở một vị trí thuận lợi tại trung tâm thành phố, nhà hát được xem là nhà hát trung tâm, đa năng chuyên tổ chức biểu diễn sân khấu nghệ thuật đồng thời cũng được sử dụng để tổ chức một số sự kiện lớn. Đây cũng là nhà hát thuộc loại lâu đời theo kiến trúc Flamboyant và được xem như một địa điểm du lịch của thành phố này, tọa lạc trên con đường đắt đỏ trung tâm thành phố Sài Gòn bên cạnh là hai khách sạn lớn Caravelle và Continental.  Nhà hát thành phố có kiến trúc cổ kính, uy nghi với 1 tầng trệt, hai tầng lầu, 1800 ghế, không khí thoáng, hệ thống âm thanh ánh sáng hiện đại, là nơi tổ chức biểu diễn sân khấu chuyên nghiệp như: biểu diễn kịch nói, cải lương, ca nhạc, múa Balê, dân tộc, Ôpêra cho tất cả các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước.   Ngoài ra, những đêm trình diễn thời trang đã thu hút bao khách thanh lịch ở Sài Gòn và nước ngoài, đặc biệt những nhà trình diễn thời trang quốc tế cũng chọn nhà hát Thành Phố làm nơi phô diễn những kiểu quần áo đặc sắc đang được thế giới ưa chuộng. Tại đây có thể tổ chức những buổi mít tinh, kỷ niệm những ngày lễ lớn, các hội thảo chuyên đề…” [9]

Sài Gòn Trong Lòng Tôi

Đối với bản thân tôi, một người đã sống nửa đời tại thành phố này, Sài Gòn như là một người bạn tâm giao, hiểu nhau một cách thật sâu đậm.  Có thể nói là sự hiểu biết của tôi về Sài Gòn là rất sâu đậm.  Tôi biết thật rõ từng con đường, từng khu phố. từng cơ sơ tôn giáo, giáo dục, và kinh tế. 

Về cơ sở tôn giáo, Nhà Thờ Đức Bà, được xây cất từ năm 1877 đến năm 1880 mới hoàn tất và khánh thành, ngay trước Tổng Nha Bưu Điện, ngó thẳng vào đường Catinat, sau năm 1954 đổi tên thành đường Tự Do.   Nhà Thờ Tân Định trên đường Hai Bà Trưng gần Chợ Tân Định được xây cất từ năm 1870 đến năm 1876 mới xong.  Nhà Thờ Ba Chuông, được xây cất vào năm 1962, tọa lạc trên đường Trương Minh Giảng, khu Ông Tạ của đồng bào Công Giáo Di Cư.  Chùa Xá Lợi, do Hội Phật Học Nam Việt xây cất trong hai năm 1956-1958, tọa lạc trên đường Bà Huyện Thanh Quan, bên hông Trường Nữ Trung Học Gia Long.  Chùa Vĩnh Nghiêm, của đồng bào Công Giáo Di Cư, tọa lạc trên đường Công Lý (bây giờ là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), được xây cất trong thời gian 1964-1971.  Chùa Kỳ Viên, thuộc phái Phật Giáo Tiểu Thừa (Nam Tông), tọa lạc trên đường Phan Đình Phùng, gần Chợ Vườn Chuối, khu Bàn Cờ, được xây dựng từ năm 1947.

Về cơ sở giáo dục, chúng ta thấy có các trường trung học công tư lớn của thành phố, như sau:

• Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, thường được gọi tắt là Trường Petrus Ký, tọa lạc trên đường Cộng Hòa. 

• Trường Trung Học Chu Văn An (lúc đầu dành cho học sinh từ Miền Bắc di cư vào Sài Gòn), tọa lạc tại góc hai đường Hồng Bàng và Nguyễn Tri Phương trong Chợ Lớn.

• Trường Nữ Trung Học Gia Long, tọa lạc trên đường Phan Thanh Giản, giữa 2 đừờng Trương Minh Giảng và Bà Huyện Thanh Quan.

• Trường Nữ Trung Học Trưng Vương, tọa lạc trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngó ngang Sở Thú (Thảo Cầm Viên).

• Trường Trung Học Võ Trường Toản, cũng tọa lạc trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách Trường Trưng Vương chừng vài trăm mét, cũng ngó ngang Sở Thú.

• Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn, ngó xéo qua Chợ Bà Chiểu, Gia Định.

• Trường Trung Tiểu Học Tư Thục Huỳnh Khương Ninh (có từ năm 1922), tọa lạc trên đường D’Ariès (về sau đổi tên thành đường Huỳnh Khương Ninh).

• Trường Trung Học Tư Thục Nguyễn Bá Tòng, tọa lạc trên đường Bùi Thị Xuân, đươc xây cất trong thập niên1960.

• Trường Trung Học Tư Thục Hưng Đạo, tọa lạc trên đường Cống Quỳnh, được thành lập vào năm 1959.

• Trường Trung Tiểu Học Tư Thục Kiến Thiết, nằm trên đường Phan Đình Phùng, khu Bàn Cờ, được thành lập từ thập niên 1950

• Trường Trung Học Tư Thục Ngyễn Văn Khuê, tọa lạc trên đường Nguyễn Thái Học, khu Chợ Cầu Muối, được thành lập từ năm 1940.

Về các cơ sở kinh tế, chúng ta thấy có rất nhiều cơ sở quan trọng như sau:

• Các công ty xuất nhập cảng của người Việt cũng như của người ngoại quốc.

• Các ngân hàng của người Việt cũng như của người ngoại quốc.

• Các nhà hàng, khách sạn lớn của người Việt cũng như của người ngoại quốc.

• Các chợ cung cấp thực phẩm và hàng hóa cho dân chúng Sài Gòn, như Chợ Đakao, Chợ Tân Định, Chợ Trương Minh Giảng, Chợ Vươn Chuối, Chợ Bàn Cờ, Chợ An Đông, vv.

Thay Lời Kết

Thành phố Sài Gòn, với lịch sử hơn 300 năm, đã từng là thủ đô của VNCH trong 20 năm (1955-1975), là thành phố lớn nhứt và phồn thịnh nhứt của Việt Nam.  Nó cũng là một trung tâm văn hóa lớn của cả nước nơi tập trung một số lớn các viện đại học công tư lớn nhỏ, các công trình kiến trúc cổ kính và rất đẹp như các viện bảo tàng, các lăng mộ của các đại thần Triều Nguyễn, nhà hát lớn, và các dinh thự lịch sử.  Sau hết, Sài Gòn cũng là một trung tâm kinh tế – thương mại hết sức quan trong, nếu không muốn nói là quan trọng nhứt của cả nước.

Ghi Chú:

1. Olivier de Puymanel, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Olivier_de_Puymanel

2. Sài Gòn – Gia Ðịnh xưa: tư liệu & hình ảnh/ Huỳnh NgọcTrảng và những người khác.  T/p Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.

3. Vương Hồng Sển.  Sài – Gòn năm xưa.  Los Alamitos, Calif.: Nhà xuất bản Xuân Thu tái bản, [không đề năm].  Tr. 237-239.

4. Xe điện Sài Gòn xưa, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://vivusaigon.vn/bai-viet/xe-dien-sai-gon-xua-284.html

5. Lâm Vĩnh Thế.  Dinh Gia Long trong dòng lịch sử cận đại của Sài Gòn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc tòan văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/dinh-gia-long-trong-dong-lich-su-can-dai-cua-sai-gon

6. Lịch sử của tòa nhà Tòa Đô Chánh (Tòa Thị Chính) của Sài Gòn xưa: bộ sưu tập hình ảnh đẹp hơn 100 năm trước, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://chuyenxua.net/lich-su-cua-toa-nha-toa-do-chanh-toa-thi-chinh-cua-sai-gon-xua-bo-suu-tap-hinh-anh-dep-hon-100-nam-truoc/    

7. Viện Đại Học Sài Gòn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Viện Đại học Sài Gòn – Wikipedia tiếng Việt   

8. Viện Đại Học Minh Đức: Trường Đại Học Kinh – Thương, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://kinhthuong.net/lichsu.htm

9. Lịch sử Nhà Hát Lớn Sài Gòn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Lịch sử Nhà hát lớn Sài Gòn – Hình ảnh Việt Nam xưa & nay