POUPEE DE CIRE, POUPEE DE SON… GAINSBOURG VÀ GAINSBARRE
Lâm Thụy Phong
Petrus Ký 1965, tôi ngồi trong lớp lục 2. Giáo sư hướng dẫn là thầy Châu Thành Tích, dạy chúng tôi nhìn lên nóc lớp nói chuyện định lý, định đề Euclide, Thales, Pythagore. Giáo sư quốc văn do cô Dung “Bích Câu Kỳ Ngộ” phụ trách. Pháp sư dạy tiếng Tây là cô Loan và kế tiếp, thầy Tồng Giám Thị Le Cid Tăn văn Chương cho tới màn cuối. Vật lý đầu đời nguyên tử, chết nguyên con – phân tử, từ từ chia ra rồi mới đi, thầy Nguyễn Ngọc Diễm. Dạy quẹt cọ, pha màu xanh đỏ cho em nhỏ nó mừng, thầy Đặng Công Hầu rất nghệ sĩ. Và không thể quên, “Trèo lên quán cốc”, “Thu Khói Lửa” của thầy Nguyễn Hữu Ba với chiếc đờn một sợi lừng danh.
Năm đó, tôi vừa rời lớp thính thị trên Trung Tâm Văn Hóa Pháp, bước lên “đẳng cấp” mới, cao hơn và người lớn hơn. Tôi bắt đầu cuốn số 1 “Ngôn Ngữ Và Văn Minh Pháp” của Mauger. Cô giáo phụ trách lớp chúng tôi là một cô đầm còn rất trẻ, chắc khoảng 22, 23 tuổi là cùng. Cô giới thiệu tên là Marie Anne M. Tên ghép của bà nội và ngoại của cô. Nghe cô giải thích như vậy, tôi ngạc nhiên hết sức. Đông Tây không giống nhau, bên ta kị húy, ông Cố Nội của chúng tôi tên Châu, nên chúng tôi được dạy nói núi Tô Châu (Hà Tiên) là Tô Chu.
Cô có gương mặt đẹp, tóc chatain vàng óng ánh trong nắng Saigon buổi sáng, được búi lên và thường kẹp từ trên đầu càng làm tăng vẻ thanh tú của da mặt trắng điểm ít tàn nhang.
Tháng 3 năm 1965. Châu Âu vào xuân, đặc biệt năm đó, tại Naples (Ý), Lục Xâm Bảo đoạt huy chương vàng Eurovision qua một bản nhạc Pháp “Poupee de cire, poupee de son”. Luxembourg hân hoan mở hội thăng hoa, Pháp cũng hùn vốn đem mồi uống rượu Petrus vui chung.
Cô Marie Anne vui lắm, niềm vui hòa trong nỗi hảnh diện hiện rõ trên nét mặt. Hôm đó, cô không giảng bài cho chúng tôi theo cuốn sách của Mauger, mà nói thật nhiều về bản nhạc đã đưa âm nhạc của Pháp đến Khải Hoàn Môn. Cô kể tỉ mỉ, viết lên bảng từng tên nhơn vật và địa danh liên quan đến, như muốn cả lớp chúng tôi cùng chia xẻ với cô, vui mừng men chiến thắng bên kia bờ đại dương. Những cái tên thật xa lạ trở thành quen thân qua lời kể của cô, đã đưa tác giả của “Búp Bê Không Tình Yêu”, đẩy Serge Gainsbourg, bức phá âm điệu thưởng thức cổ điển, thành một hiện tượng của nhạc Pháp chỉ vài năm sau đó.
Serge Gainbourg, trong “hậu khổ” ghi rõ ràng là Lucien Ginsburg. Gốc Do Thái qua cái tên và chiếc mũi, sanh ra đời dưới một “ngôi sao vàng tốt” như anh tự giới thiệu, nửa khiêu khích, nửa mỉa mai quá khứ đau thương kinh hoàng trong “đêm pha lê” “nuit du cristal” của một dân tộc có khoảng 6 triệu người bị tàn sát dã man, vì một chủ trương chính sách hận thù chủng tộc (Holocaust – Au nom de la race).
Một nhơn vật đa tài, bách nghệ: ca sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, văn sĩ , đạo diễn, đóng phim vv… Bước đầu vào đời mang đầy mặc cảm tự ti là người đàn ông không đẹp trai như chị Doãn được giới thiệu theo văn chương của Vũ Trọng Phụng (tête de chou, một trong những tục danh tự chê, tự trào của anh).
Sau nầy, trên đài danh vọng, người ta biết đến nhiều nhứt là Gainsbarre. Một lối chơi chữ “rất Tây” mà trong văn chương bác học gọi là alter ego.
“Búp Bê Không Tình Yêu” ra đời trong một hoàn cảnh bị ruồng bỏ. Người ta chờ đợi từ Eurovision đầu tiên (1956) những bản nhạc có âm điệu dịu dàng, mơn trớn màng nhĩ như Lucienne Boyer, Leo Marjane của hơn 30 năm về trước. Cuộc tranh tài âm nhạc xuyên châu Âu hoàn toàn đóng cửa với loại nhạc Rock, Ye -Ye, Pop. Ngay trong buổi tập dợt, toàn bộ nhạc công ở Naples đều tỏ vẻ không tán thành ủng hộ bài hát. Serge Gainsbourg thất vọng, chán nản bỏ về, cô ca sĩ France Gall, xinh xắn trong tuổi 17, ở lại chịu đời đắng cay.
Gainsbarre không dông luôn (barre: se barrer : động từ thời thượng của đường phố, tương đương với chữ “đa” là đi, Saigon năm xưa 60/70), với bản tánh khiêu khích nổi dậy, trở lại “percer ou crever” (hàng là chết, đột phá mới còn !)
Thiệt vậy, “đầu trái su” (tete de chou) không sai. “Poupee de cire, poupee de son” đã gây một tiếng vang thật lớn, ngoài sức tưởng tượng của mọi người, và lẽ dĩ nhiên ngoài mọi dự đoán của dàn nhạc tại Naples (Ý). Âm điệu Pop phóng túng, lời nhạc mang hai ý, đã tạo ra cho “Búp Bê Không Tình Yêu” thay da đổi thịt, làm cuộc cách mạng âm nhạc, thay đổi thế kỷ đối với Eurovision từ đó.
Con người đa tài, đến với âm nhạc Pháp như một “vật thể bay không xác định” (OVNI), không thiếu tật. Đầu óc phóng khoáng, sống phóng túng, xử thế hào sảng với người chung quanh. Không đẹp trai, nếu không muốn nói là khó nhìn, mặc cảm đẩy anh đến với siêu sao bốc lửa của Pháp “Et Dieu, Crea La Femme” (Roger Vadim, 1956). Dù chỉ một thời gian ngắn rủ nhau ăn chè, rồi au revoir mon amour khi Gunter Sachs (chồng cũ của BB) khám phá và xém ca bài “Nửa Hồn Thương Đau” dịch ra tiếng Đức.
Gainsboug đã ra đi khá sớm, ở tuổi 61. Để lại sau lưng những “dấu ấn” khó quên: đốt tiền trên đài truyền hình Pháp, sửa lời Quốc Ca vv… Cũng như không ai quên hình ảnh của Gainsbarre khệng khạng, run rẩy, lè nhè trong men rượu, thuốc lá hút liền môi.
Và cuối cùng, không ai có thể quên những đột phá rất cách mạng của anh cho nền âm nhạc quốc gia năm góc. Quand Gainsbarre se bourre, Gainsbourg se barre (tạm dịch: khi Gainsbarre xỉn, Gainsbourg đa).
Salut l’Artiste !
Lâm Thụy Phong
(PK 1964-1971)
Ngoại ô Paris 2/9/2023