Nho ve mot thoi da qua – Lam Vinh The

Mùa Hè năm 1953, sau khi thi đậu Bằng Tiểu Học, tôi đã nộp đon xin dự kỳ thi tuyển rất khó khăn vào các lớp đệ thất của Trường Trung Hoc Petrus Trương Vĩnh Ký, mà đồng bào Miền Nam thường gọi tắt là Trường Petrus Ký.  Và, rất là my mắn, tôi đã trúng tuyển, và được xếp vào Lớp Đệ Thất B6, được nửa năm, tên lớp được đổi thành Lớp Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp mới này được giữ mãi trong suốt 4 năm (1953-1957) của bậc đệ nhứt cấp: Đệ Thất F (1953-1954), Đệ Lục F (1954-1955), Đệ Ngũ F (1955-1956), và Đệ Tứ F (1956-1957).  Tôi đã theo học trong suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại ngôi trường lớn nhứt và danh tiếng nhứt này của Miên Nam.  Bài viết này chỉ ghi lại những kỷ niệm vui buồn trong 4 năm của bậc đệ nhưt cấp mà thôi.

Kề từ năm học 1954-1955, Trường Petrus Ký mới bắt đầu phát hành sổ Thông Tín Bạ (sau đây sẽ ghi tắt là TTB) để liên lạc giữa học đường và gia đình.  Vì vậy tôi không còn giữ được thông tin về Lớp Đệ Thất F (niên khóa 1953-1954). TTB có 2 loại, một có bìa màu hường cho đệ nhứt cấp và một với bìa màu xanh cho đệ nhị cấp:

Thông Tín Bạ Đệ I Cấp – Trường Petrus Ký

Thông Tín Bạ Đệ II Cấp – Trường Petrus Ký

Các Thầy Cô

Lớp Đệ Lục F (Niên Khóa 1954-1955)

Danh sách các Giáo Sư  dạy Lớp Đệ Lục F niên khóa 1954-1955

Thầy Ưng Thiều (Quốc Văn)

Thầy Ưng Thiều, năm trước ở Lớp Đệ Thất F dạy bọn tôi môn Hán Văn, năm này Thầy dạy môn Quốc Văn.  Tôi không còn nhớ gì nhiều về Thầy ngoài cái chuyện vui này.  Thầy bắt mỗi đứa bọn tôi phải làm 1 câu thơ.  Tên đầu tiên rất là nhanh trí, hắn xổ ra 1 câu xanh rờn như sau: “Má tôi đi chợ chưa về.”: Không biết Thầy nghĩ như thế nào, chỉ thấy Thầy gật gù và nói: “Được.”  Thế là tên kế tiếp thừa thắng xông lên, tuôn ra một câu mới mà thật ra chỉ mới có một chữ thôi: “Thiếm tôi đi chợ chưa về.”  Tới đây thì Thầy Thiều thấy ngay là không xong rồi nên Thầy cho chấm dứt luôn.  Mãi về sau nầy, trong thập niên 1960, tôi mới được biết Thầy chính là tác giả của 2 câu đối chữ Hán khắc trên hai cột cổng chính của Trường Petrus Ký:

Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khăc Cốt
Tâu Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm

Thầy Phạm Văn Sửu (Pháp Văn)

Thầy Phạm Văn Sửu dạy môn Pháp Văn, là một trong những vị Giáo sư đầu tiên của Trường Petrus Ký đã để lại một dấu ấn đậm nét trong tâm hồn tôi, không những vì công ơn dạy dổ của Thầy (chúng tôi học Pháp Văn với Thầy suốt 4 năm Ðệ Nhất Cấp), mà vì Thầy đã nêu gương sáng cho tất cả anh em chúng tôi qua tư cách của thầy cũng như qua quyết tâm vươn lên trong xã hội của thầy.  Xuất thân là một huấn luyện viên thể dục, lại nặng gánh gia đình đông con, vợ lại không đi làm, Thầy đã cố gắng vừa đi làm, vừa đi học thêm để lấy bằng Tú Tài.  Sau khi đậu xong Tú Tài, Thầy xin cải sang ngạch Giáo Sư Ðệ Nhất Cấp và được cử dạy môn Pháp Văn tại Trường. Trong suốt 4 năm dạy Pháp Văn cho anh em chúng tôi tại Trường, Thầy lại mở lớp dạy tư thêm tại nhà, một ngôi nhà nhỏ trong khu Bàn Cờ, để tăng thêm lợi tức cho gia đình vì lúc đó các con Thầy cũng đã lớn, trong nhà cần chi phí nhiều hơn. Tôi vẩn nhớ có nhiều hôm tụi tôi đến học thêm tại nhà Thầy, trời nóng quá, Thầy cho phép tụi tôi cởi áo ra, ở trần hết, riêng Thầy cũng chỉ mặc áo thung ba lổ.  Hình ảnh “lớp học” lúc đó trông chắc buồn cười lắm nhưng quả thật đã để lại trong tôi rất nhiều kỹ niệm êm đềm.  Cũng trong thời gian nầy, Thầy lại cố gắng ghi danh học Luật, và sau cùng Thầy lấy được mãnh bằng Cử Nhân Luật Khoa.  Thầy rời Trường, chuyển sang ngành Tư Pháp và được bổ nhiệm vào chức vụ Chánh Án các Toà Sơ Thẩm.  Gần mười năm sau, thầy trò chúng tôi lại có dịp gặp lại nhau tại tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre).  Lúc đó tôi vừa tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon và được bổ về dạy các lớp Ðệ Nhị Cấp tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa.  Thầy Phạm Văn Sửu lúc đó là đương kim Chánh Án Toà Án Tỉnh Kiến Hòa.  Tôi có đến thăm Thầy mấy lần tại ngôi biệt thự rất lớn dành cho vị Chánh Án của tỉnh, nằm cạnh bờ hồ Chung Thủy, ngay trước cổng Trường Trung Học.  Tôi nhắc lại mấy buổi học “ở trần” tại nhà Thầy ở khu Bàn Cờ, Thầy cười và nói: “Cái thằng nhớ dai dữ.”  Thầy rất mừng cho sự đổ đạt của tôi.  Tôi không nói ra, nhưng trong bụng thầm nghĩ “Chính nhờ Thầy đã nêu gương sáng hiếu học mà ngày nay con mới nên người”.  

Thầy Đinh Xuân Thọ (Anh Văn)

Ảnh Thầy Đinh Xuân Thọ chụp năm 1953

Thầy Ðinh Xuân Thọ dạy Anh Văn cho bọn tôi trong hai năm Ðệ Lục và Ðệ Ngũ (về sau lên Ðệ Nhị Cấp, bọn tôi còn được học thêm với Thầy một năm Ðệ Tam nữa). Thầy Thọ tướng người tầm thước, trắng trẻo, giống như lai Pháp.  Thầy rất hiền, và có một đặc điểm mà tôi không bao giờ quên được là mỗi khi Thầy mắt cỡ thì hai vành tai của Thầy đỏ lên liền.  Thầy dạy học rất tận tụy với học sinh, Thầy dạy bọn tôi quyển Anglais Vivant, 6e Bleu của Carpentier Fialip là sách giáo khoa Anh văn của thời đó, Thầy bắt bọn tôi tập đọc rất nhiều, Thầy lại chú trọng rất nhiều về văn phạm, nhờ vậy mà bọn tôi có được một căn bản về văn phạm rất vững chắc.  Sau khi rời Trường Petrus Ký tôi không có dịp nào gặp lại Thầy.  Tháng 8 năm 1984, trước khi rời Ottawa, đi nhận nhiệm sở mới tại Hamilton, Ontario, tôi có dịp gặp được người con trai của Thầy là Bác sĩ Ðinh Xuân Anh Tuấn và được Tuấn cho hay Thầy đã mất vì bịnh tim tại Pháp mấy năm trước đó.

Cô Lâm Thị Dung (Sử Địa)

Cô Lâm Thị Dung là một trong số rất ít các vị nữ Giáo sư của Trường Petrus Ký trong khoảng thời gian nầy.  Cô dạy bọn tôi môn Sử Ðịa ở năm Ðệ Lục nầy (về sau chúng tôi lại được học với Cô một năm nữa, ở lớp Ðệ Nhị, nhưng trong năm nầy Cô chỉ dạy môn Ðịa Lý mà thôi).  Cô Dung người nhỏ thó, gương mặt trái soan. Cô cũng bới đầu như Cô Ngà, nhưng Cô còn trẻ hơn. Về mặt dạy học, Cô Dung là thái cực đối lập với Thầy Gần của năm Ðệ Thất. Cô rất nghiêm, và cách giảng bài của Cô lại nặng về từ chương, làm cho tất cả bọn tôi đều ngán và sợ hai giờ Sử Ðịa của Cô.  Nói cho thật công bình thì vì bọn tôi đã quen với cách dạy vui nhộn và sống động của Thầy Gần qua suốt một năm Ðệ Thất, nên bây giờ trước cách dạy rất là “chính quy” của Cô, tụi tôi không thể không có sự so sánh tương đối bất công đối với Cô.

Thầy Vũ Ngọc Khôi (Toán – Lý Hóa – Vạn Vật)

Ảnh Thày Vũ Ngọc Khôi chup năm 1953

Thầy Vũ Ngọc Khôi dạy bọn tôi hai năm, Ðệ Lục và Ðệ Tứ, cả ba môn Lý, Hóa và Vạn Vật.  Trái hẳn với Thầy Khoa, Thầy Khôi tướng tá rất vậm vỡ, trông như một võ sĩ. Có thể nói bọn tôi mê Thầy Khoa bao nhiêu thì bọn tôi sợ Thầy Khôi bấy nhiêu.  Thầy dạy học rất nghiêm khắc, đứa nào lạng quạng, không thuộc bài, hay bị kêu lên bảng làm toán (vật lý) mà lôi thôi thì chết với Thầy.  Nhưng nhờ vậy mà bọn tôi học rất có kết quả, nhất là năm Ðệ Tứ, đi thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp đậu gần hết.  Thầy Khôi cũng là một tấm gương sáng cho bọn tôi về đức tánh hiếu học.  Thầy chịu khó vừa đi làm, vừa học thêm, Thầy lấy được bằng Cử Nhân Luật Khoa. Sau đó Thầy lại học tiếp, lấy xong Cao Học Luật Khoa và sau cùng Thầy đậu bằng Tiến Sĩ Luật Khoa của Ðại Học Sài gòn. Trong thập niên 80, tôi được tin Thầy đã vượt biên thành công cùng với người con trai và định cư tại Hoa Kỳ trong vùng Washington, D.C.  Tôi có liên lạc thư từ với Thầy nhiều lần, nhưng chưa có dịp gặp lại Thầy trước khi Thầy qua đời vì bịnh tim.

Bọn tôi học Lớp Đệ Lục F trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt và bất thường. Lúc đó, Chiến Tranh Việt-Pháp (1946-1954) vừa kết thúc bởi Hiệp Đinh Genève mới được ký kết vào ngày 20-7-1954.  Vào khoảng trên dưới 1 triệu đồng bào Miền Bắc đã di cư vào Miền Nam.  Bộ Giáo Dục chi thị cho Ban Giám Đốc của Trường Petrus Ký phải thu xấp cho học sinh của Trường Trung Hoc Chu Văn An của Hà Nôi có chổ học trong khi chờ đợi việc xây cất trụ sở mới cho Trường Chu Văn An.  Ban Giám Đốc Trường Petrus Ký quyết định chỉ hoạt đọng mỗi ngày 6 giờ thôi, từ 7 giờ sáng đến 1 giờ trưa, sau đó nhường cơ sỏ lại cho Trường Chu Văn An.hoạt động.  Các lớp đi thi được học 4 giờ mỗi ngày, các lớp còn lại chỉ được học 2 giờ thôi.  Vì vậy, bọn tôi chỉ được học có 2 giờ mỗi ngày, tứ 11 giờ sáng đến 1 giờ trưa.

Thời gian này, tình hình chính trị rất căng thẳng giữa Chính phủ Ngô Đình Diêm mới đươc thành lập với sự ủng hộ của người Mỹ và Lực Lương Bình Xuyên được sư hỗ trợ của người Pháp.  Lực lượng võ trang Công An Xung Phong của Bình Xuyên đóng quân ngay trong khuôn viên của Trường Petrus Ký.  Bọn tôi mỗi ngày đi học trong cái không khí sặc mùi chiến tranh đó.  Và chuyện phải đến đã đến.  Hai phe đối nghịch đã nổ súng đánh nhau vào ngày 28-4-1955.  Ban Giám Đốc Trường Petrus Ký phải cho học sinh nghĩ học và châm đứt năm học luôn.[1]     

Lớp Đệ Ngũ F (Niên Khóa 1955-1956)

Lớp Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956) bắt đầu khi Chính phủ Ngô Đình Diệm đã đánh dẹp được Lực Lượng Bình Xuyên băng Chiến Dịch Hoàng Diệu dưới quyền chỉ huy của ĐạiTá Dương Văn Minh, sau chiến thắng được vinh thăng lên Thiếu Tướng (tướng 2 sao; lúc đó chưa có cấp Chuân Tướng 1 sao).

Sau đây là danh sách các Thầy Cô đã dạy Lớp Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956):

Danh Sách Giáo Sư Lớp Đệ Ngũ F niên khóa 1955-1956

Gần phân nửa các Thầy Cô, Thầy Bùi Trọng Chương (Quốc Văn và Luân Lý), Thầy Phạm Văn Sửu (Pháp Văn), và Thầy Đinh Xuân Thọ (Anh Văn) đã dạy bọn tôi năm trước ở Lớp Đệ Lục F, niên khóa 1954-1955.  Tôi chỉ ghi ra đây các vị Thầy mới:

Thầy Nguyễn Văn Gần

Thầy Nguyễn Văn Gần, dạy bọn tôi môn Sử Địa, có lẽ là người mà bọn tôi thương mến nhứt trong trường vì Thầy hiền lành và vui tính và luôn luôn cho điểm tốt cho tất cả các hoc sinh.  Trong thời gian đó, cac anh lớn đi thi Tú Tài đều mong khi vào “Oral” (tức là phần Vấn Đáp) được gặp Thầy làm Giám Khảo vì Thầy không bao giờ cho ai điểm dưới 10/20.

Thầy Phan Đình Nữu

Thầy Phan Đình Nũu, dạy môn Toán, là bạn đồng khóa với Ngũ HổTướng Petrus Ký.  Không rõ vì lý do gì, sau khi dạy bọn tôi đâu chừng trên dưới 2 tháng thì Thầy được Bộ Giáo Dục thuyên chyển qua Trường Quốc Gia Sư Phạm, nên tôi thật sự không có nhiều kỷ niệm với Thầy.

Thầy Trần Thượng Thủ

Thầy Trần Thượng Thủ dạy bọn tôi luôn 3 môn khoa học thực nghiệm là Vật Lý, Hóa Học và Van Vật.  Thầy thấp người, thân hinh tròn trĩnh, và đầu hói, lúc nào cũng láng bong, trông giống như một sĩ quan Nhật Bản.  Thầy dạy học rất hay nhưng có khuyết điểm khá nặng là rất nóng tính.  Học sinh bị Thầy gọi lên bảng trả bài hay giải các toán Vật Lý ma lôi thôi thì thường bị Thầy lên gối hay nắm đầu đập vào bảng đen.  Học sinh Petrus Ký về sau đã đặt cho Thầy cái biệt danh là”Hung Thần Petrus Ký.”  Mãi về sau này, trong thập niên 1990, tôi mới được biết Thầy là hậu duệ đời thứ 14 của Tướng Nhà Minh Trần Thượng Xuyên, người đã không chiu thần phục NhàThanh (1644-1912), và đã mang 3000 quân và 50 chiên thuyền sang xin thần phục Chúa Nguyễn Phúc Tần, tức là Chúa Hiền (1620-1687), vào năm Kỷ Mùi (1679).[2]     

Thầy Trương Đình Ý (Hội Họa)

ThàyTrương Đình Ý, dạy bọn tôi môn Hội Họa, nghe nói hình như Thầy đã tốt nghiêp từ Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nôi, nhưng trông không có vẽ là một nghệ sĩ chút nào cả.  Dáng ngươi khắc khổ, đầu hớt brosse tóc ngắn như bàn chải.  Trong suốt giờ học, Thầ thường ngồi tại bàn viết củaThày để làm công việc riêng củaThầy.  Về sau tôi mới được biết là thật ra Thầy chuyên về điêu khắc, và Thầy chính là tác giả của Tượng Phật Nằm khổng lồ, dài 49 mét, cao 11 met tai núi Tà Cú, Lâm Đồng..  Lúc đó Trường Petrus Ký vẫn còn các phòng hoc đặc biệt dành cho 2 môn Âm Nhạc và Hội Hoa.  Phòng Hội Họa thì mỗi học sinh đều có một giá vẽ, ỡ giữa phòng có một bục gổ tròn cao hình trụ dùng cho giáo sư đặt các vật (bình hoa, nải chuối, vv) để cho học sinh vẽ. Thỉnh thoảngThầy mới rời bàn viết và đi một vòng, dể chỉ cho bọn tôi cách ngắm, cách đánh bóng, rồi lại trở về bàn làm tiếp công việc riêng của Thầy..     

Lớp Đệ Tứ F (Niên Khóa 1956-1957)

Năm học 1956-1957, ở Lớp Đệ Tứ F, bọn tôi được học với các Thầy Cô sau đây:

Danh Sách Giáo Sư Lớp Đệ Tứ F, Niên Khóa 1956-1957

Một số khá đông các Thầy ở Lớp Đệ Tứ F này đã dạy bon tôi vài năm trước đó như Thầy Bùi Trọng Chương (2 môn Quốc V8n và Luân Lý), Thầy Phạm Văn Sửu (môn Pháp Văn), Thầy Vũ Ngọc Khôi (3 môn Vật Lý, Hóa Học và Vạn Vật).  Tôi chỉ ghi ra đây thông tin về các Thầy Cô mới mà thôi.

Thầy Nguyễn Hoàng Sang (Anh Văn)

Thầy Nguyễn Hoàng Sang dạy môn Anh Văn là một người tầm thước, hơi ốm, đi dạy lúc nào cũng bận một đồ complet bằng sharkskin trắng.  Thầy Sang có rất nhiều đặc điểm làm bọn tôi khó quên được Thầy.  Tôi thật sự không rõ Thầy có được đào tạo về sư phạm hay không nhưng phải nhận rằng Thầy dạy rất hay, rất sống động, vừa tạo được không khí vui tươi cho lớp học, vừa tạo được sự tham gia tích cực của học sinh trong giờ học.  Khi dạy về đề tài nào là Thầy vẻ hình về đề tài đó lên bảng ngay, mà Thầy vẻ theo lối hí họa nên trông rất vui và hấp dẫn.  Một lần Thầy dạy một bài về tàu bè, thế là Thầy vẻ ngay lên bảng một chiếc tàu, với đầy đủ mỏ neo, ống khói và dây ăng-ten.  Vẻ xong, Thầy quay lại hỏi bọn tôi có biết dây đó là dây gì hay không.  Dĩ nhiên bọn tôi đều biết đó là dây ăng-ten nhưng anh Ánh (cũng là cái anh chàng Ánh liếng khỉ đã nhảy lên cặp cổ Thầy Giám Thị Chương của hai năm về trước) lẹ làng dơ tay lên xin trả lời và bảo đó là dây phơi quần áo.  Bọn tôi cười quá trời.  Thầy Sang, mặt không đổi sắc, vừa chỉ tay vào mặt anh Ánh vừa nói :”Cha mầy!”.  Vậy thôi, Thầy không phạt anh Ánh gì cả, và lại quay ra dạy tiếp.  Từ đó tụi tôi biết rõ bản tính hiền lành của Thầy.  Khi dạy bài “Thỏ Rùa Chạy Ðua” Thầy kêu ba học sinh lên, tôi và hai anh Xuân và Phước, Thầy bắt tôi đóng vai Thỏ, hai anh Xuân và Phước đóng vai Rùa, rồi Thầy bố trí cho hai con Rùa trong một lối đi giữa các bàn học, một con (anh Xuân) ở đầu lối đi, một con (anh Phước) ở cuối lối đi, còn con Thỏ thì ở lối đi phía bên kia.  Hể con Thỏ chạy gần đến cuối lối đi bên nây thì con Rùa nhõm dậy ở lối di bên kia, vậy là lần nào con Thỏ cũng thua cả.  Trong suốt vở kịch, ba anh em chúng tôi phải nói toàn những câu tiếng Anh do Thầy đã dạy trước.  Bọn diển viên bất đắc dĩ chúng tôi đã đóng trọn vẹn vở kịch “Thỏ Rùa Chạy Ðua” do Thầy Sang “dàn dựng” ngay trong lớp học, và cả lớp đã được một buổi học vô cùng vui vẻ và sống động.  Ðặc điểm sau cùng về Thầy Sang mà tôi vẫn còn nhớ là Thầy đi dạy học bằng xe hơi, một chiếc Juvaquatre mui trần màu trắng, một điều khá hiếm trong giới Giáo sư trung học trong thập niên 50. Riêng tôi có được thêm một kỹ niêm riêng với Thầy Sang.  Giữa năm đó, thi đệ nhứt lục-cá-nguyệt tôi đứng hạng nhứt môn Anh Văn, và được Thầy chọn thay mặt cho học sinh Petrus Ký đọc một diễn văn ngắn bằng tiếng Anh trong buổi lể tiếp nhận sách do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tặng cho Trường.  Tôi còn nhớ một ngày trước buổi lể đó, học sinh Petrus Ký chúng tôi được điều động ra đứng dọc theo đường Công Lý để chào mừng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm công du Ðại Hàn trở về.  Bọn tôi ra đó rất sớm, tất cả đều mặc đồng phục trắng cho các ngày lể, trong khi chờ đợi thì Thầy Sang đến, nói vài lời với thầy Giám thị phụ trách lớp bọn tôi, rồi dẩn tôi ra, cho tôi lên ngồi trên chiếc xe Juvaquatre kế bên Thầy (xe Thầy chỉ có hai chổ ngồi, không có băng sau) và tập dượt cho tôi đọc bài diển văn mà Thầy đã soạn sẳn.  Nhờ vậy, qua hôm sau, tôi đã làm tròn nhiệm vu, đọc bài diển văn không bị vấp váp.

Cô Nguyễn Thị Sâm (Sử Địa)

Cô Nguyễn Thị Sâm là Giáo sư môn Sử Ðịa của lớp Ðệ Tứ F bọn tôi.  Hình như Cô là con gái lớn của Thầy Y Tá Trưởng Bệnh Xá của Trường.  Cô Sâm người tầm thước, tóc uốn, mặt trái soan, mang kính cận khá nặng, và có dáng đi rất đẹp.  Cô là thái cực đối nghịch của Cô Dung.  Cô làm bọn tôi say mê môn Sử Ðịa vì Cô dạy môn học với tất cả tâm hồn và lòng nhiệt thành.  Nếu Thầy Gần là Giáo sư gây được niềm vui trong hai giờ Sử Ðịa thường được coi là khô khan, thì Cô Sâm là Giáo sư đã thật sự hun đúc nơi anh em chúng tôi lòng ái quốc, và niềm tự hào về lịch sử của dân tộc mình.  Khác hẳn với Cô Dung chỉ lấy giáo khoa ra đọc cho bọn tôi nghe, Cô Sâm soạn hẳn bài Sử và đọc cho bọn tôi chép.  Lời văn của Cô vừa bóng bẩy, vừa hùng hồn, đọc lên gây xúc động rất nhiều nơi học sinh. 

Thầy Dương Dạn Hòa (Toán)

Thầy Dương Dạn Hòa – Niên Giám Quốc Hội VNCH, Khóa !!

Thầy Dương Dạn Hòa (chữ lót trong tên của Thầy là như vậy, có lẻ do Chánh Lục Bộ đã viết sai khi thân phụ Thầy đi làm giấy khai sanh cho Thầy) dạy anh em chúng tôi môn Toán hai năm Ðệ Thất và Ðệ Tứ.  Thầy Hòa người nhỏ nhắn, đi dạy học lúc nào cũng bận complet, thắt cà vạt đàng hoàng.  Thầy rất nghiêm khắc, và đặt ra rất nhiều luật lệ làm cho chúng tôi theo muốn hụt hơi.  Thí dụ, khi làm bài trên giấy nộp cho Thầy thì luôn luôn phải gạch hàng đóng khuôn tên của mình lại, mà khuôn thì phải đầy đủ bốn gạch thành hình chữ nhựt đàng hoàng, mấy tên nào làm biếng chỉ gạch hai gạch, và dùng hai cạnh của tờ giấy làm hai cạnh còn lại của khuôn tên, đều bị trừ hai điểm.  Khi làm bài trong lớp nộp cho Thầy thì chỉ năm đứa nộp bài đầu tiên là được đủ điểm tối đa, năm đứa kế tiếp đều bị trừ một điểm, năm đứa kế nữa bị trừ hai điểm, và cứ thế điểm tối đa bị sụt dần.   Vì cái “luật” khắc khe nầy, tụi tôi đứa nào cũng rán làm bài cho nhanh để khỏi bị trừ điểm.  Ngoài ra, Thầy còn đặt thêm một luật nữa, là tất cả các bài toán đều phải có phép thử viết ngay bên cạnh, thiếu cái nầy cũng bị trừ điểm luôn.  Nói tóm lại tụi tôi làm toán phải luôn luôn đạt hai tiêu chuẩn là nhanh và đúng.  Lúc đầu mới học với Thầy thật quả là khốn khổ, nhưng dần dà rồi cũng quen và thấy có hiệu quả tốt.  Và với thời gian tụi tôi cũng nhận ra rằng Thầy tuy bề ngoài có vẻ rất nghiêm khắc nhưng thật ra rất vui tính và thương tụi tôi như con.  Ðặc biệt trong số học trò Thầy rất thương anh Hà Kim Phước, lý do là vì anh Phước nhỏ nhứt trong đám tụi tôi, nhỏ tuổi mà cũng nhỏ con luôn.  Mãi đến bây giờ, anh em tụi tôi có dịp gặp lại nhau, có nhắc đến anh Phước đều gọi là “thằng Phước con Ông Hòa”.  Ðến năm Ðệ Tứ phải đi thi bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp, tụi tôi có học thêm tại nhà với Thầy, một căn nhà gạch trong một con đường nhỏ mang tên là Palanca (bây giờ đổi tên thành đường Nguyễn Trung Ngạn).  Xin mở một dấu ngoặc nhỏ để nói thêm một ít về con đường nhà Thầy Hòa.  Con đường nầy rất ngắn, chỉ dài chừng mười lăm, hai mươi mét từ ngoài đường Luro (sau đổi tên là Cường Ðể, bây giờ gọi là đường Tôn Ðức Thắng) vào.  Ở ngay tại ngả ba hai đường nầy có một quán rượu nhỏ của một anh lính Pháp không chịu hồi hương (vì hình như đã lấy một bà vợ người Việt, và bà nầy không chịu theo chồng về Pháp) với một bảng hiệu rất ngộ nghĩnh, không đề bằng chữ mà toàn bằng số như sau : 0 20 100 0 (đọc theo tiếng Pháp sẽ tạo ra một âm thanh tương đương với câu Au Vin Sans Eau = Rượu Không Pha Nước).  Xin đóng dấu ngoặc lại ở đây.  Nhờ học thêm Toán với Thầy, cuối năm đó đa số anh em chúng tôi đậu bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp rất dễ dàng.  Thầy Hòa về sau trở thành Dân Biểu Quốc Hội trong thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, đại diện cho đơn vị Năm Căn của tỉnh An Xuyên (Cà Mau).  Vào khoảng cuối thập niên 1990, tôi nhận được thơ của một người bạn thân cùng lớp, anh Nguyễn Thanh Hải.  Trong thơ, anh Hải cho hay một tin buồn: Thầy Hòa, do lớn tuổi bị mất trí nhớ, đi lạc, không biết đường về nhà, Thầy phải lang thang xin ăn tại Chợ Cầu Muối một thời gian, may nhờ một học sinh củ nhận ra và đưa Thầy về nhà.  Ðọc thơ xong, tôi không cầm được nước mắt.  Lập tức, một mặt tôi liên lạc với anh Võ Duy Thưởng, Tổng thư Ký Hội Ái Hữu Petrus Ký Bắc California, nhờ Hội giúp đở, mặt khác tôi liên lạc với vài anh em Petrus Ký xưa có học với Thầy Hòa.  Anh Thưởng nhân danh Hội Ái Hữu Petrus Ký gởi sang 100 Mỹ kim, phần tôi và mấy anh em quen góp thêm 100 Mỹ kim nữa.  Tôi gởi về cho anh Hải và anh Hải đã cùng một số học trò củ đến thăm Thầy Hòa (vẩn tại căn nhà củ đường Palanca đó) và trao cho Cô số tiền nầy.  Sau đó anh Hải có gởi sang cho tôi bức ảnh chụp chung tại nhà với Thầy Cô, nhìn vào ảnh tôi buồn nhiều khi thấy rõ cái nhìn không hồn của Thầy.  Mấy năm sau thì tôi được tin Thầy đã mất. 

Thày Nguyễn Văn Hài (Hội Họa)

Thầy Hài, người Bắc, dạy bọn tôi môn Hội Họa trong năm Ðệ Tứ nầy.  Thầy Hài người rất cao, mang kính, và tác phong hoàn toàn khác với Thầy Ý của năm Ðệ Ngũ.  Thầy rất hiền lành, và rất gần gũi với học sinh, giờ học nào cũng vậy, Thầy đi vòng vòng khắp lớp học và chỉ cho từng học sinh cách nhắm, cách vẻ, cách đánh bóng.  Bọn tôi rất thương Thầy.  Trước Tết năm đó, tin Thầy Hài bị tử nạn trong một vụ cháy nhà (nhà Thầy làm pháo, chẳng may bị nổ và gây ra đám cháy) làm cả lớp Ðệ Tứ F bọn tôi vô cùng xúc động.  Nhà Trường đã tổ chức cho học sinh chúng tôi tham dự tang lể của Thầy.

Thầy Marcel (Âm Nhạc)

Thầy Marcel dạy bọn tôi môn Nhạc ở năm Ðệ Tứ nầy.  Thầy là người Pháp lai, nói tiếng Việt (giọng Bắc) rất giỏi.  Thầy bị tật ở chân nên đi khập khiểng.  Ðiều đặc biệt nhứt ở Thầy Marcel là cặp mắt của Thầy, một cặp mắt sâu, sắc, và rất có thần, bọn tôi ít đứa nào dám nhìn thẳng vào mắt Thầy.  Thầy lại rất nghiêm khắc.  Giờ học với Thầy Marcel luôn luôn diển ra tại Phòng Nhạc.  Bọn tôi sợ nhất là mổi khi Thầy ra bài “dictée musicale”, tức là viết chính tả âm nhạc, mổi lần như vậy thì Thầy ngồi vào chiếc đàn dương cầm, đánh lên một số nốt nhạc, và bọn tôi phải ghi ra trên giấy nộp lại cho Thầy để chấm điểm, tôi thường lãnh trứng vịt.  Cũng may là môn Nhạc chỉ là một môn học “ăn chơi” mà thôi, không có thi lục-cá-nguyệt và điểm không được ghi vào thông-tín-bạ.  Một kỹ niệm vui mà bọn Tứ F chúng tôi nhớ hoài về giờ Nhạc với Thầy Marcel là cái lần Thầy bắt anh Ánh (cũng anh Ánh nổi tiếng liếng khỉ đó) lên hát một mình bản Quốc Ca cho cả lớp nghe, với lời hăm dọa trước là hát sai một nốt thì lãnh “cấm túc” liền, kết quả là anh Ánh vừa hát mà vứa mếu trông rất tức cười. Cũng may, khi anh Ánh mới hát được chừng gần nữa bài thì Thầy ra lệnh cho chấm dứt và cho anh Ánh về chổ.  Một kỹ niệm nữa là một hôm giờ Nhạc của Thầy Marcel trùng với giờ của trận bóng tròn quan trọng giữa Trường Petrus Ký và Trường Chu Văn An.  Hơn nữa lớp Ðệ Tứ F (trong đó có tôi luôn) bỏ giờ Nhạc, trốn ra sân để xem trận banh và ủng hộ đội nhà.  Ngày hôm sau vào Trường, bọn trốn học chúng tôi đều bị kêu lên gặp Thầy Tổng Giám Thị, lúc đó là Thầy Lê Ngọc Toản (về sau có thời gian làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Nguyễn Ðình Chiểu ở Mỹ Tho).  Thầy Toản kêu từng đứa vào, hỏi lý do tại sao hôm trước vắng mặt giờ Nhạc.  Thôi thì đủ thứ lý do được bọn tôi đưa ra, nào là bị chó cắn phải đi Viện Pasteur chích thuốc, nào là mẹ đau phải đi hốt thuốc Bắc cho mẹ, nào là phải ở nhà phụ mẹ và chị lo đám giổ bà ngoại, v.v.  Nhưng tất cả lý do đều bị Thầy Toản cho pha hết, và mổi đứa bọn tôi đều lãnh “nữa cấm túc”.  Chúa Nhật đó tất cả bọn tôi đều gặp nhau tại Phòng cấm túc trong hai giờ.

Các Bạn Thân

Học chung lớp với nhau trong suốt 3 năm đầu (1953-1956) của bậc Đệ Nhứt Cấp, nên khi lên đến Lớp Đệ Tứ F, niên khóa 156-1957, bọn tôi đã hình thành một Nhóm Bạn Thân 9 Người rất thân tình, lúc học lúc chơi đều luôn luôn có nhau, gôm có:

  • Nguyễn Thanh Hải
  • Nguyễn Trung Hiếu
  • Đinh Xuân Lãm
  • Võ Văn Minh
  • Trân Phục
  • Phan Văn Quang
  • Dương Xã Tắt
  • Huỳnh HữuThế (Thế Huỳnh)
  • Lâm Vĩnh Thế (Thế Lâm)

Nguyễn Thanh Hải

Ảnh Hải chụp lúc học Lớp Đệ Nhứt Trường Petrus Ký, niên khóa 1959-1960

Nguyễn Thanh Hải,sinh năm1939, là người bạn thân nhứt của tôi trong suốt 7 năm (1953-1960) theo học tại Trường Petrus Ký   Mỗi ngày, Hải đạp xe đạp từ Thị Nghè qua Đakao để cùng tôi đi học, và trong lớp thì Hải và tôi cũng ngồi chung bàn suốt 7 năm đó.

Hè 1960, tôi thi đậu bằng Tú Tài 2 và đậu luôn vào ĐHSPSG, Hải thi rớt tất cả 2 kỳ thi của năm đó.  Năm sau, Hải ghi danh vào học lớp đêm dành cho tráng niên tai Trường Nữ Tiểu Học Đakao trên đường Phan Đình Phùng để chuẩn bị thi lại vào cuối năm.  Thỉnh thoảng, khoảng 8 giờ tối, Võ Văn Minh và tôi đạp xe đến trường để rủ Hải bỏ học đi uống cà phê với tụi tôi tại tiệm Hà Nội trên đường Bonard ở Sài Gòn.  Cuối năm học đó, Hải thi đậu bằng Tú Tài 2, và qua Hè 1962, Hải cùng với tôi làm đơn tình nguyện vào Không Quân.  Không biết ai báo tin, Mẹ tôi hay được, kêu tôi về, la rầy tôi, và khóc quá chừng.  Mẹ tôi vừa khóc vừa nói như sau: “Bao nhiêu người muốn được vào học ở đó, con đã đậu rôi, lại bỏ đi.  Ăn cơm dưới đất mà làm việc trên Trới!  Bộ con muốn Má lo cho tới chết hay sao?”  Nghe Mẹ nói những lời thống thiết như vậy, tôi đành phải bỏ cuộc, trở về trường học tiếp và tốt nghiêp ĐHSPSG vào tháng 4-1963.

Khi tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Võ Văn Minh  vào ngày 6-10-1963, Hải là ngưới bạn thân nhứt của tôi lại không có mặt tại đám cưới vì lúc đó Hải đang học lái máy bay trực thăng tại Hoa Kỳ.

Hè năm 1964, Hải, với cấp bậc Chuẩn Úy hiện dịch, mang đôi cánh bạc về nước và được điều về phục vụ tại Phi Đoàn 217 Trực Thăng, thuộc Không Đoàn 64 Chiến Thuật tại Cần Thơ.  Năm 1970, với cấp bậc Đại Úy, Hải đã chi huy các phi tuần trực thăng vũ trang tấn công sang Kampuchia. 

Câp bậc và chức vụ sau cùng của Hải vào ngày 30-4-1975 là Trung Tá, Phụ Tá Tư Lệnh Không Quân Đặc Trách Về An Phi tại căn cứ Tân Sơn Nhứt. 

Sau ngày 30-4-1975, Hải bị đi tù cải tạo ở Miền Bác khoảng 14 năm.  Mấy năm sau, Hải đưa được gia đình đi định cư tại Mỹ, thành phố Lansing, tiểu bang Michigan, theo chương trình HO.(Humanitarian Operation = Chến Dịch Nhân Đạo)  Vợ chồng tôi đã mấy lần sang Lansing thăm vợ chồng Hải và chúng tôi đã có được tấm ảnh ăn cơm chung với nhau tại nhà Hải như sau:

Ăn cơm tại nhà Hải ở Lansing năm 2012

Thật không ngờ đó lại là tấm ảnh cuối cùng Hải và tôi chụp chung với nhau.  Sau khi vợ chồng Hải dọn về Modesto, California để được gần con gái và các cháu ngoại, Hải và tôi không còn có dịp gặp nhau nữa cho đến khi Hải mãn phần vào ngày 22-9-2023.

Nguyễn Trung Hiếu

Ảnh Nguyễn Trung Hiêu chụp khoảng năm 2010

Nguyễn Trung Hiếu có lẽ là một trong vài người lớn tuổi trong nhóm 9 người bạn thân của tôi.  Tính Hiếu là ít nói, điềm đạm, nhưng vui vẻ và có lòng với bạn bè.  Hiếu ra đời sớm, đi làm bán vé ở Trường Đua Phú Tho vào các ngày cuối tuần.  Hiếu cũng vào quân đội rất sớm, ngay lúc bọn tôi vẫn còn đang học đệ nhị cấp, phục vụ tại một Sư Đoàn ở Miền Tây, Sư Đoàn 19 hay 21 tôi không nhớ rõ.  Hiếu cũng lập gia đình rất sớm nhưng chẳng may gặp phải người vợ không tốt, sau đó đã bỏ Hiếu và đứa con gái nhỏ.  Hiện nay Hiếu vẫn còn sống với đứa con gài đó tại San Diego, California, Hoa Kỳ.

Đinh Xuân Lãm

Ảnh Đinh Xuân Lãm chụp khoảng năm 1990

Tôi và Lãm quen nhau từ năm 1953 khi thi đậu vào Trường Petrus Ký và cùng được xếp vào Lớp Đệ Thất B6 (niên khóa 1953-1954).  Hè 1957, Lãm và tôi đều đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp.  Tưu trường niên khóa 1957-1958, hai chúng tôi cùng lên lớp đệ tam, nhưng không còn học chung lớp nữa, Lãm học Ban B (Toán) còn tôi thì học Ban A (Khoa Học Thực Nghiệm). 

Hè 1960 Lãm và tôi cùng đậu bằng Tú Tài 2.  Sau đó, tôi thi đậu vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa và Lãm thì tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 17, tức Khóa Lê Lai, khai giảng ngày 11-11-1960, và bế giảng ngày 30-3-1963.  Ra trường, với cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch, Lãm tình nguyện về phục vụ binh chủng Thủy Quân Lục Chiên (TQLC), và được điều về làm Đại Đội Phó (Đại Đội Trưởng lúc đó là Trung Úy Phạm Nhã), Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 2 (về sau nổi danh là Tiểu Đoàn Trâu Điên).

Trận đánh đầu tiên trong binh nghiệp của Lãm là Trận Đầm Dơi tại Cà Mau và đó là chiến thắng lớn nhứt trong năm 1963 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH).  Lãm được đi phép về Sài Gòn, và, nhờ vậy, Lãm đã làm rể phu cho tôi trong đám cưới của tôi với Nhơn Nghĩa.

Sau đó, Lãm đã tham dự rất nhiều trận đánh lớn của TQLC.  Câp bậc và chức vụ cuối cùng vào ngày 30-4-1975 của Lãm là Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Ngô Văn Định.

Sau ngày 30-4-1975, Lãm phải đi cải tạo tại Miền Bắc hơn 10 năm.  Năm 1990, Lãm được đi định cự tại San Jose, Nam California, Hoa Kỳ, theo diện HO, dành cho các cựu sĩ quan của QLVNCH đã bị đi học tập hơn 3 năm.

Hè 1992, nhơn dịp đám cưới con gái của Trần Phục, Lãm đã cùng với Phục và hai Thế chúng tôi có được tấm ảnh quý hiếm chụp trước nhà Phục như đã  trình bày bên trên.

Sau đám cưới con gái của Phục, tôi đưa vợ chồng Lãm – Lệ và đứa con trai trở về San Jose, và hôm sau thì tôi bay về Toronto.  Lãm và tôi tiếp tục giữ liên lạc qua thư từ và điện thoại, và tôi vui mừng được biết gia đình Lãm đã từng bước ổn định cuộc sống tại Hoa Kỳ, và hai đứa con trai đều học hành có kết quả rất tốt, tốt nghiệp ra trường và đều có công ăn việc làm vững vàng.

Mùa Thu năm 2007, sau khi tôi đã nghỉ hưu, vợ chồng tôi bay sang California để thăm bà con và bạn bè.  Trong dịp này, vợ chồng tôi đã dành thì giờ đi San Jose thăm hai vợ chồng Lãm – Lệ.  (chính trong đám cưới của vợ chồng tôi năm 1963, Lãm là rể phụ cho tôi và Lệ là dâu phụ cho vợ tôi; hai ngườ đã quen nhau từ đó, yêu nhau, và sau cùng đi đến hôn nhân và sinh được 2 đứa con trai), Chúng tôi đã có được tấm ảnh kỷ niệm hiếm quý cho cuộc gặp gỡ này:

Hình vợ chồng Lãm – Lệ và vợ chông tôi trước nhà Lãm, San Jose, Califotrnia, Hoa Kỳ  –  Hè 2007

Thật không ngờ đó là lần cuối cùng tôi được gặp lại Lãm.  Ngày 21-6-2011, Lãm mất đột ngột ở tuổi 71.  Đám tang Lãm đã được Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam tai Hoa Kỳ tổ chức rất trọng thể, có cả Lễ Phủ Quốc Kỳ:

Lý do rất là chính đáng: Thiếu Tá Đinh Xuân Lãm, Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, chức vụ cuối cùng là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 TQLC, đã trọn đời chinh chiến, luôn sát cánh với đồng đội, và được sự thương yêu của cấp dưới cũng như được cấp trên đánh giá cao.  Trước khi đột ngột qua đời, trong một lần lâm bệnh, Thiếu Tá Lãm đã được chính các cấp chỉ huy đến tận nhà thăm viếng như trong tấm ảnh bên dưới đây:

Hình chụp tại nhà Lãm: người đứng bên trái là Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, cựu Tư Lệnh TQLC; người bắt tay Lãm là Đại Tá Ngô Văn Định, cựu Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 468 TQLC

Các quân nhân TQLC VNCH chào kính trước khi làm lễ di quan tại đám tang của Lãm

Võ Văn Minh

Ảnh Võ Văn Minh chụp khoảng thập niên 1960

Võ Văn Minh, sinh năm 1940, là một người trong nhóm 9 người bạn thân của tôi hồi học bậc đệ nhứt cấp tại Trường Petrus Ký.  Về sau, Minh còn thân tình với tôi nhiều hơn nữa vì tôi đã cưới Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Minh.

Minh là một người tính tình hiền lành, vui vẻ, và có lòng với bạn bè.  Nhà Minh bao giờ cũng là nơi bọn tôi tụ họp lại để ôn bài thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là thi bán niên), dưới sự hướng dẫn làm các bài Toán của Thế vì Thế là một “câyToán” của lớp. 

Sau khi thi rớt bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 195, thay vì ở lại học thêm một năm để năm sau thi lại, có lẽ vì tự ái, Minh đã bỏ trường, ra học Lớp Đệ Tam C tại Trường Trung Học Tư Thục Cửu Long.  Hè năm sau, Minh thi rớt Tú Tái Ban C, và bỏ học luôn, ra đi làm.  Nhờ một ngươi anh chú bác ruột, anh Võ Thành Đức, lúc đó là Thiếu Tá, Trưởng Ban F22, Cảnh Sát Đặc Biệt, thuộc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gai, Minh được nhận vào làm thư ký đánh máy lương bổng cho Ty Cảnh Sát Gia Định.

Minh lập gia đinh với Chị Bùi Thị Kim Hoàng (trùng tên họ với vợ Thế) và sinh được 3 đứa con, 1 trai và 2 gài, đặt tên là Võ Hoàng Hải, Võ Thị Ngọc Hà, và Võ Thị Ngọc Hạnh.

Cuối tháng 1-2018, nghe tin Minh đau nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để bay về Việt Nam ngay, nhưng vẫn không kịp.  Minh đã mất vào buỏi tối ngày 3-2-2018, thọ 78 tuổi.

Trần Phục

Ảnh Trần Phục chụp năm 1992

Trần Phục, không rõ sinh năm nào, nhưng tôi nghĩ là có thể lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi  Gia đình Phục tương đối khá giả, có một cơ sở khá lớn, buôn sỉ chén bát trong Quận 5, Chợ Lớn.  Phục tính tình hiền lành và rất tốt với bạn bè.

Sau khi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 1957, Phục thi vào Trường Cán Sự Y Tế, hệ 3 năm.  Ra trường, Phục được bổ nhiệm làm Y Tá tại Tổng Y Viện Cộng Hòa và Phục đã làm việc tại đây cho đến ngày 30-4-1975.  Cũng chính tại đây, Phục đã gặp được người vợ tương lai của mình.

Sau khi vượt biên thành công và được Mỹ nhận, gia đình Phục đã định cư tại Anaheim, Bắc California, và Phục đã sống tại thành phố này cho đến khi mãn phần vào ngày 21-12-2018.

Phan Văn Quang

Ảnh Phan Văn Quang chụp khoảng thập niến 1990

Phan Văn Quang được các bạn Lớp Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957) đặt cho biệt danh là Quang Bouc.  Lý do: một hôm trong giờ hoc Pháp Văn, Thầy Phạm Văn Sửu dạy bài thơ ngụ ngôn Le Renard et Le Bouc của văn hào Pháp Jean de La Fontaine (1621-1695).  Thầy dàn dựng thành một vở kịch và chỉ định Quang đóng vai Le Bouc.

Sau khi đặu bằng Tú Tài 2, Quang có học Đại Học Khoa Học một thời gian ngắn rồi tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 19, tức là Khóa Nguyễn Trãi, khai giảng ngày 23-11-1962 và mãn khóa ngày 28-11-1964.

Ra trường, Quang về phục vụ tại Trung Đoàn 52 Biệt Lập tại tỉnh Phước Tuy và bị thương rất nặng trong một trân đánh lớn, đã tưởng là sẽ không qua khỏi.  Huỳnh Hữu Thế, lúc đó đang là sĩ quan cán bộ tại Tường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, đã nhận được lệnh chuẩn bị đi gác xác cho Quang.  Nhưng như một phép la, Quang đã qua khỏi đươc nhưng sau đó được xếp vào loại 2 (không tác chiến) và đươc Bộ Quốc Phòng điều về phục vụ tại Biệt Khu Thủ Đô cho đến ngày 30-4-1975.  Hiện nay Quang sống tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ.

Dương Xã Tắt

Ảnh Dương Xã Tăt chụp tại tiệc cưới của tôi – Đêm 6-10-1963

Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Tắt lớn tuổi nhứt, mà cũng to con nhứt, và có tiền nhiều nhứt vì ba Tắt là một đại điền chủ giàu có lớn tại Bến Lức, thuộc tỉnh Tân An (về sau đổi tên thành Long An).  Tánh Tắt rất có lòng với bạn bè, và cũng rất rộng rãi nên mỗi lần đi chơi chung cả nhóm với nhau, khi góp tiền, ai không có đủ thì Tắt đều ứng ra cho, hoàn toàn không nề hà gì cả.

Sau khi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt cấp, cuối niên khóa 1956-1957, Tắt thi và đậu vào Trường Quốc Gia Sư Phạm, Hệ CấpTốc, chỉ học một năm thôi.  Sau khi tốt nghiệp, Tắt được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Lức, thuộc tỉnh Long An.  Ngày 6-10-1963, tôi lập gia đình với Nhơn Nghĩa, và trở thành em rể của Võ Văn Minh.  Tắt đã từ Bến Lức lên Sài Gòn để dự tiệc cưới của vợ chồng tôi đêm hôm đó tại Nhà Hàng Đồng khánh trong Chợ Lớn:

Hình Tắt tại tiệc cưới của tôi: Tắt là người thứ ba từ trái qua (chỉ thấy profile)

Mấy tháng sau, Tắt bị động viên vào Khóa 17, là Khóa Nguyễn Thái Học (từ 13/1/1964 đến 22/10/1964), khóa cuối cùng của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức (vào lúc giữa Khóa 17 này, ngày 1/7/1964, Trường được đổi tên thành Trường Bộ Binh Thủ Đức).

Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy, nhờ sự vận động của gia đình, Tắt được bổ nhiệm về một đơn vị Địa Phương Quân ngay tại Bến Lức.  Bạn bè chúng tôi ai cũng mừng cho Tắt, coi như là Tắt đã được “mang chữ Thọ” rồi.   Thật không ngờ, trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Cộng, Tắt bị thương và tử trận vì không được tải thương kịp.  Lúc đó vợ Tắt đang mang thai được 6 tháng đứa con đầu lòng của vợ chồng Tắt.  Ngày đưa tang Tắt, tôi đã không đến tiễn bạn được vì đang bận coi thi Tú Tài I tại Cần Thơ.  Chỉ có Võ Văn Minh đại diện các bạn Lớp Đệ Tứ F đến tiễn đưa Tắt mà thôi. 

Huỳnh Hữu Thế

Ảnh Huỳnh Hữu Thế chụp năm 1992

Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Huỳnh Hữu Thế là người giỏi môn Toán nhứt   Mỗi khi cần ôn bài để chuẩn bị thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là học kỳ) hay thi bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thì bọn tôi đều tụ tập tại nhà Võ Văn Minh và Thế đứng ra hướng dẫn anh em ôn tập Toán.

Hè 1957, sau khi dậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp như cả nhóm, Thế đã tao ra một kỳ tích cho Trường Petrus Ký là Thế đã đi thi và đậu luôn cả bằng Tú Tài 1, Ban B (ban Toán),, tức là Thễ đã nhảy lớp, mà nhảy cả 2 lớp, từ Đệ Tứ lên thẳng Đệ Nhị.

Vì vậy, khi tưu trường niên khóa 1957-1958, trong khi bọn tôi lên lớp đệ tam, thì Thế đã học lớp đệ nhứt rồi, nhưng Thế phải chuyển qua học Trường Chu Văn An vì Trường Petrus Ký lúc đó vẫn còn áp dụng chính sách cấm học sinh nhảy lớp.

Hè 1959, Thế đậu bằng Tú Tài 2, cũng Ban Toán, và sau đó cũng đậu luôn vào năm thứ nhứt của Trường Đai Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Toán.  Vì vậy, đầu năm học 1959-1960, trong khi bọn tôi lên lớp đệ nhứt, chuẩn bị để đi thi bằng Tú Tài 2 vào cuối năm, thì Thế đã là một sinh viên của ĐHSPSG rồi.

Nhưng cũng bắt đầu từ năm này, Thế đã phải dương đầu với rất nhiều khó khăn.  Thứ nhứt, Thế bị bệnh đau đầu rất nặng, hậu quả của việc dùng quá nhiều thuốc chống ngủ trong lúc hoc nhảy lớp đó. Thứ hai, vợ Thế dan díu với một nhân viên của Tòa Đai Sứ Thụy Sĩ, nơi vợ Thế làm thư ký, và đã bỏ Thế, và mang 2 đứa con gái nhỏ đi theo người nhân viên đó về Thụy Sĩ luôn.  Kết quả là Thế bị rơi vào một cuộc khủng hoảng tinh thần rất trầm trọng.  Chương trình học của ĐHPSG là 3 năm nhưng Thế phải học đến 6 năm vì năm nào cũng bị rớt và phải ở lại lớp.  Khi tốt nghiệp ĐHSPSG vào năm 1965, Thế đã đậu Thủ Khoa và được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).  Nhưng chỉ dạy được một niên khóa (1965-1966) thì Thế bỏ trường, tình nguyện vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức.  Nhưng nhờ vậy, qua 6 tuần lễ huấn nhục, ngày giờ đâu mà suy nghĩ về chuyện buồn của gia đình, Thế đã vượt qua được khủng hoảng tinh thần đó.

Sau khi ra trường, Thế được bổ về Trường Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu.  Thế dạy học ở đó được 1 năm thì được Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt.  Tại đây Thế đã may mắn gặp được chị Bùi Thị Kim Hoàng, lúc đó đang là luật sư tập sự, hai người yêu nhau và đi đến hôn nhân, sinh được 1 đứa con trai đặt tên là Phong.  Phong giống cha nên cũng học rất giỏi, vế sau đậu PhD và đi sang Phi Châu giúp các nước nghèo.

Sau ngày 30-4-1975, Thế phải đi cải tạo mấy năm.  Khi Thế được thả về, Chị Hoàng đã tổ chức cho hai cha con Thế đi vượt biên ngay, và, rất may mắn, ngay trong chuuyến đi đầu tiên, hai cha con Thế đã đi thoát, được Mỹ nhận cho vào định cư tại thành phố Newport, thuộc tiểu bang Connecticut.  Được tin vui này, tôi và bà xã cùng với đứa con trai nhỏ là Trung đã sang thăm hai cha con Thế ngay và chúng tôi đã có được tấm hình chụp chung sau đây tại khuôn viên của Trường Đai Học MIT (Massachusetts Institute of Technology) tại thành phố Boston:

Tử trái qua: một người bạn của Thế, Trung, con nhỏ của vợ chống tôi, bà xã tôi và tôi, Phong, con trai của Thế, và Thế.

Sau đó, chính Chị Hoàng, không chờ Thế bảo lãnh, cũng đã đi vượt biên và, rất may mắn, Chị cũng đã thành công, được Mỹ nhận và đoàn tụ được với hai cha con Thế.

Năm 1992, Trần Phục gởi thiệp mời dự đám cưới của đứa con gái lớn, tôi điện thoại cho Thế và được biết Thế cũng đã nhận được thiệp mời rồi.  Hai Thế chúng tôi cùng quyết định bay xuống Anaheim, Nam California, nơi vơ chồng Phục đang sống, để dự đám cưới.  Cùng lúc tôi cũng được tin Đinh Xuân Lãm đã qua đến Mỹ theo diện HO, và đã định cư tại San Jose, Bắc California.  . 

Tôi mua vé máy bay và bay xuống San Jose.  Tại đây tôi mướn một chiếc xe hơi nhỏ, đến nhà Lãm, và chở vợ chồng Lãm với đứa con nhỏ là Tùng đi xuống Anaheim.  Chuyến đi mất gần 6 giờ, và suốt đoạn đường đi dài khoảng 600 km đó, tôi và Lãm nói chuyên liên tục vì có biết bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe sau khi bị chia cách nhau mười mấy năm trời.  Đến nhà Phục thì đã gần 2 giờ sáng, Thế đã có mặt tại đó rồi.  Bốn người bọn tôi, bên mâm trà do vợ Phục dọn ra, nói chuyện đến gần sáng, vợ Phục phải giục chúng tôi ngưng câu chuyện, đi ngủ vài giờ trước khi bên nhà trai đến rước dâu vào lúc 11 giờ. 

Sau khi ăn sáng xong và trước khi bên nhà trai đến rước dâu, bọn tôi đã ra trước nhà Phục chụp một tấm ảnh kỷ niệm như sau:

Từ trái qua: Thế Lâm, Phục, Thế Huỳnh, và Lãm chụp trước nhà Phục – Hè 1992

Hè năm sau, hai vợ chồng Thế với hai vợ chồng Phục cùng đi du lịch sang Canada, và đã đến thăm hai vợ chồng tôi và chúng tôi đã có được tấm ảnh chụp chung với nhau như sau:

Phục và vợ chồng Thế Huỳnh và vợ chồng tôi tại Mississauga – Hè 1993, hình do vợ Phục chụp

Mấy năm sau đó, chúng tôi vẫn giữ liên lạc, khi thì điện thoại, khi thì điện thư.  Thế mất ngày 20-10-2006 vì bị đột quỵ khi chạy bộ buổi sáng trên bãi biển ở gần nhà.  Vợ Thế quá đau buồn nên không thông báo cho bạn bè ai cả.  Một hôm Phục gọi phone qua thăm mới biết Thế đã mất và báo cho tôi.

THAY LỜI KẾT:

Thời gian 4 năm (1953-1957) theo học bậc Trung Học Đệ Nhứt Cấp tại Trường Petrus Ký thân yêu có lẽ là những ngày tháng đep nhứt, hạnh phúc nhứt, và vui vẻ nhứt trong cuộc đời đi học của tôi.  Tôi đã may mắn được học với các Thầy Cô có đầy đủ kiến thức và rất tận tâm.  Tôi cũng đã có may mắn được kết bạn với 8 người bạn cùng lớp và tình bạn giữa 9 người bọn tôi vẫn còn tiếp diễn cho đến ngày hôm nay.  6 bạn đã vĩnh viễn ra đi về Cõi Vĩnh Hằng.  Xin nhắn với các bạn là rồi một ngày nào đó tât cả 9 người bọn mình cũng sẽ găp lại nhau thôi.  Các bạn nhớ chờ Quang, Hiếu và tôi nha.

GHI CHÚ:

1. Trận Sài Gòn (1955), tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Trận Sài Gòn (1955) – Wikipedia tiếng Việt

2. Trần Thượng Xuyên, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet su đây: Trần Thượng Xuyên – Wikipedia tiếng Việt