Nhớ lại thuở ăn nhờ ở đậu
Trần Thượng Thủ
(Nguồn: Đặc san Petrus Ký Houston, 1995, trang 28 – 45, do anh Võ Phi Hùng, PK 67-74 scan và gởi tặng)
Các bạn đã rõ qua bài “Bước luân lạc của một ngôi trường” đăng ở đặc san Petrus Ký 94 là Trường chúng ta phải tạm rời trường sở ở đường Nancy (sau đổi là đường Cộng Hòa, nay là Nguyễn Văn Cừ) và nương náu tại ngôi trường Nọt Manh cạnh Sở thú ở số 7 đường Docteur Angier (nay là Nguyễn Bỉnh Khiêm).
Người viết xin các bạn đồng môn vui lòng cho phép sử dụng những từ thuộc ngoại ngữ rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói của thân nhân trong Đại gia đình Petrus Ký “hồi thời Pháp thuộc” (cách nay đúng nửa thế kỷ) để bài kể chuyện còn mang được một số màu sắc thuở ấy.
Chế độ nội trú của Trường chỉ thọ chưa tròn 18 năm, từ giữa tháng 9 năm 1927 (tức đầu năm học 1927-1928, khi mà trường mang danh xưng Collège de Cochinchine, những Trường trung học đệ nhứt cấp Nam kỳ) đến cuối thượng tuần tháng 02 năm 1945 (ngày hôm sau ngày thứ Năm 08-02-1945, máy bay Mỹ thả bom xuống sứ quán Anh ở bên cạnh đường Norodom vào khoảng 11 giờ, giữa lúc các sĩ quan cao cấp Nhựt Bổn đang họp).
Đề tài bài viết đúng khung trong ba năm rưỡi chót của chế độ nội trú của Trường. Thời kỳ này gồm 2 giai đoạn:
a) Lúc ở Trường Nọt Manh, từ thứ hai 29-10-1941 đến thứ bảy 06-5-1944 (ngay hôm sau máy bay Đồng Minh thả bom xuống xóm Chiếu bên Khánh Hội).
b) Lúc ở Trường Nữ học đường (Collège des Jeunes filles indigènes), từ thứ hai 17-9-1944 đến thứ sáu 09-02-1945.
I- Y Phục của học sinh nội trú.
Khoảng nửa tháng sau khi tuyên bố kết quả cuộc thi tuyển vào Trường, vào thượng tuần tháng 8 dương lịch, Trường gởi đến tận nhà thí sinh trúng tuyển giấy báo đương sự được chấp nhận vào học nội trú ở Trường, kèm theo bảng liệt kê dài sọc những món phải sắm cho trousseau (toàn bộ quần áo mang theo; xem trút-xô, Tầm nguyên tự điển Việt Nam của cố Giáo sư Lê Ngọc Trụ, trang 790 cột phải) đại để gồm có: 8 hoặc 6 bộ bà ba trắng, 2 bộ Âu phục gồm áo bành tô (paletot), quần dài, áo sơ mi và cà vạt (nhờ Phong trào Thể dục Thể thao của Đại tá Ducorery phát động nên Trường “du di” cho các bạn nào học năm thứ nhứt bậc Cao tiểu là được phép mặc quần short (sọt), sơmi ngắn tay. Anh Nguyễn Văn Ký đã nhỏ con và ốm nhom, lại “đóng” bộ comlê bố trắng vì gia đình chưa được ai mách nước. Trường hợp duy nhứt trong số khoảng năm mươi học sinh nội trú của năm học 1941-1942), cái mùng chiếc dùng cho loại giường sườn sắt dùng ở nhà thương hay trong trại lính, lót 4 tấm váng, 1 chiếc chiếu đơn, 1 cái mền, 1 cái gối tai bèo với 2 áo gối, 2 cái chăn (xà rông) để thay quần trước bạn bè trên phòng ngủ tập thể (dortoir), 2 khăn tắm, 2 khăn bàn, 4 khăn tay (mouchoir:mù soa), 2 hay 3 quần xà lỏn (culotte) để đi tập thể dục, 2 hay 3 xì líp (slip), 1 túi đựng áo quần dơ chờ ngày đem bỏ giặt (sac à linge) và nhiều thứ lỉnh kỉnh khác nữa như: 1 đôi guốc vông, giầy da hay bố trắng Bata, kèm cục phấn trắng để đánh cho trắng cái nón cát (casque:nón mã vôi) và đôi Bata, 1 cái ca (uống nước hay súc miệng), 1 hộp ê bô nít đựng xa bông tắ, 1 bàn chải đánh răng kèm bánh xà bông đánh răng (thuở ấy chưa có xuất hiện dạng kem đựng trong ống, mà là một bánh hình trụ, đường kính 5 centimet dầy 60 milimét, đáy bằng, mặt trên mô, màu hương lợt, mang nhãn hiệu Gibs hay Kol từ năm 1942; tên Pháp là pâte dentifrice, bàn chải và hộp xira (cirage) đánh giày, 2 ống khóa với đầy đủ chìa (để khóa ngăn kéo trên của tủ com mốt (commode), 1 bịch tập cho học sinh, bút mực, bút chì, cục gôm (gomme), 1 cái cặp (cartable) chỉ dùng đựng vật cần thiết khi đi dạo phố… Ngần thứ ấy chèn nhét đầy một cái rương (malle) bằng gỗ hay đan bằng tre hay mây.
Để cho khỏi lầm lộn khi hoàn trả lại sở hữu chủ sau khi trousseau được giặt giũ sạch sẽ và ủi sơ cho thẳng nếp, Trường bắt buộc học sinh nội trú phải thêu bằng chỉ đỏ numéro du trousseau (số áo quần) ở vào nơi qui định: áo thì ở mặt trong của bâu; quần thì ở gần lỗ luồn dây lưng; khăn, áo gối…ở tại một chéo góc. Mỗi học sinh nội trú có số áo quần cho riêng mình, khi nào rời trường thì số ấy mới được cấp cho người khác mới vào nội trú.
Cũng cần nói thẳng là thời Pháp thuộc, việc sử dụng tiếng Pháp trong công văn giấy tờ có lúc làm cho người dân lúng túng. Thí dụ: taie d’oreiller = áo gối; frague = chănm, khăn choàng tắm xà rông, trong Từ điển Pháp Việt của nhóm Lê Khả Kế ở Paris 1981 lại ghi là cái khố, xà lỏn (!?).
Các bạn hiểu ngay việc sắm trousseau cho con em nhập học nội trú Trường lớn là cả một vấn đề. Thế nên chúng ta đừng lấy làm lạ trước trường hợp:
* được học bổng toàn phần rời mà cha mẹ hay ông bà phải đi đợ ruộng để có đủ tiền sắm trousseau;
* được nửa học bổng mà phải nghỉ học vì lẽ duy nhứt là không kham nổi chi phí sắm trousseau.
Gia đình còn phải nhờ người quen thân cư ngụ trong vòng địa phương Sàigòn – Chợlớn và tỉnh lỵ đứng tên làm correspondant (người thủ hộ) có nhiệm vụ là thay mặt phụ huynh ở xa để nhà trường liên lạc trong trường hợp khẩn cấp. Bên trường áo tím, người thủ hộ còn có phận sự đến tận văn phòng trường để ký tên xin lãnh em cháu mình ra chơi trong ngày chủ nhựt rồi lại 5,6 giờ chiều lại đưa “người đẹp” trở vào nơi “kính cổng cao tường”.
II- Thời khóa biểu hằng ngày của học sinh nội trú.
Nó tùy thuộc thể chế học một ngày hai buổi (Trường áp dụng trong năm học 1941-1942) có nghỉ buổi chiều thứ năm và chiều thứ bảy suốt ngày chủ nhựt, hoặc học một ngày một buổi suốt sáu ngày trong tuần (trong 3 năm học sau) và nghỉ trong ngày chủ nhựt.
A. Nếu học một ngày hai buổi thì: 6h chuông reo đánh thức học sinh để đi rửa mặt súc miệng tắm gội chải đầu; 6h30 – 7h: ăn điểm tâm; 7h – 7h50: ngồi étude (phòng tự học tập thể, có giám thị trông coi), 7h45: học sinh ngoại trú vào, 7h50:học sinh toàn trường theo sự điều động của giám thị liên hệ (mỗi giám thị trong coi một lớp) đứng vào đội ngũ chỉnh tề để chào quốc kỳ…Pháp.
Buổi học sáng kéo dài từ 8h đến 12h (có ốc hụ (sirène) của Bưu điện trung ương rú lên). Mỗi tiết học lâu 55 phút và có 5 phút ra chơi để giáo sư chuyển lớp hoặc học sinh chuyển phòng học (phòng lý hóa, vạn vật, hội họa, ca nhạc) hoặc đi ngoài. Riêng giờ chơi thứ nhì lâu đến 10 phút. 12h đến 12h30 : cơm trưa, 12h40 – 13h30: nghỉ trưa. 13h30 thức dậy…14h – 1450: ngồi étude. Buổi chiều học có 2 giờ từ 15h đến 17h. 17h đến 18h : giờ dạo chơi trong sân trường; học sinh nào cần lên gặp y tá của trường túc trực ở bịnh xá (infirmerie) để xin thuốc uống hay thay băng vết thương thì phải có mẫu giấy nhỏ ghi lý do và có chữ ký của giám thị Etude mình. 18h đến 18h30: ngồi étude, 18h30 đến 19h cơm chiều, 19h đến 10h45 ngồi étude tối. 21h lên lầu ngủ (dortoir) và 15 phút sau giám thị tắt đèn để học sinh ngủ: Tuyệt đối cấm học sinh đọc lén sách ở WC (water-closet = nhà vệ sinh). Nếu chẳng may bị veilleur (người chà gác đêm) bắt gặp và lập biên bản thì sách mượn ở tủ sách nhà trường được giao cho giám thị étude liên hệ xử lý; học sinh vi phạm nội qui bị phạt 2 consignes (cấm túc), nghĩa là cấm ra ngoài vào 2 ngày chủ nhựt liên tiếp, không được cấp bảng danh dự của tháng. Nếu là sách báo tiếng Việt thì sẽ tội nặng hơn, đó là chưa nói trường hợp sách có nội dung chánh trị.
Nội qui thì nghiêm nhặt như vậy nhưng trên thực tế, giám thị ở dortoir III (dành cho học sinh ban tú tài, chiếm từng 3 của dãy lầu phía sở Ba son) rất thông cảm tính hiếu học của đàn em mình sẽ là nhân tài của đất nước. Một chặp sau khi veilleur đi rỏn thì giám thị lờ đi trước việc học sinh thắp đèn chông để học bài, trông không khác gì “hội hoa đăng”. Dĩ nhiên cần giữ im lặng tuyệt đối, ánh đèn không luồn qua khe cửa sổ và phải cảnh giác đến mức tối đa để hỏa hoạn không thể xảy ra vì bất cẩn.
Như vậy số giờ học hằng tuần là 32 giờ tối đa, đương nhiên có đôi ra một số giờ trống (heures creuses) trong thời khóa biểu. Vào mấy giờ nầy học sinh ngồi permanence (giờ tự học có giám thị trông coi, ngay tại lớp học của mình, có thể xem như là ngồi étude), gồm cả nội trú lẫn ngoại trú nếu giờ sau có giáo sư phụ trách, bằng không thì bộ phận ngoại trú được phép ra về. Hoặc giả vì lý do nào đó, giáo sư không đến lớp thì giờ đó trở thành giờ permanence.
B. Kể từ năm học 1942-1943 trở đi, Trường hoạt động theo thể thức học một buổi mỗi ngày, như vậy thì chỉ còn nghỉ ngày chủ nhựt. Do đó có thay đổi đôi chút trong thời khóa biểu, buổi chiều cho học sinh nội trú. Buổi chiều từ 14h đến 18h. Nửa giờ sau đó là dân anh tạc (interne: học sinh nội trú) xuống sân chơi hoặc có việc cần lên bịnh xá. Rồi cơm chiều và ngồi étude tối theo thời giớ giấc cũ. Nếu có lớp học buổi sáng thì buổi chiều đám nội trú ngồi 4h étude, và ngược lại nếu thuộc lớp học buổi chiều thì dân anh tạc ngồi 4h étude trong buổi sáng.
III- Nếp sống của học sinh nội trú.
A. Học tập
1. Trí dục – Đức dục
Sĩ số mỗi lớp không bao giờ quá 50. Học sinh được xếp chỗ ngồi cố định (không được tự ý đổi chỗ) mỗi bàn ba người. Mỗi lớp có tối đa 17 bàn xếp thành 3 dãy; mỗi dãy trong có 6 bàn còn dãy ở phía 2 cửa ra vào có 5 bàn. Bàn thuộc loại có pupitre với nắp dở lên đậy xuống dễ dàng. Có phòng đánh máy cho học sinh ban thương mãi ở hai lớp cuối cấp cao tiểu. Phòng vạn vật có trang bị một bộ xương người (xương thật) treo lủng lẳng ở cái giá hình chữ L lộn ngược, và một thằng người to như thật bị lột hết da (écorché) để cho thấy những bắp thịt, khi lấy đi cái nắp đậy ngực và bụng thì thấy rõ lục phủ ngũ tạng “tách rời được từng cơ quan. Hai học cụ độc đáo nầy được đám học sinh năm thứ nhứt – mà phần lớn xuất thân từ trường tiểu học ở tỉnh lẻ ở đầu thập niên 40, tại Nam Kỳ (vào thời điểm nầy chưa khai sinh địa danh Nam bộ, Nam Việt) trầm trồ khen ngợi. Còn có amphithéâtre (giảng đường có bậc thang) thường dùng để chiếu phim nhựa. Ở những môn như hóa học, vật lý hay vạn vật, theo sự dặn trước của giáo sư, chú lao công ở phòng thí nghiệm bưng đến lớp một hay hai cái khai gỗ đựng những gì cần cho bài giảng, được người préparateur (điều chế viên ở phòng thí nghiệm) chọn sẵn. Trong khi đó, ở trường Chasseloup Laubat, trong thời khóa biểu, đã có giờ TP (travaux pratiques: thực tập) ở bậc tú tài.
Về các ban học, đã có từ trước 4 ban:
* Ở bậc cao tiểu, học 4 năm. Gồm 2 ban: a) ban thông thường, sau 4 năm có kỳ thi bằng Thành chung. Trong 2 năm đầu hằng tuần có 1 giờ Hán tự. b) ban thương mãi (section commerciale) lâu 2 năm, mở cho một số học sinh được lên lớp năm thứ ba. Chương trình có môn đánh máy (dactylographie) và tốc ký tiếng Pháp (sténographie).
* Ở bậc tú tài, sự phân ban chỉ có đối với các cô cậu tú I: a) ban Philo (Philosophie, triết học) học bốn quyển triết học là luận lý (logique), đạo đức (morale), tâm lý (psycho = psychologie) và siêu hình (méta = métaphysique). b) ban Math Elem về môn triết học chỉ học 2 quyển đầu. Ban khoa học thực nghiệm (sciences expérimentales) chỉ chào đời từ cuối thập niên 40, trong khi bên trường Chasseloup Laubat ban này có từ năm học 1941-1942!
Khi trường đến tạm trú ở trường Nọt manh, lần lượt chào đời thêm 2 ban mới là: a) ban cổ điển chính quốc (section classique métropolitaine) nói tắt là ban métro, học từ ngữ la tin suốt sáu năm đầu, từ năm học 1941-1942; b) ban cổ điển Viễn đông (section classique extrême orientale) gọi tắt là ban EO (đọc ê-ô), học Hán tự, tương đương với môn la tinh ở ban métro từ năm học sau. Cả hai ban nầy đều yểu mạng vì chúng cáo chung sau ngày 09-02-1945.
Hai ban nầy có giờ ca nhạc (chant-musique); nữ sinh còn học thêm môn thêu may (couture).
Do sự thôi thúc của thời cuộc, học sinh lớp 4è métro học thêm môn cứu thương (secourisme) trong năm học 1943-1944.
Học sinh năm đầu của ban cao tiểu (lớp 1ère année, 6è métro và 6è EO) và của ban tú tài (lớp Seconde) đều có học 1 giờ mỗi tuần về nghề mộc (menuiserie) ở xưởng mộc (atelier) nằm cạnh đường Docteur Angier. Giáo sư là ông Labriffe. Mỗi học sinh chiếm một đầu bàn mộc (établi), có ê-tô (étau), với đầy đủ dụng cụ dùng cho giờ học được lao công cung cấp sẵn (đục, cưa, bào ngắn đòn = rabot hay bào dài đòn = varlope, thước nách (êke = équerre), cái cỡ (trusquin), giũa v.v….
Môn hội họa (dessin) có trong phần thi bài viết của bằng đíp lôm (DEPSI = Thành chung, xem sđd tr 542 và 531). Giáo sư là Thầy Hồ Văn Lái, chủ yếu khai tâm cho môn đệ về luật phối cảnh, cách thức đo tỉ lệ của vật mẫu thuộc tĩnh vật để dựng lên phần vẽ phát (esquisse), thủ thuật cho bóng cốt làm nổi bậc những chi tiết lồi lõm ở vật mẫu đúc bằng thạch cao. Phòng hội họa (salle de dessin) nằm đối xứng với amphitheâtre, thuộc từng trệt của dãy lầu trung ương, phía bên đường Lucien Mossart. Mỗi học sinh có một bàn đóng liền với ghế, được xếp theo vòng cánh cung quanh bục cao chịu vật mẫu đặt phía trước bàn, giáo sư.
Bộ môn đạo đức (thuở đó quen dùng từ “luân lý” = morale) dạy ở hai năm đầu bậc cao tiểu, hay bộ môn hành động đạo đức (action morale) ở ban Métro. Chưa thấy môn Công dân giáo dục (instruction civique) trong chương trình; có lẽ chúng ta còn là dân thuộc địa Pháp (sujet francais) chớ nào phải là công dân Pháp đâu (citoyen francais, từ nôm na là dân Tây). Bằng cớ không ai có thể chối cãi là tựa sách giáo khoa địa lý của Foncin (lớp Nhứt = cours Supérieur), Galléoudec (năm thứ ba = 3è année EPS; năm thi tú tài I = Première) đều mang tựa “La France et ses Colonies”!.
Lớp học chỉ sử dụng cho giờ học có giáo sư giảng dạy và cho giờ permanence. Ngoài ra học sinh nội trú còn có những giờ giấc qui định để làm bài học bài và đọc sách giải trí ở phòng étude. Có 6 phòng étude, đánh số từ I đến VI theo thứ tự từ phía đường Docteur Angier trở vào trong. Đó cũng là phòng học, nhưng được trang bị thêm một tủ sách (bibliothèque), kê sát tường cạnh cửa ra vào lớp phía bàn thầy, đối xứng với tấm bảng đen. Tủ chứa trên hai trăm quyển khác nhau, hầu hết viết bằng tiếng Pháp, chủ yếu là tiểu thuyết có trong chương trình (như: La mare au diable, Lettres de mon moulin, Les misérables, Aventures de Télémaque, Eugénie Grandet, Mémoires d’outre-tombe, Les trois mousquetaires, Le Tour du monde en quatre-vingts jours…). Đặc biệt là có bộ Pháp Việt từ điển có chua chữ Hoa của Đào Duy Anh (2 quyển). Mỗi phòng étude chứa học sinh nội trú cùng một cấp lớp, do hai vị giám thị đều là giáo viên tiểu học chánh ngạch, xuất thân từ trường Nọt Manh (có bằng Thành chung và bằng khả năng Sư phạm CAP, sđd trang501) thay phiên nhau phụ trách 24/24 (từ 6 giờ chiều hôm trước đến 6 giờ chiều hôm sau; Trường đài thọ cơm nước còn chi phí di chuyển tự túc), kể luôn thời gian ở dortoir (ngủ đêm và nghỉ trưa). Etude I dành cho học sinh năm thứ nhứt (1ère année, 6è métro và 6è EO) đặt dưới sự giám thị của hai thầy là thầy Thấy (luôn mặc com lê tuýtxo, giày da có đế đóng móng sắt) và thầy Tươi (luôn mặc áo dài đen, để râu mép; sau 45 không trở lại làm việc. Etude II chứa anh tạc năm thứ hai (2è année, 5è métro và 5è EO) do hai thầy Nghị và thầy Trọng trông coi). Chúng tôi bỗng quên ngang tên của hai vị giám thị đi cặp với thầy Trâu phụ trách Etude III của nội trú năm thứ ba (3è année, 3è métro lúc dọn qua Nữ học đường trong năm học 1944-1945; thầy Ruộng phốt pháp có oai khiến dân ba gai nhứt trường là lớp 4è année sẽ thi bằng Thành chung vào cuối năm học phải kiêng nể, thầy vào khu 8 ở Đồng Tháp Mười thời chống Pháp). Etude V (hai lớp Seconde và Première) do hai thầy Đức và thầy Ca “quản lý”. Sau cùng là Etude VI (hai lớp Philo và Math Elem) giao cho hai thầy Giá và thầy Tố cai quản.
Học sinh hưởng học bổng và học sinh con của giáo chức đều được miễn nộp tiền mướn hằng năm sách giáo khoa, tương đương với tiền thuế thân (impôt personnel) của hạng dân nghèo ở xứ thuộc địa Nam Kỳ. Có một số sách chưa cập nhật kịp sánh với mấy trường Chasseloup Laubat, EPS… Thí dụ: Về môn Anh văn, vẫn còn xài bộ “The boy own book” lỗi thời, trong khi những trường kể trên đã bắt đầu sử dụng bộ “Anglais vivant” (Edition bleue hay beige) của Fialip Carpenter.
2. Thể Dục – Thể Thao
Ba năm đầu học sinh tập thể dục (2 buổi mỗi tuần) ở Sân vận động bên Thị Nghè (Stade Cognaq). Huấn luyện viên tốt nghiệp ở trường Phan Thiết (ESEPIC) hoặc ở trường Thủ Đức (ELCJIC). Bận đi lẫn bận về, thầy trò đều theo lộ trình sau đây: tập họp tại đoạn đường Palanca bên trong cổng phụ trổ ra đường Dr Angier vào cổng nhỏ của sở thú đối diện đường Palanca đi ngang qua Sở thú bên cạnh hồ sen có nhà thủy tạ, rồi đi giữa hầm gấu đen và chuồng chim…, qua cầu Thị Nghè (bắc qua Arroyo de l’Avalanche) đổ xuống bên hông Trường tiểu học thực hành Thị Nghè (Ecole d’application, nơi thực tập của giáo sinh Nọt manh) là đến sân Cognaq gần chuồng cọp, bên cạnh cái ao mà ở chính giữa là gò đất đắp cao, và gần sở ươm cây (Pépinière) của thành phố Sàigòn. Học sinh hát vang những bài hát tiếng Pháp có (bài Maréchal nous voilà, Jeunesse, Hymne au Lycée Pétrus Ký) và phần lớn là tiếng Việt do Tổng Hội sinh viên Đông Dương phổ biến (Tiếng gọi sinh viên, Thiếu sinh hành khúc, Bạch Đằng Giang, Ải chi Lăng…) Chính mấy bản nhạc tiếng Việt nầy khiến ông Lejeannic bị ông Taillade thay thế ở chức hiệu trưởng (provoseur) từ năm học 1944-1945.
Vào năm học nầy, bộ phận nội trú gồm to àn học sinh được học bổng, kỳ dư phải gia nhập vào đội ngũ ngoại trú (ách tẹc = externe) vì trường Nữ Học Đường chỉ có thể nhường dãy lầu trông ra đường Legrand de Laliraye (sau đổi tên là Phan Thanh Giản) cho Trường Petrus Ký tạm sử dụng giữa lúc phi cơ Mỹ bắt đầu oanh tạc ngày thêm thường hơn.
Để cho tiện lợi, Trường được phép sử dụng Sân vận động Mayer (Stade Mayer), mặt tiền trong ra đường Mayer sau đổi tên là Hiền Vương; khu đất nầy sau dùng xây cất những dãy nhà của bộ Công dân vụ mà bộ trưởng là Ông Ngô Trọng Hiếu thời Đệ nhứt cộng hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Muốn cho học sinh có thể dự thi bằng Thể thao bình dân (Brevet sportif populaire) mở cho học sinh từ 15 tuổi trở xuống mà môn bơi lội là bắt buộc, Trường cho giám thị Etude I và II dẫn thí sinh lội bộ khứ hồi vào chiều thứ năm và chiều thứ bẩy mỗi tuần, có sự hướng dẫn kỹ thuật của các huấn luyện viên (thày Hành, Tấn, Bích…) tại Hồ tắm địa phương (piscine régionale) thuộc sở chữa lửa Đô thành (service des Pompiers) cạnh trường tiểu học Cầu Kho (sau đổi thành Trần Hưng Đạo).
3. Thưởng Phạt và Kỷ luật.
Điểm cho theo hệ thống 20/20 khác hẳn ở bật tiểu học theo tiêu chuẩn 10/10. Hiếm thấy trong số điểm hằng tháng số 20 còn con số O (zéro = số không) vẫn có mặt tuy không nhiều và có ba dạng: số O thường, số O bị gạch dưới (zéro barré mà hậu quả là cảnh cáo) và số O bị đóng khung (zéro encadré) dẫn đến biện pháp cấm túc = consigne trọn vẹn) thường là về hạnh kiểm. Khác hơn ở tiểu học đều có cộng điểm và sắp hạng hằng tuần, ở bậc trung học chỉ cộng điểm và sắp hạng hằng tháng mà tờ phiếu điểm phát cho học sinh để lấy chữ ký của phụ huynh hay người giám hộ (correspondant). Hằng năm có hai kỳ thi lục cá nguyệt mà tờ phiếu điểm (bulletin semestriel) đều có ghi lời phê ngắn gọn của giáo sư bộ môn và của ông Censeur (Giám học), số lần được bảng danh dự hằng thángvà được gởi thẳng đến phụ huynh theo đường bưu điện.
Ngoài ra, còn có giấy khen (satisfecit) cấp cho học sinh được xếp hạng nhứt (màu xanh lá cây lợt) và hạng nhì (màu vàng lợt) rong mỗi môn thi.
Bảng danh dự (màu hồng đậm) cũng như giấy khen đều in trên loại giấy bìa (chemise), có chữ ký và đóng dấu hoặc của ông hiệu trưởng hoặc của ông giám học và được ông này đến từng lớp trao cho học sinh.
Hình thức phạt là cấm túc có nhiều mức độ: demi-consigne (không được ra ngoài chơi vào sáng chủ nhựt suốt 4 giờ ngồi làm bài phạt trong phòng cấm túc có giám thị trông coi, phần bài phạt và nộp cho văn phòng), consigne entière (ngồi tiếp suốt 2 giờ buổi chiều để làm bài phạt; chiều thứ năm không được ra chơi mà bị giám thị dẫn đi dạo trong hai giờ trên những con đường gần Trường sở “promenade surveillée”), 2 consignes (phạt như vậy trong hai chủ nhựt liên tiếp)… Để tránh tình trạng tóc tai học sinh bị phạt dài chơm bơm, Trường cho phép một “thầy hù” (thợ hớt tóc = coiffeur) vào hành nghề tại góc sân vắng vẻ, giá cả cũng như bên ngoài. Có dạng consigne générale áp dụng cho cả lớp hoặc cả dortoir mà giáo sư hay giám thị chưa xác định được kẻ vi phạm nội qui.
Ở cái tuổi con trai đổi giọng nói, thừ sanh lực mà bị gò bó trong vòng thành Trường thì chuyện quậy phá chọc ghẹo tha nhân là chuyện không có gì lạ cả. Từ cửa sổ hành lang dọc theo dortoir II (từng chót dãy lầu trung ương, dành cho Etude III và IV) nhìn qua Trường thầy dòng (Séminaire) có vườn mít, chuối sum xuê trổ quày kết trái, vài bạn nhanh nhẹn, leo trèo giỏi, rủ nhau ban đêm theo dây thu lôi xuống đất, trèo qua tường…để hái trộm mít và chuối, hè hụt đưa lên dortoir và chôn giấu trong thùng cát phòng hỏa.
Tay tháy máy, gở bình chữa lửa (dụng cụ của chiến dịch phòng thủ thụ động = défense passive vì đã có đụng độ giữa Xiêm La (sau gọi là Thái Lan) và Đông Pháp, và đang có chiến cuộc Thái Bình Dương, giữa Nhựt và Đồng Minh), lộn đầu lại khiến hóa chất diệt hỏa xịt tung tóe. Ăn cắp cục sodium (nay là natrium Na, ngâm trong dầu lửa) ở phòng thí nghiệm, chạy vội lên lầu trước bạn bè, bỏ sodium vào pot của giám thị. Đến khi ông nầy mở nắp để hứng nước rửa mặt và súc miệng tối, rồi đậy nắp lại như mọi khi. Tức khắc một tiếng nổ bùm làm mọi người hoảng hốt chẳng rõ chuyện gì đã xảy ra. Chỉ có “nhà hóa học non choẹt” tự mãn với thành công của mình: natrium khử nước để cho ra hidroxit natrium, quen gọi là sud ăn da đồng thời phóng thích hidrogen. Do phản ứng mạnh nên nháng lửa và làm nổ hỗn hợp oxigen (của không khí) và hidrogen (vừa tạo ra). Để phản đối việc áp dụng biện pháp trừng trị quá đáng đối với anh Lê Chi Mậu, nội trú Etude II, ở một đoạn của dortoir I và II đồng loạt dùng gót chân đập ván lót giường rầm rầm giữa đêm khuya thanh vắng….
Trường Petrus Ký nổi tiếng về kỷ luật. Học sinh xếp hàng hai được surveillant (giám thị) điều động từ étude xuống sân để tập họp chào cờ tây (xin đừng nói lái) hoặc đến lớp học ở dãy lầu khác bằng hành lang hoặc lối đi ở sân trường, nói chung bất cứ đám học sinh nào đều phải di chuyển trong im lặng và trật tự với giám thị “tò tò” bên cạnh, ngay trong vòng trường. Trong khi đó, các bạn EPS (Trường Pháp cấp cao tiểu, mặc sơ mi và short) tự do đá ba lông ngay trong sân trường…, lúc chuông reo họ tự động đến sắp hàng ngay ngắn trước lớp mình và chờ giáo sư đến.
B. Giải Trí.
Để học sinh nội trú được thư thả, trí óc đỡ căng thẳng sau những giờ ở lớp học và ngồi étude, Trường có áp dụng nhiều phương cách nhằm đạt được hiệu quả cao ở cả ba mặt trí – đức – thể dục.
1- Đọc Sách.
Tại mỗi phòng étude đều có một tủ sách. Giám thị étude cắt đặt học sinh đại diện lớp lo việc phát và thu sách cho mượn đọc (tối đa 2 cuốn trong hai tuần) vào ngày đầu tuần của bán nguyệt. Ban đại diện lớp cho truyền đi kèm theo tờ ấn chỉ (imprimé chia cột: số thứ tự, tên họ người mượn sách, tên và tác giả quyển sách cho mượn, 2 cột chữ ký của học sinh lúc mượn và lúc trả sách) là quyển danh mục các sách có trong tủ sách (répertoire des livres desponibles) đến đầy đủ các bạn trong étude. Họ có thể thỏa thuận giữa nhau trao đổi sách đã mượn để tranh thủ đọc càng nhiều càng tốt trong 2 tuần lễ. Có lắm bạn đọc roman (tiểu thuyết) như ăn gỏi vậy. Cho nên kết quả tiến bộ rõ rệt trong lúc viết tiếng Pháp bởi các ngữ điệu (tournure) từ ngữ (expression)…trong câu văn Pháp thâm nhập vào bộ óc của người đọc lúc nào không hay. Mấy yếu tố nầy thể hiện trong lời nói hằng ngày là lối nói ba rọi hay pha chè rất phổ biến trong giới học sinh, nhứt là những thuật ngữ chưa có trong tiếng Việt thuở ấy.
2- Thể Thao – Du Ngoạn
Trường Sư phạm có sẵn hai sân: sân ở trước các lớp của dãy lầu cánh trái (phía đường Lucien Mossard) – sau này thuộc trường trung học Võ Trường Toản – là sân tennis (quần vợt) vẫn còn bệ sắt để giăng lưới; từ năm học 1942 – 1943 được trồng trụ gỗ để giăng lưới bóng chuyền (voley – ball), sân ở trước 2 phòng ăn, phòng mộc là từng trệt dãy lầu cánh phải – sau này thuộc Trường trung học Trưng Vương thời hiệu trưởng là bà Tăng Xuân An – được sữa đổi thành sân bóng rổ (basket ball).
Một số lớp có tổ chức đội bóng đá (foot ball, hiểu theo tiếng Pháp chứ không hiểu theo người Mỹ là lối chơi banh cà na) để đấu giao hữu ở sân vận động Cognaq, chẳng hạn như lớp 6è métro có đội Avenir (sao mấy cha nội không xài từ Việt là “Tương lai” nhỉ) lớp 1ère année B có đội “ch Nhái”…
Hội tuyển bóng đá của Trường gồm những hột gạo cội của các hội thuộc các cấp lớp 3è và 4è année, seconde, như các anh Phát chà, Ấn lùn, Cao Ninh Lộc… Mỗi năm đều có tổ chức Giải vô địch học sinh về bóng tròn mà trận chung kết thường xảy ra giữa hội tuyển của mấy trường Petrus Ky, Chasseloup Laubat, Taberd…
Hai danh thủ ngoại hạng của Trường về môn bóng bàn là cặp Poulet Poussin, giữ chức vô địch. Cũng cần nên nhắc là anh Nguyễn Văn Vinh lớp Seconde, đoạt chức vô địch quần vợt học sinh năm 1943, được Hoàng Đế Bảo Đại triệu ra Huế để so vợt với Hoàng thượng (anh Vinh nghe đâu hiện định cư ở New Zealand; có người anh rễ là cố Giáo sư Nguyễn Hoàng Sang, dạy Anh Văn của Trường).
Phong trào thể dục, thể thao của Ducuroy khơi dậy khắp đất nước ở giới trẻ học đường một luồng gió ngày càng mạnh mang tánh chất phục hưng quốc hồn quốc túy – từ thời thượng ngày nay gọi là “về nguồn”- bằng những cuộc viếng Đền Hùng, đền Vạn Kiếp, đất Hoa Lư…, bằng những bài hát vinh danh những chiến thắng oai hùng của con Rồng cháu Tiên, bằng những cuộc cắm trại ở suối Lồ Ô…Trong bối cảnh đó, đoàn SET của Trường được ra đời (ký hiệu chữ đầu của cụm từ “Section d’Excursion et de Tourisme”, sđd.tr.744). Anh Trịnh Kim nh có biếm danh ” nh đen” vì anh Nguyễn kim nh có biếm danh ” nh trắng”, căn cứ vào làn da – chỉ huy đoàn SET đi cắm trại ở An nhơn Gò vấp…, nhằm phát huy ảnh hưởng của Trại Lồ Ô (tháng 8 năm 1944).
3. Ra ngoài.
Hồi còn học một ngày hai buổi thì hằng tuần dân anh tạc được ra ngoài dạo chơi hay mua sắm 2 lần: chiều thứ năm từ 16giờ đến 18 giờ và ngày chủ nhựt.
Lúc học một ngày một buổi thì chỉ ra có ngày chủ nhật thôi, theo những giờ giấc do học sinh đề nghị trong tờ ấn chữ lớn, truyền qua tay qua tất cả học sinh cùng étude vào buổi học étude tối thứ sáu hằng tuần. Ấn chỉ có 5 cột ấn định giờ giấc ra ngoài như sau: a)từ 16h đến 18h: có ăn chiều. b) từ 16h đến 20h30, không ăn chiều. Như vậy Trường chấp nhận cho học sinh ở lại trường buổi sáng chủ nhật, nhưng phải ra ngoài – đi dạo Sở thú trong 2giờ rồi trở vô, chẳng hạn, hoặc đi xem xinê xuất đầu =matinée tức rời trường trong 4 tiếng rưỡi – một lần trong buổi chiều chúa nhật.
Trước khi chuông reo ra cổng, học sinh vẫn phải đứng vào hàng ngũ từng lớp thuộc mỗi étude trước mặt thầy giám thị đứng đợi. Những tháng đầu phải vắt lên tay chiếc áo bành tô (nếu không mặc vào), bằng không thì Titus, người Ấn gác cổng (concierge) chặn lại ở cổng trường!
Lúc trở vào trường thì Titus khám xách tay sợ mang những thức ăn bị cấm trong nội qui. Tuy nhiên việc khám xét lỏng lẻo lần… để rồi bọn nội trú chúng tôi được mặc nhiên đem vào – đừng quá lộ liễu – nào trái cóc, bánh dừa Bến Lức, tầm ruột riêm đường nhuộm màu đỏ có thanh tre nhỏ vót nhọn xuyên qua, ổi xắt lát ngâm giấm pha muối…Sau nghỉ Tết nguyên đán, thì trong túi kaki (sac à linge) dùng để chứa quần áo sắp bỏ giặt) thế nào cũng có bánh ổ, bánh tráng ngọt mỏng dẻo, vú sữa, hồng khô áo bột, đường phổi, cốm giẹp, đường thốt nốt, mực….
4. Giặt giũ – Tắm gội – Ngủ nghê.
Đến giờ étude tối thứ tư, có phát cho mỗi học sinh tờ ấn chỉ màu cam liệt kê những áo quần có trong danh sách trousseau: cột đầu ghi tên món đồ, cột kế để học sinh ghi số lượng bỏ giặt, cột chót dành cho ghi chú là cần váy hay mạng…, trên đầu tên họ, lớp étude của đương sự còn cuối trang là chữ ký của học sinh.
Đương nhiên trong vòng tròn tại góc trái phía trên dành ghi số được qui định thêm trên trousseau. Tối hôm đó, tại dortoir, trước khi tắt đèn, học sinh lo kiểm lại cho đủ số lượng đã kê khai, rồi dùng hai tay áo bà ba cột lại và bên trên có lòn tờ ấn chỉ.
Ngày hôm sau, giờ étude, mỗi học sinh ôm gói quần áo đứng xếp hàng theo thứ tự số trousseau được giám thị điều động đến trước cửa phòng Lingerie. Được gọi số, đương sự tiến đến, tháo gói áo quần trình đủ số lượng mỗi món, cột lại và trao cho hai cô phụ tá người Việt dưới quyền mụ đầm mang kính cận, than mình “thùng nước lèo”. Thế là xong, học sinh lần lượt trở về étude.
Ngày thứ bảy là ngày lãnh trousseau đã giặt ủi sơ cho bớt nhăn. Theo số trousseau, học sinh được gọi đến lãnh mớ áo quần đã giặt hôm thứ năm tuần trước (tức là 10 ngày trước đó), được cột gọn ghẽ bằng sợi dây sống lá. Kiểm tra xong, tờ ấn chỉ được học sinh ký thêm một chữ ký nữa rồi nộp ngay cho mụ đầu “tôn nô” (tonneau). Có người ăn mặc kỹ còn cẩn thận đặt dưới gối tai bèo bộ đồ bà ba sắp lấy ra mặc để đường xếp “li” (pli) được thẳng hơn, không còn dấu nhăn, mấy tay này có mái tóc chải bri-dăng-tin (brilliantine) láng mướt khiến “ruồi đậu phải chống gậy”. Những hột nút rơi mất được kết lại bằng nút cùng loại, những chỗ rách được vá hoặc mạn đúng yêu cầu của học sinh.
Ngoài ra, khăn tắm được mán ở đầu giường, quần lót (slip = xì-líp) và xà lỏn tắm giặt vắt ráo mán ở chân giường rồi chiếc xà rong phủ lên ở thanh giường trên. Có anh lại phơi ở pẹc-xien (persienne) cửa sổ cho mau khô thì lâu lâu bị tịch thu bởi người qua đường Lucien Mossard trông thấy mất vẻ thẩm mỹ.
Rửa mặt súc miệng ở phòng la-va-bô (lavabo). Tắm gội ở phòng tắm chung có gắn vòi nước dọc dài theo tường (salle de douches). Thỉnh thoảng hết nước bất chợt nên đành lau chùi sạch xà bông cho xong. Đó cũng là một nguyên nhân khiến thuốc xức lác hiệu “ông già” được tiêu thụ ở giới anh tạc.
Nhà trường bảo đảm cho học sinh có đủ số giờ ngủ hằng ngày đúng theo phép vệ sinh. Tầng chót của ba dãy lầu dùng làm phòng ngủ tập thể (dortoir). Hai dãy cánh phải và trái đều có te-rát (terrasse:nóc bắbg tầng dưới) chạy kèm, dãy giữa có hành lang (couloir) chạy dọc phía sau giúp thông thương giữa ba phòng ngủ, thông ra phòng la-va-bô, phòng tắm và nhà vệ sinh. Trong mỗi dortoir, khoảng 100 giường được sắp thành hàng dài đối xứng nhau qua hành lang giữa được chọn làm phía đầu giường có gắn một tấm bảng kẽm dán tấm ấn chỉ ghi tên họ và lớp của học sinh. Phía chân giường có đặt một tủ com-mốt (commode) bằng gỗ dầu đánh vẹc ni (verni), cao 1m, ngang 80cm (như giường), sâu 40cm, có 4 chân cao lối 25cm. Ngăn trên của com-mốt sa2u dùng đựng quần áo khăn vớ…nên có khoen sắt để cài ông khóa, ngăn dưới cạn hơn dùng đựng giày dép và các thứ lĩnh kĩnh khác (ca, bàn chải đánh răng, gương soi mặt…). Com-mốt kê sát tường, chừa lối đi hẹp chạy dài phía chân giường song song với hành lang giữa. Vì khoảng cách giữa 2 giường tương đối hẹp nên học sinh thỏa thuận kê lại giường khít nhau từng hai chiếc (cách nhau độ trên 10cm) để khoảng cách giữa cặp giường bên cạnh rộng rãi hơn nên đi lại dễ dàng hơn. Khi dọn qua lầu I Trường áo tím, giường không lót ván mà thay bằng tấm granitô dày non 2cm. Một trưa chúa nhựt nọ, hai tay “đồ vật” là Tào (dân Bàrịa) và Nhung (dân Biên hòa) giỡn như thế nào mà một tấm granitô bị gãy. Xanh mặt, cả hai lén đem ra couloir rồi hì hục bẻ gãy thành nhiều miếng và đem vùi giấu vào trong thùng cát phòng hỏa. Ít lâu sau sự “phá hoại vô tình của công” này vẫn bị phát giác: một trụ bị phạt 2 consignes. Thế mới biết sức trai lứa tuổi lớp 3è métro (17 tuổi) không hề suy suyển chút nào bởi chuyến quốc bộ khứ – hồi mỗi ngày từ Nữ học đường (nơi ăn ở) đến Trường Sư phạm (lớp học) theo lộ trình vắng xe lúc sáng sớm và vào giữa trưa 12 giờ ốc hụ: đường Legrand de Lalirage (Phan thanh Giản), Laregnière (Trương Công Định), Richaud (Phan Đình Phùng) và Dr Angier; cả đoàn học sinh mặc bà ba trắng cùng giám thị rảo bước…kẽo “trễ giờ ta phải nên lo” (ca dao ở đầu sách Quốc văn giáo khoa thư lớp Sơ đẳng). Thật là khổ cực lúc trời đổ mưa sáng (ít xảy ra), cả thầy lẫn trò lót ngót…
5. Ăn uống.
Mỗi ngày học sinh được cho ăn ba bữa : sáng, trưa và chiều tối. Mỗi bữa lâu nửa giờ,. Hai bữa ăn chánh đều có món la sét (dessert = tráng miệng; sđd tr. 602) là chuối già hương hoặc bánh in hay kẹo đậu phọng; gồm ba món là món canh, món xào và món mặn (cá hay thịt kho). Bữa điểm tâm chỉ một món là thịt .hay cá kho, sáng chủ nhựt thường là trứng vịt chiên hay luộc (để nguyên hột, học sinh tự lột vỏ lấy) giầm nước mắm; một số không ít thuộc nhà khá giã không vào ăn vì sắp ra ngoài “làm cử sáng” nên mỗi mâm chỉ lưa thưa 1-2 trự, mặc tình lận trứng vào túi để trong giờ chơi giữa buổi étude đem ra thanh toán với muối tiêu. Trường sở ở Nancy có hai phòng ăn: phòng lớn (grand réfectoire) và phòng nhỏ (petit réfectoire). Qua chung đậu với Nọt manh, vẫn hai phòng ăn như bằng nhau. Tường lót gạch men trắng cao khoảng 1,2 mét, có 4 cửa ra vào cho mỗi phòng. Kê hai dãy bàn có chân sắt xếp được, mặt bằng đá cẩm thạch (đá hoa = marbre), hai bàn đầu thành một dành cho 3 mâm (carê=carré) mỗi mâm bốn người, mỗi bên bàn là chiếc băng gỗ đủ cho 6 người ngồi. Mỗi mâm có 1 tô nhỏ đựng nước mắm ớt, 1 dĩa con đựng tiêu bột và muối bọt để riêng (hai thứ nầy được mấy bạn trúc vào hủ nhỏ để dành ăn với cơm cháy vàng giòn rụm xin ở nhà bếp, rồi nằm nhai lén trên dortoir vào trưa chủ nhật vắng nhiều người, với tăm xỉa răng. Cơm đựng trong thùng gỗ có dung tích độ 4,5 lít. Bình nước trà còn nóng, rót vào chun dành riêng cho mỗi thực khách. Cơm và thức ăn còn dư được đám con của lao công “dọn dẹp gọn ghẽ: vào mùa cá lóc bị “mực” thì món cá khó dư ê hề. Thế mà có vài bạn, uống trà xong, lại rót nước trà rửa mấy đầu ngón tay trên dĩa còn thức ăn! Hành động nầy có phải để chê món ăn quá tệ, không hợp khẩu hay không?
Để tránh cái nạn nhà thầu cung cấp thực phẩm (phuộc nít xơ = fournisseur) giao hàng không đủ số lượng và thiếu phẩm chất, ban giám hiệu đặt ra qui tắc; hàng ngày luân phiên cắt đặt một học sinh nội trú ban tú tài (khởi đầu là lớp Philo… và chấm dứt ở lớp seconde, rồi xây tua lại) xuống ngồi trực ở phòng kế nhà bếp, kiểm tra thực phẩm cung cấp. Việc xuống “cuy-zin” (cuisine = nhà bếp của các anh lớn là một phận sự nên không được ghi vắng mặt ở sổ điểm danh; nếu kẹt vào ngày có kiểm tra bài viết (interrogation écrite) hoặc thi lục cá nguyệt (composition semestrielle) thì được chọn người thay thế, rồi hôm khác bù lại. Hằng tuần đều có lên bảng niêm yết thực đơn của từng bữa, treo ở tường mỗi phòng ăn. Thỉnh thoảng ông Taillade đảo một vòng quan sát ngay trong lúc học sinh đang ăn. Theo lời các anh xuống nhà bếp thì ông này như tuần nào cũng bất chợt đến nhà bếp nếm thử thức ăn sẽ dọn cho học trò mình.
Bài viết khá dài dòng nầy nhằm giới thiệu với các “thân quyến của đại gia đình Trung học Trương Vĩnh Ký, không thuộc đội ngũ “anh-tẹc”.