“Tôi rất nhớ ơn cố soạn giả Hoàng Khâm và các tay danh cầm bên cổ nhạc như Văn Vĩ, Năm Cơ, Hai Thơm. Họ đã chỉ vẽ cho tôi một cách tận tình và không giấu nghề. Vì thế mà chỉ một năm sau, tôi đã có thể tự tin đủ sức bước sâu vào lãnh vực ‘tân cổ giao duyên’ mới mẻ này. Cũng với tất cả đam mê, như khi tôi ‘khám phá’ thế giới tân nhạc, trước đó vậy”

(Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông)

“Về phương diện nhạc chống chiến tranh thì nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông là người thứ nhất, người đầu tiên xông xáo vào con đường nhạy cảm và gai góc này”

(Nhạc sĩ Hoàng Thi Thao)

“Tiếng nói của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, cách gì, cũng vẫn là tiếng nói phản ảnh tâm tư của một nghệ sĩ đau đáu trước những đau thương, tang chế của đất nước. Song song với con người chọn con đường binh nghiệp khi còn rất trẻ, đó là sự khác biệt to lớn, giữa một người đứng trong lửa đạn và những người đứng ngoài với những kêu đòi vô trách nhiệm. Tôi cho đó là tấm lòng, là trái tim của một nghệ sĩ chọn ở với tổ quốc của mình bằng một tình yêu một chiều mà không một tình yêu nào có thể so sánh hoặc thay thế được”

(Thi sĩ Du Tử Lê)

1. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Nguyễn Văn Đông (15.03.1932-26.02.2018) sinh quán tại Sài-Gòn, nhưng quê quán ở Tây-Ninh trong một gia đình điền chủ giàu có. Ông từng theo học trường Thiếu sinh quân ở Vũng-Tàu và nhận được sự giảng dạy môn âm nhạc từ các giáo sư người Pháp. Ông gia nhập quân đội năm 1951 và được gửi đi huấn luyện chỉ huy quân đội ở Hà-Nội. Năm 1954, ông nhận chức Tiểu đoàn trưởng và được cử đi du học ở Hawaii năm 1967. Ông được thăng chức đại tá năm 1972 và chuyển sang làm Chánh văn phòng cho Tổng tham mưu phó cho đến năm 1975. Sau ngày mất nước, ông bị bắt đi tù việt cộng 10 năm và chọn ở lại Việt-Nam cho đến ngày qua đời vì tinh thần và thể xác bị suy sụp tồi tệ.

Dù chọn con đường binh nghiệp nhưng âm nhạc vẫn là niềm đam mê và là “nghề tay trái” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Ông từng là trưởng đoàn văn nghệ Vì Dân quy tụ nhiều ca nhạc sĩ, nghệ sĩ tài danh và tổ chức nhiều chương trình đại nhạc hội ở Sài-Gòn cũng như khắp các tỉnh trên lãnh thổ Việt-Nam Cộng Hòa. Ông là trưởng ban nhạc Tiếng Thời Gian của đài phát thanh Sài-Gòn, trưởng ban tổ chức đại hội thi đua văn nghệ toàn quốc và vinh dự nhận được giải thưởng “Âm nhạc quốc gia” do bà Trần Lệ Xuân trao tặng.

Với nhiều nhạc phẩm ca ngợi cuộc đời bình nghiệp như “Phiên gác đêm xuân”, “Chiều mưa biên giới”, “Anh”, “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, “Mấy dặm sơn khê”, v.v.. nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã vẽ lên hình ảnh người lính bình dị, gần gũi với những suy nghĩ, những rung động, nhớ thương đời thường. Do chủ đề sáng tác đa dạng, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông còn chọn thêm những bút danh khác như Vì Dân, Phượng Linh, Phương Hà, Đông Phương Tử, Hoàng Long Nguyên (trước 1975) và Anh Nguyên (sau năm 1975).

2. Hãng dĩa Continental

Hãng dĩa Continental do doanh nhân Huỳnh Văn Tứ (giữ chức vụ giám đốc sản xuất) và nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (làm giám đốc nghệ thuật) thành lập vào năm 1960 tại Sài-Gòn. Thoạt tiên, hãng chỉ phát hành dĩa nhựa nhưng về sau do kỹ thuật thâu thanh ngày càng tiến bộ nên họ mạnh dạn khuếch trương băng “magnetophon” (băng lớn, sau năm 1975 được người miền ngoài gọi là “băng cối”, băng “Akai”) và băng “cassette”. Âm thanh từ sợi băng nhựa hay hơn, lời ca rõ hơn so với dĩa nhựa khiến cho thị trường dĩa nhựa ở Sài-Gòn ngày thêm sa sút. 

Mẫu quảng cáo cuốn băng Continental số 6 trên nhựt báo ở Sài-Gòn, 1974

Những tác phẩm phát hành ban đầu của hãng Continental là dĩa hát tân nhạc nhưng kể từ năm 1966, họ phát triển song song hai bộ môn tân nhạc và cổ nhạc do nhận thấy nhu cầu thưởng thức cổ nhạc gia tăng của khán giả mộ điệu, nhất là số lượng khán thính giả ở vùng đồng bằng sông Cửu-Long. Hãng dĩa quy tụ thành phần ca sĩ, nghệ sĩ, nhạc sĩ danh tiếng để có thể tồn tại và tránh được sự cạnh tranh từ các sản phẩm băng nhựa đương thời như Trường Sơn, Thanh Thúy, Shotguns, Việt-Nam, v.v.. 

Với hình thức ghi âm tân kỳ, hãng Continental đã phát hành nhiều băng tân nhạc theo từng chủ đề cũng như băng cổ nhạc, tân cổ giao duyên, những vở tuồng cải lương đang “ăn khách” trên sân khấu các đoàn ca kịch. Bên cạnh băng nhạc Continental, hãng cũng cho ra đời nhãn băng Sơn Ca và Premier. Nếu băng nhạc Continental và Premier gói ghém những nhạc phẩm thời trang ca ngợi quê hương hay tình yêu đôi lứa với sự góp tiếng của nhiều ca sĩ tiếng tăm thì băng Sơn Ca đi tiên phong giới thiệu độc quyền một giọng hát ở mỗi cuốn băng được phát hành trên thị trường (Sơn Ca số 5 đến Sơn Ca số 11). Tính đến năm 1972, hãng Continental có mạng lưới đại lý khắp 44 tỉnh thành trên miền đất tự do Việt-Nam Cộng Hòa.

Ở mảng tân nhạc, hãng Continental là bệ phóng cho tiếng hát Hà Thanh, con chim họa mi đến từ xứ Huế thơ mộng cũng như “lancer” những giọng ca mới mẻ như Giao Linh, những tiết mục song ca của Thanh Tuyền và Chế Linh với sự dìu dắt ân cần của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Do chỉ am tường bên tân nhạc nên nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã chủ động học hỏi cổ nhạc ở soạn giả Hoàng Khâm, Yên Sơn, Nguyễn Liêu, Viễn Châu và các danh cầm như Văn Vĩ, Năm Cơ, Hai Thơm để có thể phát triển bên lãnh vực cổ nhạc, cải lương. Những nghệ sĩ tài danh như Thành Được, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Hùng Cường, Bạch Tuyết, v.v.. được mời cộng tác trong những bài ca vọng cổ, tân cổ giao duyên và những vở tuồng cải lương đặc sắc như “Đoạn tuyệt”, “Tuyệt tình ca”, “Mắt em là bể oan cừu”, “Mưa rừng”, “Nửa đời hương phấn”, “Sân khấu về khuya”, “Tiếng hạc trong trăng”, v.v.. Những sản phẩm cổ nhạc được đón nhận nồng nhiệt khiến cho giám đốc nghệ thuật Nguyễn Văn Đông phải công nhận rằng cổ nhạc đã góp phần “nuôi” tân nhạc.

Nhằm phục vụ cho việc thực hiện thâu thanh tuồng cải lương và nhữmg bài ca tân cổ giao duyên, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông tạo thêm hai bút danh nữa là nhạc sĩ Phượng Linh và soạn giả Đông Phương Tử. Bút danh Phượng Linh để sáng tác phần nhạc đệm và bài ca tân nhạc lồng trong các vở tuồng cải lương được phối hợp “ăn ý” với giàn cổ nhạc. Còn bút danh Đông Phương Tử chăm sóc những bài tân cổ giao duyên và đạo diễn thâu thanh các vở tuồng cải lương. 

Năm 1974, hãng chủ trương phát hành cuốn băng nhạc Continental số 6 với chủ đề “Dân ca 3 miền: Nam, Trung, Bắc”. Dựa trên phác thảo của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, nhạc sĩ Y Vân đã dày công sưu tầm trong hai năm, chọn lọc các làn điệu dân ca rồi phát triển theo chiều hướng hiện đại nhưng vẫn theo đúng nguyên bản và tập tục cổ truyền. Chương trình này còn có thêm ấn bản bằng Anh ngữ mang tựa đề “Vietnamese Traditional Songs” và được củng cố hồ sơ để văn hóa Việt-Nam có cơ hội bước chân vào thế giới văn hóa của tổ chức Unesco. Nhưng tiếc thay, công trình tâm huyết này cũng như những nỗ lực ở hai lãnh vực tân và cổ nhạc cũng chìm theo vận mệnh đất nước khi miền Nam nước Việt rơi vào tay cộng sản ngày 30 tháng tư năm 1975.

TV, 26.02.2026