Người Anh Bồ Tát
Hiền Phạm
(Nguồn: FB Hien Pham)
Bá Linh vào giữa thập niên 80, người Việt tỵ nạn tại đây đông hơn những thành phố khác ở Đức. Bá Linh với bức tường phân chia Đông Tây như nhắc nhở mọi người phân biệt chánh tà.
Năm 1984, Thành Được đi lưu diễn Âu châu nhưng đến Bá Linh được đồng bào định cư tại đây dìu bước sang sông.
Năm 1985, các hội đoàn tổ chức tuyệt thực tại thềm nhà thờ cụt đầu nhân ngày 30/04.
Năm 1986, người Việt tỵ nạn tổ chức văn nghệ yểm trợ tổ chức Cap Anamur.
Năm 1987, Tổng Thống Reagan gào to lời kêu gọi bất hũ: “Mr. Gorbachew, Tear Down This Wall”.
Năm 1989, bức tường Bá Linh sụp đổ vào ngày 8 tháng 11. Một cơ hội lớn cho 60 ngàn người Việt lao động ở Đông Đức cải thiện cuộc sống tốt đẹp hơn.
Trong khung cảnh lịch sử ấy, Anh như “thần long thấy đầu mà chẳng thấy đuôi” mặc dù thưòng gặp Anh, nhưng ngoài những câu chào hỏi, tôi vẫn chưa có dịp hầu chuyện Anh nhiều.
Cho đến lần, Anh và tôi đi tham dự một hội thảo về Việt Nam tại Königswinter do một Stiftung công giáo tổ chức dài hai ngày cuối tuần. Anh và tôi đi tàu hỏa từ Bá Linh lên Bonn dài hơn năm giờ, sau đó còn share phòng, hai giường kê cạnh nhau, tha hồ nói chuyện über Gott und die Welt.
Anh hỏi nhiều về tôi và gia đình, công việc … Khi biết tôi học kinh tế, Anh hỏi tôi đã đọc quyễn Small is beautiful – die Rückkehr zum menschlichen Maß của Schumacher chưa. Tôi nhắc lại câu thơ của Nguyễn Công Trứ mà ba tôi thường trã lời mỗi khi tôi vòi tiền: „tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc,”.
Tình anh em cùng họ Phạm khởi đầu từ đó.
Trong buổi hội thảo chính bàn luận về chánh sách giúp đỡ Việt Nam của Tây Đức, có mặt Rupert Neudeck và những cơ quan từ thiện như Caritas, SOS Kinderdorf, Terre des hommes … , sự phân biệt chính tà quá khích của một số người Việt tỵ nạn làm không khí buổi họp nghẹt thở. Họ quên rằng hôm đó họ hiện diện được là nhờ lòng bác ái không kỳ thị, phân biệt tôn giáo, màu da.
Ngồi xếp bằng, khoanh chân trên ghế trong phòng họp giữa đám đông, giọng Anh uy nghi nhưng không thiếu hỷ lạc, như đễ làm dịu đi sự căng thẵng của cuộc tranh luận đang sôi nổi: Cho mà không thấy ta là người cho, đây là vật được cho, và kia là người nhận mới là cho đúng.
oOo
Bồ Tát theo gót chân Phật, một mặt tự hoàn thiện mình, một mặt cứu độ chúng sanh. Bố thí là hạnh đầu tiên trong sáu hạnh của Bồ Tát.
Khi nói đến sự bố thí, thì ta nhận ra có ba yếu tố tạo ra nó, đó là: người cho, món đồ cho, và người nhận.
– Trên phương diện người cho thì có hai loại: Bố thí trong sạch và không trong sạch.
– Trên phương diện vật thí thì có ba loại: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.
– Trên phương diện người nhận (tức đối tượng của sự bố thí), còn được gọi là ruộng phước (phước điền) thì có hai loại: ruộng phước nhỏ và ruộng phước lớn.
Bồ Tát khi bố thí thấy rằng sự bố thí không sanh, không diệt, không có thiệt, tức là không thấy có người cho, vật được cho, và người nhận, đó gọi là Bố thí Ba La Mật.
Bồ Tát thực hiện Bố thí Ba La Mật ra sao?
– Bồ Tát thực hiện tất cả các loại bố thí trong sạch, Tài thí, Nội thí, Ngoại thí, Pháp thí không bao giờ hối tiếc.
– Bồ Tát bố thí một cách bình đẳng với tất cả mọi loài.
– Bồ Tát bố thí không cầu được phước báo.
– Bồ Tát bố thí không kể ngày hay đêm, mùa đông hay mùa hè, trời tốt hay trời xấu.
– Bồ Tát bố thí để thực hiện thực tướng của sự bố thí.
( chép theo Bố Thí Ba-La-mật – Thích Trí Siêu)
oOo
Tối hôm đó Anh gọi điện thoại cho tôi, nói chuyện rất lâu, hỏi thăm tất cả những người quen xa gần, giao phó vài việc, nhắn nhủ vài câu, cuối cùng Anh báo tin là sắp đi xa. Anh Chị dẫn nhau đi Mỹ.
Sáng sớm hôm sau còn nằm trên giường, nghĩ lại chuyện Anh đi Mỹ, không biết qua đó, có người Mỹ nào hỏi Anh “What do you do for a living ?” .
oOo
Bến Tre không có đất lưu ly trong suốt, có tràng kim cương nâng đỡ. Bến Tre không có vô số cây ngay hàng, trái đều đặn bằng chất thất bảo, tinh hoa của trời đất: Bến Tre không phải là cõi Cực Lạc. Nhưng
“Bến Tre nước ngọt lắm dừa,
ruộng vườn màu mỡ, biển thừa cá tôm.”
Dân Bến Tre không có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi nét đẹp, tâm tính đầy an vui thanh tịnh. Nhưng gái Bến Tre da trắng đẹp nhờ lúc sinh ra được tắm bằng nước dừa. Lại thêm
“Bến Tre gái đẹp thật thà,
nói năng nhỏ nhẹ, mặn mà có duyên.”
Còn trai Bến Tre thì siêng năng cần mẫn nhưng thật thà đến độ thấy gái thì run, như Lục Vân Tiên của nhà thơ xứ dừa Nguyễn Đình Chiễu mô tả:
“Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.”
Nói thì nói vậy thôi, chứ Bến Tre cũng có ông Đạo Dừa, ông già Ba Tri, … và Anh.
Anh người Bến Tre, nhưng Bến Tre đất phì nhiêu, người hiền hoà, không phải là nơi Anh tu hạnh Bố thí Ba La Mật được. Bồ Tát cũng phải rời Cực Lạc, xuống cỏi Ta Bà đễ theo bước chân Phật, vì bố thí chỉ có thể hành được khi chúng sanh tham, sân, si mà có nhiều phiền não, khổ đau.
Làm người ai cũng phải làm việc để sống, Anh chọn nghề giáo, trong Nho giáo người thầy được kính trọng hơn bật sinh thành, theo Phật giáo đó là chánh mạng, thực hiện được lòng từ bi và có một nếp sống đơn giản, từ đó chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm dễ quả sinh.
Trong lớp Anh đem sự hiễu biết (ngoại thí) và kinh nghiệm (nội thí) của mình trao cho học trò không vì danh lợi (trong sạch). Lời giảng dạy của Anh đến với học trò không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, cao thấp, mập ốm (bình đẵng). Chỉ mong sao học trò lãnh hội đúng và thi đỗ là niềm vui của Anh (vô ngã vị tha).
Học trò Trung học ở Sài Gòn thời ấy chỉ được học Triết khi lên lớp đệ Nhất. Thi Tú Tài II ban A và B, Toán và Lý Hoá vì hệ số cao cho nên không học trò nào dám chểnh mản, còn môn Triết chỉ cần “qua cầu” là được.
Là giáo sư Triết, một môn học không được xem trọng nhưng Anh đã hiến tặng cho học trò của Anh căn bản suy nghĩ đễ làm hành trang vào đời. Nhà hiền triết người Đức Arthur Schopenhauer mà Anh rất ngưỡng mộ viết „ Es ist die wichtigste Kunst des Lehrers, die Freude am Schaffen und am Erkennen zu wecken“. Người thầy giỏi phải biết đánh thức niềm vui sáng tạo và nhận thức của học trò mình. Anh đã làm được điều đó qua sự Bố thí Ba la Mật của Anh. Và học trò của Anh mang ơn và quý mến Anh thế nào, họ đã thể hiện qua sự thành công và thành nhân của họ.
Cơ duyên đưa đẫy, Anh đi tu nghiệp học tiếng Đức như đễ chuẫn bị cho một sứ mệnh lớn hơn. Thời cuộc đỗi thay, Anh và gia đình đến Đức định cư, không ở nơi nào khác hơn là Tây Bá Linh, nơi có đồng hương tỵ nạn sống nhiều nhất.
Anh là socialworker ngay từ đầu nhờ thông thạo Đức ngữ. Chánh mạng là đây. Bố thí Ba la Mật nơi nầy. Anh không phân biệt một ai, không tỵ hiềm điều gì, không kể ngày đêm, mùa đông hay mùa hè, hết lòng chỉ bảo, an ủi, khuyên lơn (vô úy thí) cho đồng hương tỵ nạn còn bỡ ngỡ nơi xứ lạ quê người.
Ngày lại ngày, cho đến một hôm liều – như lời Anh nói – tìm một căn phố ở Alt-Moabit để làm Niệm Phật Đường.
Tối Silvester 1989 trong lúc người Đức hai vùng đông tây vui mừng hội ngộ tại Brandenburger Tor thì một số đồng bào đi lao động bên DDR lầm lũi lặng lẽ, sợ bị bắt lại, theo dòng người bước sang ranh giới. Họ thì thầm, truyền tai nhau: U-Bahn Turmstraße, Krefelder Straße, … chùa ông Đãnh.


