Năm cụm núi quê hương
Vưu Văn Tâm
“Tuổi Canh Ngọ nên tôi tự nguyện làm con ngựa thồ văn chương, thồ nhân nghĩa và ân tình xứ Quảng. Nếu được sinh ra tại một nơi khác không phải Quảng-Nam, không chắc gì tôi đã trở thành một văn nghệ sĩ dù là văn nghệ sĩ nghiệp dư”
(Thi sĩ Tường Linh)
1. Văn, thi sĩ Tường Linh
Thi sĩ Tường Linh tên thật là Nguyễn Linh (1931-2021) sinh quán ở làng Trung-Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông là tri kỷ của hai thi sĩ Bùi Giáng và Tạ Ký.


Năm 1949, Tường Linh nhập ngũ và tham gia chống Pháp tại mặt trận bắc Quảng-Nam. Tháng 7 năm 1954, ông bị thương đứt gân chân nên không thể vào Qui-Nhơn để đi tập kết. Ông trốn ra Huế rồi Quảng-Trị và di cư vào Sài-Gòn năm 1956. Ông theo học ở trường đại học Văn khoa và cộng tác với nhựt báo Điện Tín, các tạp chí như Bách Khoa, Văn, Văn học. Gia nhập Quân lực Việt-Nam Cộng Hòa, Tường Linh hoạt động ở cục tâm lý chiến thuộc Tổng cục chiến tranh chính trị, bộ Tổng tham mưu nhưng bị phát giác đang hoạt động “trí vận” nhằm lung lạc giới văn nghệ sĩ, trí thức nên bị cục an ninh quân đội bắt giam.
Năm 1975, ông được phóng thích và tiếp tục viết văn, cộng tác với các tờ báo, tạp chí tại quê hương đất Quảng với bút danh là Út Cầu Sơn.
Thơ ông dào dạt vào súc tích nên được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc hay mượn ý thơ để viết thành các ca khúc. Nổi tiếng nhất là bài thơ “Năm cụm núi quê hương”, sáng tác năm 1954 và được nhạc sĩ Minh Kỳ phổ nhạc thành bài hát cùng tên năm 1974.
2. Năm cụm núi quê hương
Ngoài ấy mùa này chưa nóng lắm. Màu hoa gạo đỏ rực một bến sông. Anh con trai xóm dưới siêng năng, chăm học, đem lòng yêu thương con gái Duy-Xuyên thơm vàng màu áo lụa. Bến nước, sông sâu, nhịp cầu, giếng nước .. những ảnh hình thân yêu, quen thuộc của làng quê nghèo khó là chứng nhân cho mối tình của đôi gái trai miền quê biển. Vì thương con trẻ, mẹ già đã tác hợp cho đôi bên vẹn lời nguyện ước. Đám cưới nhà nghèo không xa hoa sính lễ, chỉ vài buồng cau, mấy liễn trầu đẹp dạ song thân. Con chim tu hú gọi bạn khi tháng giêng sắp về. Cơn gió bấc thổi ngang làng quê khô khan, héo úa. Anh dõi mắt theo dãy núi miền xa, Ngũ Hành Sơn bao năm vẫn sừng sững cùng tuế nguyệt. Bàn tay anh chay sạm nắng gió quê hương, mỗi ngón tay là một cụm Ngũ Hành. Năm cụm núi quê hương muôn đời không thiếu một, như lời ru của mẹ từ thuở nằm nôi ..
“Cậu trai xóm dưới ngoan hiền
Đêm khuya khoắt học bài bên bếp lửa
Mẹ già thương hai đứa
Mẹ già cho lấy nhau
Vài buồng cau, mấy liễn trầu
Đám cưới đi ngang bờ sông hoa gạo đỏ” (*)
Chiến cuộc tràn lan, chí làm trai phải đáp đền ơn nhà, nợ nước. Anh đi theo tiếng gọi non sông lên đường nhập ngũ, gửi lại quê nhà mẹ già và người vợ trẻ hôm sớm chờ mong. Bước chân đi xa nhưng lòng vẫn thương về chốn cũ, nhớ quê biển nghèo, thèm con sóng vỗ mênh mông. Biển xanh và núi cũng xanh, Cửa Đại dẫn mấy nguồn sông tuôn về biển cả ..
“Quê hương anh mây giăng đèo Ải
Chiều ấu thơ êm ả câu hò
Nước mấy nguồn sông hẹn về Cửa Đại
Ngũ Hành Sơn năm cụm núi xanh lơ” (*)
Đã bao mùa mưa nắng đi qua, bấy nhiêu mùa trái nam trân sai quả, anh vẫn chưa về vì miệt mài chinh chiến trời xa. Mẹ già đợi con tóc trắng màu bông, vợ trẻ ngóng tin chồng đêm dài quạnh quẽ. Một ngày kia, anh trở về làng cũ. Mẹ già rưng rưng vuốt mái đầu xanh. Đứa con thương yêu đã về với gia đình cho lòng già bớt quạnh hiu sớm tối. Người vợ trẻ vẫn chờ mong ngày sum họp, nay anh trở về dệt tiếp mộng yêu đương. Bao năm dài xông pha đuổi giặc, anh kể về những chiến công trên dãy đất quê hương bom cày đạn xới. Những cuộc hành quân ngày đêm không ngơi nghỉ, bước chân anh đã bao lần vào sanh ra tử. Cuộc chiến nào không để lại những vết thương. Một bàn tay anh đã gửi lại nơi chiến trường xa, đâu đó còn thơm thơm mùi khói súng ..
“Anh thương binh về thăm nguyên quán
Một bàn tay vĩnh viễn gửi sa trường
Anh trở lại với bàn tay còn lại
Vẫn vẫy chào Non Nước quê hương” (*)
Người thương binh đã mất đi bàn tay năm ngón. Mỗi ngón tay anh là một cụm Ngũ Hành đã góp thêm màu xanh cho đất mẹ, mong cho quê nhà mãi mãi được bình an. Bức thư dang dở gửi người vợ thương yêu được viết với bàn tay trái. Dòng chữ tuy không ngay, nét chữ dù không đẹp nhưng lời thư gói ghém biết bao ân tình xa vắng. Chỉ còn lại một bàn tay, anh vẫy chào đất nước, quê hương, núi vẫn xanh và tình đời vẫn thắm thiết ..
“Mất bàn tay, còn quê hương thắm thiết
Mỗi ngón tay dâng một cụm Ngũ Hành
Niềm vui hiện tại, bếp ấm ân tình
Anh viết thư cho người yêu bằng tay trái
Đời vẫn xanh và núi vẫn xanh” (*)
Ngũ Hành Sơn, năm ngọn núi xanh lơ bên ni đèo Ải vẫn bình an ngắm dòng nước sông Hàn và lắng nghe tiếng chuông chùa Non Nước xa xa vọng lại. Anh thương binh hạnh phúc với niềm vui sum họp bên bếp lửa gia đình. Tình nước, tình nhà trong anh mênh mang như mưa nguồn gió lộng.
TV
(*) trích từ bài thơ “Năm cụm núi quê hương”

