Ông Bà ta ngày xưa thường dùng câu “mười năm đèn sách” để nói đến công phu học tập phải có trước khi có thể đi thi để ra làm quan.  Trong thời đại của chúng ta, trong những thập niên 1940, 1950 và 1960 của thế kỷ 20, công phu đó không còn là mười năm nữa, mà đã tăng lên đến mười lăm năm: 5 năm ở bậc tiểu học + 7 năm ở bậc trung học + 3 năm ở bậc đại học (giáo dục đại học tại Việt Nam chỉ bắt đầu áp dụng chế độ 4 năm từ sau niên khóa 1962-1963).  Và thi cử thì cũng không phải chỉ là một kỳ thi sau 10 năm như ngày xưa (Thi Hương), mà là rất nhiều kỳ thi đủ loại trong suốt thời gian 15 năm đó.  Bài viết này cố gắng ghi lại chuyện học hành thi cử của người viết trong mười lăm năm đèn sách đó (1948-1963).

Thời Tiểu Học (1948-1953)

Khi Ba tôi mất vào tháng 1 năm 1948, tôi chưa được đủ 7 tuổi nên chưa được đi học.  Hè năm đó, Mẹ tôi dẫn tôi đến một trường tiểu học tư thục nhỏ, có tên là Quốc Học, tọa lạc tại ngã ba của hai đường Legrand de la Lirage (sau 1954, đổi tên thành đường Phan Thanh Giản, bây giờ là đường Điên Biên Phủ),[1] và đường René Vigerie (sau năm 1954, đổi tên thành đường Phan Kế Bính và tên mới này được giữ mãi cho đến hiện nay),[2] để ghi danh cho tôi vào học Lớp Năm (bây giờ gọi là Lớp Một) để biết đọc biết viết và thuộc cửu chương.  Đến tháng 9 năm đó thì tôi chính thức được nhận vào Lớp Năm tại Trường Tiểu học Nam Đakao trên đường Albert 1er (sau 1954, đổi tên thành đường Đinh Tiên Hoàng và tên mới này được giữ mãi cho đến hiện nay).[3]

Tôi đã theo học tại Trường Tiểu Học Nam Đakao này trong suốt 5 năm của bậc Tiểu Học.  Mặc dù chương trình học đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt, tên các lớp đã được gọi bằng tiếng Việt nhưng trong các giấy tờ, văn kiện chính thức của các cơ sở giáo dục vẫn còn chua thêm tiếng Pháp như sau:

• Lớp Năm (Cours Enfantin): niên khóa 1948-1949

• Lớp Tư (Cours Préparatoire): niên khóa 1949-1950

• Lớp Ba (Cour Élémentaire): niên khóa 1950-1951

• Lớp Nhì (Cours Moyen): niên khóa 1951-1952

• Lớp Nhứt (Cours Supérieur): niên khóa 1952-1953

Trong thời gian theo học tại đây, tôi đã dư hai kỳ thi lấy văn bằng; cuối năm Lớp Ba là kỳ thi Sơ Đẳng Tiểu Học, và cuối năm Lớp Nhứt là kỳ thi Tiểu Học.  Tôi đã thi đậu cả 2 kỳ thi đó, đã được cấp 2 văn bằng, và đó là 2 bằng cấp đầu tiên trong cuộc đời đi học của tôi, như sau:

Văn Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học Năm 1951
(Ghi chú: Xin lưu ý văn bằng này có ghi bằng chữ đỏ có phần Pháp Văn vì có thi cả phần tiếng Pháp)

Văn Bằng Tiểu Học Năm 1953

Sau khi thi đậu Văn Bằng Tiểu Học, tôi đã dự kỳ thi tuyển vào Lớp Đệ Thất của Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, và, rất may mắn, tôi cũng đã đậu cả kỳ thi tuyển khó khăn này.[4]

Thời Trung Học (1953-1960)

Tôi đã theo học suốt 7 năm của bậc Trung Học tại ngôi trường danh tiếng này, 4 năm của bậc Đệ Nhứt Cấp (1953-1957), và 3 năm của bậc Đệ Nhị Cấp (1957-1960).

Khi mới vào học tại Trường Petrus Ký, ở hai năm đầu, Lớp Đệ Thất F (niên khóa 1953-1954), và Lớp Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955), tôi còn là một học sinh thường thường bực trung.  Dưới đây là Bảng điểm thi Đệ Nhị Bán Niên (tức là Học Kỳ 2) của Lớp Đệ Lục F cho thấy tôi được xếp hạng 22 trên 50 học sinh của lớp:

Bảng Điểm Thi Đệ Nhị Bán Niên – Lớp Đệ Lục F (NK 1954-1955)

Sau đó, tôi học càng ngày càng khá hơn, và ở năm Lớp Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957), trong kỳ thi Đệ Nhứt Bán Niên thì tôi đã ở vào nhóm học sinh học giỏi, và được xếp hạng 1 trên 44 học sinh của lớp

Bảng Điểm Thi Đệ Nhứt Bán Niên – Lớp Đệ Tứ F (NK 1956-1957)

Cuối năm Lớp Đệ Tứ F, Hè 1957, tôi thi bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp và đậu với Hạng Bình Thứ:

Trong suốt thời gian 3 năm ở bậc Đệ Nhị Cấp (1957-1960), tôi đã luôn luôn thuộc nhóm học sinh học rất khá, luôn luôn được xếp hạng cao trong lớp, như các bảng điểm của các kỳ thi Đệ Nhị Bán Niên của các Lớp Đệ Tam A (niên khóa 1957-1958), Đệ Nhị A (niên khóa 1958-1959), và Đệ Nhứt A1 (niên khóa 1959-1960) cho thấy rõ như sau:

Bảng Điểm Thi Đệ Nhị Bán Niên – Lớp Đệ Tam A (NK 1957-1958)

Bảng Điểm Thi Đệ Nhị Bán Niên – Lớp Đệ Nhị A (NK 1958-1959)

Bảng Điểm Thi Đệ Nhị Bán Niên – Lớp Đệ Nhứt A1 (NK 1959-1960)

Cuối hai năm Đệ Nhị và Đệ Nhứt, tôi đã dự thi và đậu cả 2 bằng Tú Tài 1 và Tú Tài 2, Ban A (Khoa Học Thực Nghiệm), với bằng Tú Tài 1 được hạng Bình Thứ:

Bằng Tú Tài Ban A – Phần 1 (1959) Với Hạng Bình Thứ và Phần 2 (1960) Với Hạng Thứ

Thời Đại Học (1960-1963)

Sau khi đậu bằng Tú Tài 2, Hè 1960, tôi đã nộp đơn xin dự kỳ thi tuyển vào năm thứ nhứt, Ban Sử Địa, Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), và, cũng rất may mắn, tôi đã trúng tuyển.

Tôi nói may mắn vì kỳ thi này có rất đông thí sinh tham dự, có nghĩa là “có tính chọn lọc rất cao.” [5] Lý do: ĐHSPSG là một trong 3 trường đại học lớn tại Sài Gòn (hai trường kia là Trường Kỹ Sư Phú Thọ và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh), mà sinh viên trúng tuyển theo học sẽ được hưởng học bổng hàng tháng, và sau khi thi đậu kỳ thi tốt nghiêp, ra trường sẽ được bổ nhiệm vào các ngạch công chức cao cấp (tức là Công Chức Hạng A), với lương bổng rất cao.  Chính phủ Ngô Đình Diệm đã rất coi trọng ngành Sư Phạm và vì vậy sinh viên trường ĐHSPSG có quy chế về học bổng và lương bổng cao hơn hai ngành Kỹ Sư và Hành Chánh như sau:

• Về học bổng: trong khi hai ngành Kỹ Sư và Hành Chánh, sinh viên được học bổng $1.000 (Một Ngàn Đồng) một tháng, thì sinh viên ĐHSPSG hưởng học bổng là $1.500 (Một Ngàn Năm Trăm Đồng) một tháng.

• Về lương bổng: sau khi tốt nghiệp, trong khi sinh viên hai ngành Kỹ Sư và Hành Chánh hưởng lương có chỉ sổ 430 với tột trần (plafond) là 1.000 thì sinh viên ĐHSPSG được hưởng lương có chỉ số 470 với plafond là 1.200.  Với 1 chỉ số lúc đó là 11 đồng 50 xu; lương tháng của một Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp, Hạng 4, là như sau:

     ° Lương căn bản:        470  x  11,50  = 5.405 đồng

     ° Phụ Cấp Sư Phạm:                            1.200 đồng

     ° Phụ cấp đắt đỏ:                                     800 đồng

     ° Tổng cộng:                                          7.405 đồng)

Lưu ý: Lúc đó, giá một bao gạo loại trắng ngon nhứt chỉ có 520 đồng, như liệt kê trong bảng thống kê vật giá sau đây:

Trong thời gian này, tại các trường đại học ở Miền Nam, vì chưa có đủ nhân viên giảng huấn, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã lưu dụng một số khá đông các giáo sư người Pháp.  Do đó, tại Trường ĐHSPSG, anh chị em sinh viên Ban Sử Địa chúng tôi cũng đã phải học với khá nhiều giáo sư Pháp, như sau:

• Thầy Normand: dạy môn Địa Lý Hình Thể (Géographie Physique)

• Thầy Teulières: đạy môn Đia Lý Nhân Văn (Géographie Humaine)

Thầy Rescoussié: dạy môn Khi Hậu Học (Climatologie)

• Cô Bourriot: dạy sử Châu Âu (Histoire d’Europe)

Chúng tôi cũng được may mắn thụ huấn với sử gia nổi tiếng của Đài Loan: Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Kính Hòa (Dr. Cheng Ching Ho), dạy chúng tôi môn Sử Đông Nam Á.

Về phía các Thầy Cô người Việt thì có các vị sau đây:

• Tiến Sĩ Trương Bửu Lâm, lúc đó đang đảm nhận chức vụ Giám Đốc Viện Khảo Cổ, dạy chúng tôi môn Phương Pháp Sử (Méthodologie Historique)

• Học Giả Vương Hồng Sển, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Sài Gòn, dạy chúng tôi môn Sử Việt Nam

• Cô Quách Thanh Tâm, dạy chúng tôi môn Đia Lý Đại Cương (Géographie Générale)

Khóa 3, Ban Sử Địa, ĐHSPSG (1960-1963) với Giáo Sư Teulières; tác giả bài viết này là sinh viên đứng phía bia trái, mặc áo ca-rô

Khóa 3, Ban Sử Địa, ĐHSPSG (1960-1963) với các Giáo Sư Vương Hồng Sển, Trần Kính Hòa, và Quách Thanh Tâm; tác giả bài viết này là sinh viên đứng ở bìa phải.

Sau ba năm học, tôi dự kỳ thi tốt nghiệp và đã đậu với Hạng Bình Thứ:

Chúng Chỉ Tốt Nghiệp Ban Sử Địa, Trường ĐHSPSG, 1963 – Giáo Sư Khoa Trường Bùi Xuân Bào Ký Ngày 24-4-1963

Thay Lời Kết

Kết thúc hành trình “mười lăm năm đèn sách”đầy gian khổ và thách thức, với rất nhiều kỳ thi thuộc đủ các loại: lấy văn bằng (Sơ Đẳng Tiểu Học, Tiểu Học, Trung Học Đệ Nhứt Cấp, Tú Tài 1, và Tú Tài 2), thi tuyển vào các trường lớn và nổi tiếng tại Thủ đô Sài Gòn (Trường Trung Học Petrus Ký, và Trường ĐHSPSG), và thi tốt nghiệp (Trường ĐHSPSG), tôi đã được đền bù với phần thưởng rất xứng đáng và được mọi người coi trọng: đạt được danh vị là Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp phụ trách giảng dạy cho các học sinh trung học Đệ Nhị Cấp đi thi 2 bằng Tú Tài 1 và Tú Tài 2, và được hưởng lương bổng rất cao  

GHI CHÚ:

1. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Nguyễn Đại Phúc, Đỗ Văn Anh, Phạm Thiếu Hương.  Sài Gòn – Gia Định xưa: tư liệu & hình ảnh.  Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1997, tr. 138.

2. Huỳnh Ngoc Trảng và các tác gia khác, sách vừa dẫn bên trên, tr. 148.

3. Huỳnh Ngọc Trảng và các tác giả khác, sđd, tr. 127.

4. Nguyễn Thanh Liêm.  Ôn lại lịch sử trường Petrus Ký (trước 75), tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://aihuubienhoa.com/a4125/on-lai-lich-su-truong-petrus-ky-nguyen-thanh-liem

5. Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Giáo dục Việt Nam Cộng hòa – Wikipedia tiếng Việt