Mua nang trong doi – Lam Vinh The

Tôi sinh năm 1941, bây giờ là năm 2026 và tôi đã được 85 tuổi rồi.  Thời gian hơn 80 năm không phải là ít, và, cũng như mọi người, tôi đã trải qua không biết bao nhiêu biến cố trong cuộc đời, tốt cũng có xấu cũng có, vui cũng có và buồn cũng có.  Nhờ sự hỗ trơ của Ơn Trên cũng như lòng tin vào “tân nhơn lực, tri thiên mạng,” tôi đã vượt qua được tất cả những trở ngại, khó khăn trong cuộc đời hơn 80 năm đó, và hoàn thành tốt đẹp tất cả những nhiệm vụ được giao phó.  Bài viết này là một cố gắng ghi lại những chuyên “nắng mưa trong đời” của bản thân tôi.

Thời Gian Còn Đi Học

Bậc Tiểu Học

Sau khi Ba tôi mất vào đầu năm 1948, Mẹ tôi bị bắt buộc phải bương chải làm ăn để kiếm tiền nuôi 4 đứa con còn nhỏ dại; Chi Hai tôi lúc đó mới có 15 tuổi, đang học Lớp Deuxième Année tại Trường Áo Tim (tức là Trường Nữ Trung Hoc Gia Long về sau này), còn tôi thì còn chưa đủ 7 tuổi để được nhận vào Lớp Chót của Tường Nam Tiểu Học Đakao.  Mẹ tôi làm nghề bán hột xoàn, một cái nghề không có trương nào dạy cả, không cần có vốn nhưng cần phải có uy tín và giao thiệp rộng.  Hàng ngày Mẹ tôi phải di chuyển rất nhiều nên thuê hẳn một cái xe xích lô đạp của ông Hai trong xóm.

Hôm tôi đi thi kỳ thi tuyển vào các lớp đệ thất của Trường Petrus Ký, Mẹ tôi giao cho Ông Hai làm nhiệm vụ đưa đón tôi, và cho tôi 20 đồng để xài hôm đó. Tôi rất vui mừng, nghĩ trong bụng bữa nay mình sẽ được ăn hàng thả cửa vì đó là một số tiền rất lớn đối với một nhóc tì 12 tuổi như tôi lúc đó   Ngôi trường tiểu học mà tôi sẽ đến để làm bài thi là một trường rất nhỏ nằm trong một con đường nhỏ ở Chợ Lớn.  Khi tới nơi tôi mới khám phá ra là tôi đã quên không có đem căn cước học sinh và tờ giấy báo danh.  Tôi liền trở ra và nhờ Ông Hai chở về nhà để lấy các giấy tờ đó.  Ông Hai trả lời ngay là đi xích lô đạp của ông thì sẽ không kịp giờ thi đâu, và kêu cho tôi một chiếc xích lô máy.  Nhờ vậy mà tôi đã trở lại vừa kịp để vào phòng thi, nhưng tờ giấy 20 đồng thì tôi không còn để ăn hàng thả cửa nữa vì phải trả cho chuyến xích lô máy đó.  Ngày hôm đó tôi còn được thêm một cái may nữa là làm các bài thi rất tốt, và kết quả là tôi đã đậu kỳ thi tuyển vào Trường Petrus Ký rất khó khăn đó.

Bậc Trung Học

Tôi đã theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc trung học tại ngôi trường danh tiếng này.  Ở bậc đệ nhứt cấp, 3 năm đầu thì tôi cũng chỉ là một học sinh trung bình, nhưng năm cuối, Lớp Dệ Tứ F (niên khóa 1956-1957), thì tôi đã vượt lên nhiều, cuối năm được xếp hạng 2 trên tổng số 46 học sinh của lớp, và thi bằng Trung Học Đê Nhứt Cấp đậu Hạng Bình Thứ:

Bằng Trung Hoc Đệ Nhứt Cấp, Khóa Thi ngày 6-6-1957 – Hạng Bình Thứ

Lên bậc đệ nhị cấp, tôi học càng ngày càng khá hơn, và thi đậu luôn hai bằng Tú Tài 1 (năm 1959, Hạng Bình Thứ) và Tú Tài 2 (năm 1960. Hạng Thứ), và cũng đậu luôn kỳ thi tuyển rất khó khăn vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa.

Bằng Tú Tài Ban A (Khoa Học Thực Nghiệm) – Phấn 1 (1959): Hạng Bình Thứ – Phần 2 (1960): Hạng Thứ

Bậc Đại Học

Tôi đã đậu hạng 4 trong số 35 thí sinh trúng tuyển vào năm thứ nhứt của Ban Sử Địa, Trường ĐHSPSG.  Trong thời gian 3 năm (1960-1963) theo học tai đây, tôi cũng là một sinh viên giỏi với thứ hạng như sau trong các kỳ thi cuối năm:

• Thi lên năm thứ haI; tôi đậu hạng 3

• Thi lên năm thứ ba: tôi đậu hạng 2

• Thi ra trường: bạn bè ai cũng nghĩ là tôi sẽ đậu Thủ Khoa, nhưng thật đáng buồn, tôi đã tuột xuống đên hạng 13, mặc dù vẫn được Hạng Bình Thứ; lý do là vì tôi bị bệnh rất nặng, đã tưởng là không thể dự thi, chính hôm đi thi Me tôi phải mướn một chiếc xe taxi và đích thân đưa tôi đi thi.

Chứng Chỉ Tốt Nghiệp ĐHSPSG do Giáo Sư Khoa Trưởng Bùi Xuân Bào ký ngày 24-4-1963

Thời Gian Làm Việc Tại Việt Nam

Tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (1963-1966)

Tôi đã dạy học tại Trường Kiến Hòa trong 3 năm (1963-1966).  Lúc đó, Trường Kiến Hoa có tất cả 15 lớp đệ nhị cấp, gồm 6 lớp đệ tam, 6 lớp đệ nhị (đi thi Tú Tài 1), và 3 lớp đệ nhứt (đi thi Tú Tài 2).  Trường cũng đã có được một giáo Sử Địa rồi.  Đó là Giáo Sư Lê Như Dực, một dàn anh của tôi, tốt nghiệp ĐHSPSG, Ban Sử Địa, Khóa 1 (1959-1961).  Anh Dực và tôi bàn với nhau và quyết định phân chia trách nhiệm như sau: Anh Dực dạy 15 giờ Sử và tôi dạy 15 giờ Địa, và thế là tôi nghiểm nhiên trở thành “Ông Địa” của Trường Kiến Hòa.  Tháng 9-1966, tôi được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển vềTrường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).

Tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (1966-1973)

Không ảnh toàn cảnh Trường KMTĐ vừa xây xong năm 1965 – Dãy nhà dài bên phải là cơ sở của Trường ĐHSPSG

Tại thời điểm này, Trường KMTĐ là ngôi trường trung học lớn nhứt và tân tiiến nhứt của cả nước, với một đội ngũ giáo sư thật hùng hậu và áp dụng một chương trình giáo dục tổng hợp, vừa học văn hóa vừa học nghề với các bộ môn hoàn toàn mới mẻ như Công Kỷ Nghệ, Canh Nông, Kinh Tế Gia Đình, và Doanh Thương. 

Tôi phụ trách giảng dạy môn KiếnThức Xã Hội, tên gọi mới tại Trường dành cho môn Sử Địa.  Năm 1970, do một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tôi chuyển sang làm công tác thư viện, nhờ vậy tôi đã được Cơ Quan Viện Trợ Mỹ (United States Agency for International Development = USAID) cấp một học bổng đi du học 2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University).  Tôi tốt nghiệp vào cuối tháng 5-1973 với bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS)

Tại Viện Đại Học Vạn Hạnh (1973-1975)

Đầu năm1974, tôi đã ra ứng cử và đã đắc cử chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN) nhiệm kỳ 1974.  HTVVN đã hoat động rất tích cực và đã đạt được những thành quả rất đáng kể trong việc phát triển ngành thư viện cho Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Thấy rõ khả năng cũng như tinh thần làm việc bất vụ lợi của anh chị em trong Ban Chấp Hành của HTVVN, Thương Tọa Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh quyết định thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH) cho Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, và cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên.

BTVH khai giảng học kỳ đầu tiên với 70 sinh viên vào đầu năm học 1974-1975 với các giáo sư và giáo trình như sau: [1]

Học Kỳ 1:

• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I

• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện

• Ông Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu

• Ông Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện

Học Kỳ 2:

• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II

• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn

• Ông Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát

• Ông Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I

Học Kỳ 2 khởi sự vào khoảng tháng 3-1975 đã không bao giờ được kết thúc vì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975 chấm dứt sự hiện hữu của VNCH.  BTVH của Đại Học Vạn Hạnh đã bị chết non, chưa đào tạo được một vị Cử Nhân Thư Viện Học nào cho VNCH.

Thời Gian Làm Việc Tại Canada

Tại Thành Phố Montréal

Gia đình tôi rời Việt Nam đi định cư tại Canada do sự bảo lãnh của Anh Tư tôi.  Chúng tôi đến phi trương Mirabel vào buổi chiều ngày 23-9-1981.

Do sự kỳ thị của người Québec đối với tiếng Anh tôi đã không thể nào tìm được việc làm chuyên môn thư viện tại Montréal.  Để có một ít lợi tức thêm vào số tiền Anh Tư tôi trợ cáp hàng tháng, tôi phải nhận làm một công việc lao động khuân vác trong một kho hàng, làm ca đêm, từ 4 giờ chiều đến 12 giờ khuya.  Nhiều đêm, khi đã xong việc, đứng đón xe buýt trong cái lạnh buốt giá của Mùa Đông Canada, tôi đã không cầm được nước mắt vì quá tủi thân: từ một giáo sư đại học tại Việt Nam tôi đã rơi xuông tận cùng nấc thang xã hội, làm một cu-li, tại Canada. 

Tại Thủ Đô Ottawa

Đầu tháng 4-1982, tôi tìm  được một công viêc làm hợp đồng (contract job) tại Thư Viện Trung Ương của Bộ Canh Nông (Central Library, Agriculture Canada) tại thủ đô Ottawa. Việc tìm được công việc làm này, trong khi tôi chưa có một chút kinh nghiệm nào cả về công tác thư viện tại Bắc Mỹ, là một sự kết hợp tuyệt vời của 3 yếu tố sau đây:

• Là thư giới thiệu (Letter of Reference) rất ấn tượng của Ân Sư của tôi là Giáo Sư Pauline Atherton (về sau, khi đã lập gia đình với Giáo Sư John Cochrane, Bà mới đổi tên thành Pauline A. (Atherton) Cochrane), trong đó có một câu như sau:

“He was, without doubt, one of the top ten or twenty students I have had in twenty-five years of teaching.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Không nghi ngờ gì cả, anh ấy đã là một trong mười hay hai mươi sinh viên giỏi nhất của tôi trong hai mươi lăm năm dạy học.”)

• Bà Joyce MacKintosh, Phó Giám Đốc của Thư Viện Bộ Canh Nông, một chuyên gia thư viện cao cấp của Canada, lại là một người rất ngưỡng mộ Ân Sư Pauline Atheron.

• Bà Renée Staples, Trưởng Phòng Nhân Viên (Manager, Human Resources Department) của công ty chuyên tìm việc làm cho các chuyên gia Sharon Professional Services (SPS), lại là một ngươi Mỹ, vì lập gia đình với ông Charles Staples, một người Canada, nên đã sang Canada sinh sống và làm việc, và cũng là người đưa tôi đi gặp Bà Joyce MacKintosh để được phỏng vấn, lai là một ngườ sinh trưởng tai Syracuse và cũng đã từng là sinh viên của Đại Học Syracuse nên có cảm tinh với tôi ngay khi biết tôi đã từng là sinh viễn của Đại Học Syracuse.

Tại Thành Phố Hamilton

Đầu tháng 7-1984, một hôm đọc báo The Globe and Mail, tôi thấy một cơ quan liên bang có tên là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS = Centre canadien d’hygìène et de sécurité au travail (CCHST), tại thành phố Hamilton, thuộc tỉnh bang Ontario,đăng một thông cáo tìm người, mà tìm một lúc 5 nhân viên luôn, một chuyện hiếm khi xảy ra: [2]

• Manager, Online Catalogue

• Inventory Cataloguer

• Canadiana Cataloguer

• Subject Cataloguer

• Physical Hazards Information Scientist

Tôi nộp đơn xin việc ngay, và chỉ xin công việc thấp nhứt là Inventory Cataloguer vì tôi nghĩ là mình vẫn chưa có quôc tịch Canada, không nên vói cao.  Tôi được mời đến phỏng vấn vào ngày 15-8-1984, và ngày 23-8-1984 thì được văn thư của CCOHS báo tin tôi đã được nhân, với lương năm khởi sự là 27.491 đô la Canada.  Đây là một công việc làm thường trực (permanent), toàn thời gian (full-time), và lương cao (high-salary job).  Thật không có bút mực nào diễn tả cho hết nổi vui mừng của tôi.  Vợ chồng tôi quyết định dọn nhà từ Ottawa về Hamilon luôn.  Với sự giúp đỡ của Phòng Nhân Viên của CCOHS, chúng tôi tìm được một apartment trên đường Wellington, chỉ cách trụ sở của CCOHS có 3 block đường, đi bộ chừng 5 phút là tới sở làm, không cần phải đi xe hơi, và nhờ vậy tôi đã có thể tiêt kiệm được một số chi phí đáng kể về tiền đổ xăng hàng tháng.

Tôi đã làm việc tại CCOHS trong khoảng hơn 8 năm (từ tháng 8-1984 đến 9-1992) và đã đảm nhận các chức vụ như sau:

• Inventory Cataloguer, 1984-1985

• Manager, Online Catalogue, 1985-1988

• Manager, Database Development Department, 1988-1990

• Manager, Database and Information Resources Development Department, 1990-1992

Tôi hoàn toàn yên tâm làm việc, cứ nghĩ là có thể làm cho đến ngày nghỉ hưu.  Nhưng thật đúng như Ông Bà mình thường khuyên con cháu:”Chuyện đời khó nói, ai biết trước được chuyện tương lai.”  Tai họa ập đến một cách bất ngờ và chớp nhoáng.  CCOHS được thành lập khi Đảng Tự Do, ủng hộ giới công nhân, cầm quyền; bây giờ Đảng Bảo Thủ, ủng hộ giới chủ nhân, chiếm được chính quyền.  CCOHS trở thành cái gai trong mắt họ, và họ quyết tâm phá hoại CCOHS.  Chuyện đầu tiên họ làm là cách chức ngay lập tức Tiến Sĩ Gordon Atherley, President của CCOHS, một chuyên gia về an toàn lao động nổi tiếng cả thế giới, và tệ hại hơn nữa là bổ nhiệm người thay thế là ông Arthur St.-Aubin, một ông trung tướng (tướng 3 sao) đã về hưu của.Lục Quân Canada, không biết gì hết về an toàn lao động, và cũng không có kinh nghiệm về quản trị.  Tiếp đến là các vị Giám Đốc (Directors), và sau cùng là các Trưởng Ban (Managers).  Tôi bị cho nghĩ việc vào ngày 30-9-1992.  Tôi đã có ý định sẽ kiện CCOHS ra tòa vì đây là một trường hợp đuổi việc vô cớ (Wrongful Dismissal) và chắc chắn CCOHS sẽ thua.  Có lẽ cũng đã đoán trước được ý định của tôi, CCOHS đã trả cho tôi 9 tháng lương coi như là tiền bồi thường cho gần 9 năm làm việc đó.  Tôi rời CCOHS mà lòng buồn vô cùng vì nghĩ rằng mình đã bị đối xử bất công, vô lý, và nhứt là vì hành động đó của CCOHS hoàn toàn đi ngược lại bản chất lương thiện và truyền thống nhân hậu của người dân và đất nước Canada.

Năm Năm Trời Lận Đận

Sau khi bị mất việc tại CCOHS, tôi đã trải qua 5 năm trời lận đận, phải chấp nhận làm các công việc hợp đồng lặt vặt, ngắn hạn, có khi chỉ có 1 tháng, và cũng có một thời gian phải xin hưởng trợ cấp thất nghiệp (Unemployment Insurance = UI).  Trợ cấp UI chỉ trả được độ 50-55% lương trước khi bị mất việc nên chỉ tạm đủ sống cho gia đình.  Tôi đã phải sống chật vật như thế trong 5 năm trời cho đến khi tìm được việc làm thường trực mới tại Trường Đại Học Saskatchewan vào đầu tháng 9-1997.

Hết Cơn Bỉ Cực Đến Hồi Thới Lai

Nhận Việc Tai Đại Học Saskatchewan

Đầ tháng 5-1997, tôi đọc thấy trong báo The Globe and Mail một thông cáo tuyển người cho chức vụ Trưởng Ban Biên Mục (Head, Cataloguing Department) của Thư Viện Trường Đại Học Saskatchewan, tai thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan, trong vùng Đại Bình Nguyên của Canada (Canada’s Grand Prairie). 

Tôi gởi đơn xin dự tuyển ngay, được mời đến phỏng vấn vào ngày 2-6-1997.  Trường Đại Học Saskatchewan đã hoàn toàn theo đúng với thủ tục tuyển người của các đại học Bắc Mỹ.  Phòng Nhân Viên của Thư Viện đã thu xếp moi việc thật chu đáo cho cuộc phỏng vấn.  Vi Hamilton và Saskatoon cách nhau đến 2.889 km (hay là 1.795 miles) nên tôi phải đi bằng máy bay.  Họ đã mua vé máy bay khứ hồi và gởi đến tận nhà cho tôi.  Họ cũng đã mướn phòng tại khách sạn lớn nhứt trong thành phố cho tôi trú ngụ mấy ngày ở Saskatoon.  Và cuộc phỏng vấn đã diễn ra trọn một ngày, từ 9 giờ sáng cho đến 5 giờ chiều.  Hai tháng sau, tôi nhận được điện thoại của ông Frank Winter, Giám Đôc Thư Viên, báo tin tôi đã trúng tuyển, và tôi đã chính thức bắt đầu làm việc từ ngày 2-9-1997 trong chức vụ Trưởng Ban Biên Mục của Thư Viên Đại Hoc Saskatchewan.

Thăng Tiến Nghề Nghiệp Tai Đại Học Saskatchewan

Khi nhận việc làm này, tôi được xếp vào bậc Librarian 3 với thời gian thử thách (probation) là 3 năm.  Tôi đã làm việc thật tốt và thành công mỹ mản với 3 dự án công tác quan trọng cho thư viện như sau:

• Thực hiện việc Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn (Authority Control)

• Huấn luyện về Công Tác Biên Mục cho nhân viên

• Tích cực xử lý Tài Liệu Điện Tử (Electronic Resources)

Sau 3 năm công tác, tôi được nhận vào biên chế thường trực (Tenure) của Đại Học từ ngày 1-7-2000, như ghi rõ trong văn thư sau đây của Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ (Vice-President, Academic): [3]

“The University Review Committee has concluded its consideration of recommendations for tenure.  I am pleased to advise you that the Committee voted to recommend to the Board of Governors that you be granted permanent status effective 1 July 2000.

The award of tenure is an extremely important step for both you and the university.  In addition to being an important stage in your own career development, the awarding of tenure represents the University’s long-term commitment to you in recognition of the satisfactory performance of your duties during your first years at the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học đã xem xét khuyến cáo cho ông vào biên chế thường trực và đã có kết luận.  Tôi rất vui mừng thông báo cho ông là Ủy Ban đã bỏ phiếu tán thành và sẽ khuyến cáo lên Hội Đồng Quản Trị của Viện Đại Học để ông được vào biên chế thường trực kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2000.  Việc ban tặng quy chế thường trực là một bước tiến vô cùng quan trọng đối với ông cũng như đối với Viên Đại Học.  Ngoài việc thể hiện một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của ông, việc ban tặng đó còn thể hiện sự cam kết lâu dài của Viện Đại Học đối với ông qua việc công nhận ông đã công tác tốt trong những năm đầu tiên tại Đại Học Saskatchewan,”)   

Vài tuần lễ sau đó, tôi được Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC) thăng cấp, bổ nhiệm tôi làm Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division), phụ trách luôn cả 2 Ban, Ban Biên Mục, và Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department) có nhiệm vụ mua sắm sách báo cho Thư Viện của Trường và trao đổi tài liệu với các thư viện bạn.

Gần 2 năm sau,khi tôi đã vào biên chế thường trực, tôi được thăng cấp lên Librarin 4 (cấp cao nhưt của quản thủ thư viên đại học tại Bắc Mỹ) từ ngày 1-7-2002 như ghi rõ trong văn thư sau đây của Tiến Sĩ Michael Atkinson: [4]

“On behalf of the University Review Committee, I am pleased to inform you that the Committee has recommended to the Board of Governors that you be promoted to the rank of Librarian IV effective July 1, 2002.  Congratulations!  You should receive a letter from the Board of Governors later this month.

The documentation provided supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date.  Our recommendation to the Board of Governors is a vote of confidence in you as a senior member of the university community and in your continuing contribution to the academic life and vitality of the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thay mặt Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học, tôi vui mừng báo tin cho ông là Ủy Ban đã khuyến cáo với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học để ông được thăng cấp lên Quản Thủ Thư Viện Bậc IV kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2002.  Xin chúc mừng ông!  Ông sẽ nhận được văn thư của Hội Đồng Quản Trị vào cuối tháng này.  Hồ sơ đã được đệ trình để hỗ trợ cho trường hợp của ông đã chứng minh rằng các đồng nghiệp của ông tại trường cũng như từ khắp Canada, và cà quốc tế, đã công nhận những thành quả mà ông đã đạt được cho đến ngày hôm nay.  Khuyến cáo của chúng tôi với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học là một lá phiếu xác nhận sự tin tưởng của chúng tôi đối với ông với tư cách là một thành viên cao cấp của cộng đồng đại học, và đối với sự tiếp tục đóng góp của ông cho sự nghiệp và sức sống của Đại Học Saskatchewan.”)

Nghỉ Phép Để Đi Làm Nghiên Cứu

Đại Học Saskatchewan, giống như các đại học khác tại BắcMỹ, cũng có quy chế cho phép các giáo sư được nghỉ phép để đi làm công tác nghiên cứu, gọi là Sabbatical Leave, quy định như sau: 1) Nghỉ 6 tháng, hưởng 100% lương, sau khi làm vịệc được 3 năm; và 2) Nghỉ trọn một năm (12 tháng), hưởng 80% lương, sau khi làm việc được 6 năm. Đại Học Saskatchewan lai có thêm một quy chế đặc biệt mà ít có đại hoc khác áp dụng, và đó là quy chế xếp các quản thủ thư viện vào chung một nghiêp đoàn với các giáo sư, và, vì vậy, các quản thủ thư viên cũng được nghỉ phép Sabbatical Leave như các giáo sư.

Năm 2003 tôi sẽ có đủ 6 năm công tác nên sẽ có thể xin nghỉ Sabbatical Leave, và, vì vậy, tôi đã làm đơn xin nghỉ loại phép này.  Trong đơn tôi ghi rõ sẽ thực hiện 2 dự án nghiên cứu như sau: [5] 

• Dự án thứ nhứt: làm một cuộc nghiên cứu về vấn đề “Kiểm Tra Phẩm Chất trong Công Tác Biên Tại Ngoại tại các thư viện đại học của Bắc Mỹ

• Dự án thứ nhì: thực hiện cho Thư Viện Đại Học Saskatchwan một “Cơ Sở Dữ Liêu Trực Tuyến Trên Web Các Tài Liệu Đã Giải Mật Trong Khoảng Thời Gian 1975-2000 Của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ Về Chiến Tranh Việt Nam

Vào ngày 28-10-2002, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến sĩ Mark Evered, Vice-Provost, và cũng là Chủ Tịch của Ủy Ban Nghỉ Phép Đi Làm Nghiên Cứu (Sabbatical Leave Committee), thông báo là Ủy Ban đã chấp thuận cho tôi được nghỉ phép.  Trong thời gian nghỉ phép một năm này, tôi đã thành công, hoàn tất được cả hai dự án nghiên cứu, và kết quả của hai dự án nghiên cứu này đã được tôi viết thành hai bài báo, một cho tạp chí Cataloging & classification quarterly, và một cho tạp chíOnline

Trước khi đi Sabbatical Leave, tôi đã có một phiên họp với ông Frank Winter, Giám Đóc Thư Viện, và tôi đã báo cho ông ấy biết là tôi sẽ không giữ các chức vụ chỉ huy nữa khi tôi trở về trường, và ông đã đồng ý.  Vì vậy, khi trở về trường, tôi chỉ làm công tác chuyên môn với chức vụ Senior Original Cataloguer cho đến khi nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006.

Thay Lời Kết:

Nhìn lại cuộc hành trình hơn 80 năm qua, từ khi còn đi học cho đến lúc ra đi làm, từ khi còn ở trong nước cho đến khi đã định cư tại quê hương thứ hai Canada, tôi nhận rõ sự ưu ái mà Ơn Trên đã dành cho tôi mặc dù lúc nào tôi cũng hết sức cố gắng, và, nhờ vậy, thật tình mà nói, tôi đã có được một cuộc sống “nhiều NẮNG hơn MƯA.”  Tôi thành tâm cảm tạ Ơn Trên về sự ưu ái đó.

GHI CHÚ:

[1] Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Viêt.  Westminster, CA.: Nhân Ản, tr. 62.

[2] Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 110-111.

[3] Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 135-136.

[4] Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 139.

[5] Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 141.