Tôi sinh năm 1941, năm nay là 2026, tôi đã được 85 tuổi rồi.  Trong suốt khoảng thòi gian dài trên 80 năm đó, tôi cảm thấy phần nào hãnh diện vì đã làm được một số điều tốt đẹp cho xã hội, và cho đất nước, tại cả quê hương, nơi chôn nhau cắt rún, cũng như tại đất nước tạm dung, nơi tôi tìm đến để định cư.  Nhưng dồng thòi, tôi cũng nhận ra rất rõ là sở dỉ tôi đã làm được những chuyện đó là nhờ tôi đã có được rất nhiều may mắn.  Bài viết này cố gắng ghi lại những cái may mắn đó.

Thời Gian Còn Đi Học

Ở Bậc Tiểu Học

Tôi đã học suốt 5 năm (1948-1953) của bậc Tiểu Học tai Trường Nam Tiểu Học Đakao nằm trên đường Albert 1er (sau 1954, đổi tên thành đường Đinh Tiên Hoàng).  Tôi không phải là một học sinh xuất sắc của lớp, của trường, vậy mà cuối năm Lớp Nhứt A (niên khóa 1952-1953) tôi lại là học sinh duy nhứt của cả 2 lóp nhứt của trường, là Lớp Nhứt A và Lớp Nhứt B, thi đậu vào lớp đệ thất của ngôi rường trung học lớn nhứt và danh tiếng nhứt của Miền Nam: Trường Trung Hoc Petrus Trương Vĩnh Ký, thường được đồng bào Miền Nam gọi tắt là Trường Petrus Ký.  Đó là cái may mắn lớn đầu tiên trong cuộc đời tôi.

Ở Bậc Trung Học

Tôi đã học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại Trường Petrus Ký.  Ở bậc đệ nhứt cấp (1953-1957), trong mấy năm đầu, tôi chỉ là một học sinh trung bình,  Cuối năm Lớp Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955) tôi được xếp hạng 22 trên 50 học sinh;  cuối năm Lớp Đệ Ngũ F (niên khóa (1955-1956) tôi được xếp hạng 14 trên 49 học sinh.  Nhưng đến cuối năm Lớp Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957) tôi may mắn vọt lên đến hạng 5 trên 46 học sinh, và, cũng rất may mắn, tôi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp với Hạng BìnhThứ:

Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp Hạng Bình Thứ – Khóa Thi Ngày 6-6-1957

Trong ba năm học (1957-1960) ở bậc đệ nhị cấp, tôi luôn luôn là một học sinh giỏi.  Cuối năm Lớp Đệ Tam A (niên khóa 1957-1958) tôi được xếp Hạng 2 trên 62 học sinh.  Cuối năm Lớp Đệ Nhị A (niên khóa 1958-1959) tôi cũng được xếp Hạng 2 trên 64 học sinh.  Cuối năm Lớp Đệ Nhứt A1, tôi được xếp Hạng 5 trên 62 học sinh.  Tôi cũng thi đậu cả 2 bằng Tú Tài: Tú Tài 1 (1959) với Hạng Bình Thứ, và Tú Tài 2 (1960) với Hạng Thứ:

Bằng Tú Tài – Phần 1 (1959, Hạng Bình Thứ) – Phần 2 (1960, Hạng Thứ)

Sau khi đã thi đậu bằng Tú Tài 2, Hè năm 1960, tôi nộp đơn xin dư kỳ thi tuyển rất khó khăn vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), và, cũng rất là may mắn, tôi cũng đã đậu kỳ thi tuyển khó khăn này.  Kỳ thi tuyển này, năm nào cũng như vậy hết, là kỳ thi tuyển khó khăn nhứt để vào các trường đại học tại Sài Gòn.  Lý do: sinh viên ĐHSPSG lãnh học bổng mỗi tháng là 1.500 đồng, trong khi sinh viên của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và các trường kỹ sư Phú Thọ học bổng chỉ có 1.000 đồng thôi.  Ngoài ra, cũng nên nhớ là vào năm 1960, lương tháng của một người công chức thư ký chỉ có khoảng 800-900 đồng thôi.

Ở Bậc Đại Học

Tôi đã theo học suốt 3 năm (1960-1963) của bậc Đại Học tại Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa.  Trong thời gian này, tôi cũng rất may mắn học khá tốt với thành tích học tập như sau:

• Thi tuyển vào trường: tôi đậu Hạng 4 trên 35 người trúng tuyển

• Thi lên năm thứ hai: tôi đậu Hạng 3

• Thi lên năm thứ ba: tôi đậu Hạng 2

• Thi ra trường: bạn bè ai cũng nghĩ là tôi sẽ đậu Thủ Khoa, nhưng thật đáng buồn, trước khi thi tôi bị bệnh rất nặng, cứ tưởng là không thể dự thi, chính hôm thi Mẹ tôi phải mướn một chiếc xe taxi và đích thân đưa tôi đến trường để dự thi; và, cũng rất may mằn tôi thi đậu, mặc dù bị tụt xuống đến Hạng 13, nhưng vẫn còn may mắn đậu được Hạng Bình Thứ

Chứng Chỉ Tốt Nghiệp ĐHSPSG Hạng Bình Thứ – Khoa Trưởng Bùi Xuân Bào ký ngày 24-4-1963

Thời Gian Đã Ra Đi Làm

Sau khi tốt nghiệp Trường ĐHSPSG, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm vào ngạch Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp, Hang 4, và nhiệm sở đầu tiên là Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre).  Tôi đã dạy học tại đây trong 3 năm (1963-1966).  Tháng 9-1966, tôi được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).

May Mắn Lớn Nhứt Trong Đời

Chính tại ngôi trường tân tiến nhứt này của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) lúc bấy giờ, tôi lại được cái may mắn lớn nhứt trong đời là bất ngờ chuyển sang làm công tác thư viện.[1]  Một ngày trong năm học 1970-1971, trong giờ ra chơi buổi sáng, tôi đến thư viện của trường để chúc mừng một người bạn, anh Nguyễn Ứng Long, vì ngày hôm trước cả trường đã được tin là anh vừa được Chính phủ VNCH bổ nhiệm vào chức vụ Giám Đốc Nha Văn Khố và Thư Viện Quốc Gia, chịu trách nhiệm về văn khố – thư viện cho cả nước.  Tôi thật lòng nghĩ và tin là anh rất xứng đáng với chức vụ mới đó vì anh là một trong người Viêt Nam đầu tiên đã tốt nghiệp với bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) từ một trường đại học của Hoa Kỳ.  Chuyện bất ngờ và may mắn là sau khi trò chuyện được độ năm phút, đột nhiên Anh Long đề nghị tôi thay thế anh trông coi thư viện để anh có thể an tâm rời trường đi nhậm nhiệm vụ mới.  Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không hiểu tại sao tôi nhận lời anh ngay, không một chút do dự, đắn đo.  Thế là tôi nghiểm nhiên trở thành một quản thủ thư viện mà không có một chút kiến thức gì cả về nghề thư viện.  Vài tuần lễ sau đó, Giáo Sư Hiệu Trưởng Phạm Văn Quảng, tốt nghiệp ĐHSPSG, Ban Anh Văn, Khóa 1, 1959-1961, và Cao Học về Giáo Dục từ Trường Đại Học Ohio của Hoa Kỳ năm 1965, cử tôi đi dự một khóa huấn luyện căn bản thư viện học tại Sài Gòn, do Cơ Quan Phát Triên Thư Viện (Library Development Authority = LDA), một đơn vị của Cơ Quan Viện Trợ Hoa Kỳ (United States Agency for International Development = USAID), tổ chức.  Sau đó, người đứng đầu LDA là Ông Cố Vấn John Lee Hafenrichter (mà về sau chúng tôi thường gọi tắt cho dễ là Ông Haf) thường lên viếng thăm thư viện của Trường KMTĐ, và rất hài lòng với những gì tôi đã thực hiện cho thư viện, và quyết định đề nghị và được USAID chấp thuận cấp cho tôi một học bổng đi du học Hoa Kỳ trong 2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University = SLSSU) ở thành phố Syracuse, tiểu bang New York.   Vì Trường KMTĐ là một đơn vị trực thuộc Trường ĐHSPSG (dùng làm nơi cho sinh viên ĐHSPSG thực tập), nên hợp đồng với USAID được Giáo Sư Trần Văn Tấn, Khoa Trưởng của ĐHSPSG ký tên đồng ý ýà đóng dấu.  Hợp đồng ghi rõ là sau khi tốt nghiệp với bằng MLS và về nước, ĐHSPSG sẽ thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH) và sẽ cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên.

Hai Năm Tại Đại Học Syracuse

Trong thời gian hai năm (1971-1973) theo học chương trình cao học tại SLSSU, tôi lại được thêm một cái may mắn lớn nữa là được thọ giáo dưới sự hướng dẫn rất tận tình của Ân Sư Pauline Atherton [2] (về sau, khi đã lập gia đình với Giáo Sư John Cochrane, bà đổi tên thành Pauline Atherton Cochrane).  Tôi đã học với Ân Sư tất cả 3 giáo trình (trong tổng số 12 giáo trình cần thiết để lấy bằng cao học):

• LSC 503: Organization of Information Resources

• LSC 630: Advanced Topics in Organization of Information Resources

• LSC 999: Readings and Research in Library Science

Giáo Sư Pauline Atherton Cochrane chụp năm 2011

Hội Thư Viện Việt Nam

Sau khi về nước, không biết vì \ý do gì, Giáo Sư Trần Văn Tấn đã không chịu thi hành các điều đã ký kết trong hợp đổng với USAID, cụ thể là không nhận tôi về ĐHSPSG và không thành lập BTVH.   Nhiều người cho rằng vì ông là người được Pháp đào tạo (ông đậu Tiến Sĩ Toán tại Pháp) nên không thích những người được Mỹ đào tạo tại Mỹ.  Tôi nghĩ cách giải thích đó không đúng vì 2 lý do sau đây: 1) ĐHSPSG lúc đó đã và đang sử dụng rất nhiều giáo sư có bằng PhD của Hoa Kỳ; và, 2) Ông đã bổ nhiệm tôi làm Thư Viện Trưởng cho ĐHSPSG vào đầu năm 1975 sau khi tôi đã giúp ông đắc cử chức vụ Phó Chủ Tịch Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục Đặc Trách Giáo Dục   Chính vì sự nhỏ nhen, ích kỷ và thiển cận đó, ông đã làm cho Trường ĐHSPSG mất cơ hội thành lập BTVH đầu tiên cho VNCH.  Phần tôi thì vẫn tiếp tục trông coi cái thư viện nhỏ bé của Trường KMTĐ.

Đầu năm 1974, tôi đã ra ứng cử và đã đắc cử chức vụ Chủ Tịch Hội Thư Việt Nam (HTVVN) với một Ban Chấp Hành như sau: [3]

Danh Sách Ban Chấp Hành HTVVN – Nhiệm Kỳ 1974

Đây là lần đầu tiên trong suốt lịch sử 15 năm của Hội, HTVVN đã có được một Ban Chấp Hành gồm có nhiều hội viên trẻ tuồi (chỉ trên dưới 30 tuổi thôi), lại có khả năng chuyên môn cao, tốt nghiệp từ các trường thư viện học của Hoa Kỳ và Úc Châu.  Ban Chấp Hành đã đề ra một chương trình hoạt động rất tích cực gồm các dự án như sau: [4]

• Xuất bản Thư Viện Tập San (TVTS)như một quý san, ba tháng ra một số, một năm đủ 4 số; đồng thời cũng xuất bản tờ Bản Ti (BT), mỗi tháng ra một số, giữa các số của TVTS

• Tổ chức 2 Khóa Huấn Luyện Căn Bản Thư Viện Học dành cho hội viên

• Tổ chức một Đại Hội Hè để thảo luận một số vấn đề chuyên môn và nội bộ của Hội

• Chấn chỉnh và kiện toàn tình trạng hội viên của Hội

• Ấn hành một số tài liệu chuyên môn

Sau đó, với tư cách Chủ Tịch HTVVN, vị Chủ Tịch đầu tiên của Hội được đào tại chính quy và tốt nghiệp với bằng MLS tại một trường đại học về ngành thư viện của Hoa Kỳ, tôi đã đích thân đi gặp ông Julio Andrews, Chủ Tịch Cơ quan Văn Hóa Á Châu (President, The Asia Foundation) để trình bày chương trình hoat động của Hõi và xin tài trợ.  Ông Andrews đã tiếp tôi rất niềm nở và đồng ý tài trợ tất cả các dự án, nếu tôi nhớ không lâm thi số tiền trợ cấp này lên đến trên 2 triệu đồng, một số tiền rất lớn vào thời gian đó.

Nhờ vậy, HTVVN đã thực hiện thành công tốt đẹp tất cả các dụ án công tác đã đề ra.  Hai Khóa huấn luyện đã thành công mỹ mãn. Các Lễ Khai Giảng và Lễ Bế Giảng đã được tổ chức rất long trọng tại Giảng Đường 19 của Viện Đại Học Vạn Hanh dưới sự đồng chủ tọa của Thượng Tọa Thích Mãn Giác, Phó Viện Trưởng, Viện Đại Hoc Vạn Hanh, và Giáo Sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa:

Giáo sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa, đọc diễn văn tại Lễ Khai Giảng Khóa Huấn Luyện

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, trao Chứng Chỉ Tốt Nghiệp cho Học viên Khóa Huấn Luyện

Tiệc trà sau Lễ Bế Giảng Khóa Huấn Luyện tại Câu Lạc Bộ của Viện Đại Học Vạn Hạnh

Tôi đã gởi thiệp mời đến tất cả các hội đoàn văn hóa tư tại thủ đô Sài Gon đến dự các Lễ Khai Giảng và các Lễ Bế Giảng đó.  Nhờ vậy, vị thế của HTVVN đã được nâng cao lên rất nhiều trong cộng đồng các hội đoàn văn hóa tư tại thủ đô Sài Gòn.  Do đó, với tư cách Chủ Tịch HTVVN, tôi đã được các hội đoàn văn hóa tư bầu vào Hội Đồng

Văn Hóa Giáo Dục do chính Phó Tổng Thống VNCH (lúc đó là ông Trần Văn Hương) làm Chủ Tịch.

Ban Thư Viện Học

Chứng kiến tận mắt khả năng chuyên môn cao cũng như tinh thần họat động bất vụ lợi, hoàn toàn thích hợp với đường lối giáo dục của Viện Đại Học Vạn Hạnh, Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viên Trưởng, Viện Đại Học Vạn Hạnh, đã quyết định thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH) cho Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, và cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên. 

BTVH đã khai giảng Học Kỳ đầu tiên với 70 sinh viên vào đầu năm học 1974-1975 với các giáo trình như sau:[5]

Học Kỳ 1:

• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I

• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện

• Ông Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu

• Ông Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện

Học Kỳ 2 được khai giảng vào đầu tháng 3-1975 với các giáo trình như sau:

Học Kỳ 2:

• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II

• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn

• Ông Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát

• Ông Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I

đã không bao giờ được hoàn tất vì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975 chấm dứt sự hiện hữu của VNCH.

Sau Khi Định Cư Tại Canada

Tại Montréal

Sau 6 năm sống dưới chế độ Cộng Sản, tháng 9-1981, tôi mang gia đình rời Việt Nam đi định cư tại Canada vì gia đình tôi may mắn được Anh Tư tôi, Tiến Sĩ Lâm Vĩnh-Tế, Trưởng Ban Hóa Học, CEGEP [6] Bois-de-Boulogne, Montréal bảo lãnh.  Chúng tôi đặt chân xuống phi trường Mirabel của Montréal vào buổi chiều ngày 23-9-1981.

Do chủ trương kỳ thị tiếng Anh và người Mỹ của người dân và Chính phủ Québec, tôi đã không tài nào tìm được một công việc làm chuyên môn về thư viện, và tôi phải chấp nhận làm lao động khuân vác trong một kho hàng, làm ca đêm, từ 4 giờ chiều cho đến 12 giờ khuya.  Nhiều đêm, lúc xong việc, đứng đón xe buýt trong cái lạnh kinh khủng của Mùa Đông Canada, tôi đã không cầm được nước mắt vì quá tủi thân: đang là một giáo sư đại học tai Việt Nam, tôi đã rơi xuống nấc thang tận cùng của xã hội tại Canada là làm một anh cu-li.

Trong thời gian này, niềm an ủi và động viên lớn nhứt đối với tôi là sự ưu ái của Ân Sư Pauline Atherton. Chỉ độ 2 tuần lễ sau khi tôi đến Montréal, Bà đã điện thoại sang thăm tôi, và cho biết Bà đã đóng tiền cho tôi đi học 1 giáo trình về Biên Mục Tự Động Hóa (Computerized Cataloguing) tai Đại Học McGill ở Montréal.  Thế là tôi phải cố gắng hết sức để làm hai công việc nặng nhọc cùng một lúc: 1) Ban ngày thì theo học một giáo trình ở bậc cao học; và 2) Ban đêm thì làm lao đông khuân vác trong một kho hàng

Tại Ottawa

Đầu tháng 4-1982, tôi tìm được một công việc làm hợp đồng (contract job) trong môt năm (đúng 12 tháng, từ ngày 1-4-1982 đến hết ngày 31-3-1983) tại Thư Viện của Bộ Canh Nông ở thủ đô Ottawa.

Công việc làm là chuyển đổi các thẻ thư mục đánh máy (typed catalog cards) sang dạng ký lục thư tịch điện tử (electronic bibliographic records) của bộ sựu tập tạp chí rất lớn, gồm 30.000 nhan đề, của thư viện Bộ Canh Nông.  Đây là một dự án công tác mà Bộ Canh Nông đã lên kế hoạch sẽ thực hiện trong 5 năm, mỗi năm 6.000 nhan đề, vị chi mỗi tháng là 500 nhan đề.  Khi tôi nhận việc thì đó là bắt đầu cho năm thứ ba.  Tôi yên tâm làm việc vì cứ nghĩ là sẽ còn có thể ký hợp đồng cho thêm hai năm nữa.  Nhưng mới làm chưa đến nửa năm thì Bộ Canh Nông bị cắt ngân sách và quyết định sẽ chấm dứt dự án vào cuối năm đó.   Thế là tôi lại phải lo tìm một công việc khác.  Và trên thực tế, tôi đã làm thêm mấy hợp đồng ngắn hạn khác, khi thì 6 tháng, khi thì 3 tháng, thậm chí có một lần chỉ có 1 tháng thôi, cho đến khi tôi đươc việc làm tại một cơ quan liên bang có tên là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS) = Centre canadien d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST) vào tháng 8-1984.

Tại Hamilton

 CCOHS, có trụ sở tại Thành phố Hamilton, thuộc tỉnh bang Ontario, chuyên về thông tin an toàn lao động.  Tôi đã làm việc tại đây trong 8 năm (1984-1992), và lần lượt giữ các chức vụ như sau:

• Inventory Cataloguer: 1984-1985

• Manager, Online Catalogue: 1985-1986

• Manager, Database Development Department: 1986-1988

• Manager, Database and Information Resource Development Department: 1988-1992

Tôi rất yên tâm và làm việc thật tốt, cứ nghĩ là có thể làm cho đến ngày về hưu.  Nhưng thật đúng như Ông Bà mình thường khuyên con cháu: “Chuyên đới khó nói.  Ai mà biết trước được chuyện tương lai!”  CCOHS được thành lập trong thời gian cầm quyền của Đảng Tự Do (Liberal Party = Parti libéral) chủ trương ủng hộ giới công nhân.  Bây giờ Đảng Bảo Thủ (Conservative Party = Parti conservateur), ủng hộ phe chủ nhân, đã chiếm được chính quyền.  CCOHS trở thành cái gai trong mắt họ, và họ quyết tâm phá hoại CCOHS.  Chuyện đầu tiên họ làm là cách chức ngay lập tức Tiến Sĩ Gordon Atherley, President của CCOHS, một chuyên gia về an toàn lao động nổi tiếng cả thế giới.  Kế tiếp là các vị Giám Đốc (Directors), và sau cùng là tất cả các Trưởng Ban (Managers). Tôi là Manager, Database and Information Resource Development Department bị cho nghỉ việc vào ngày 30-9-1992.

Sau khi mất việc tại CCOHS, tôi đã phải trải qua 5 năm trời lận đận, làm những công việc hợp đồng ngắn hạn tại Toronto, cho đến khi tìm đươc việc làm ổn định tại Trường Đại Học Saskatchewan, tại thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan, trong Vung Đại Bình Nguyên của Canada (Canada’s Grand Prairie).  

Tại Đại Học Saskatchewan: Hết Cơn Bỉ Cực Đến Hồi Thới Lai

Vào Biên Chế Thường Trực

Đầu tháng 9-1997, tôi bắt đầu nhâm chức Trưởng Ban Biên Mục (Head, Cataloging Department) của Thư Viện, Viện Đai Học Saskatchewan (Saskatchewan University Library).

Trong văn thư nhận tôi, Đại Học có ghi rõ câp bậc của tôi là Librarian 3 và thời gian thử thách (probation period) là 3 năm.  Trong thời gian 3 năm thử thách đó, tôi đã cố gắng làm thật tối nhiệm vụ của mình, và, cụ thể, là tôi đã thực hiện thành công mỹ mản tất cả 3 dự án công tác đã đề ra như sau:

• Cải thiện OPAC (Online Public Access Catalog) của thư viện

• Xử lý tốt dịch vu tạp chí điện tử của thư viện

• Huấn luyện về biên mục cho nhân viên trung cấp của thư viện

Vì vậy, này 1-7-2000, tôi được Đại Học chính thức nhận tôi vào biên chế thường trực như ghi rõ trong văn thư sau đây của Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ (Vice-President, Academic):

“The University Review Committee has concluded its consideration of recommendations for tenure.  I am pleased to advise you that the Committee voted to recommend to the Board of Governors that you be granted permanent status effective 1 July 2000.

The award of tenure is an extremely important step for both you and the university.  In addition to being an important stage in your own career development, the awarding of tenure represents the University’s long-term commitment to you in recognition of the satisfactory performance of your duties during your first years at the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học đã xem xét khuyến cáo cho ông vào biên chế thường trực và đã có kết luận.  Tôi rất vui mừng thông báo cho ông là Ủy Ban đã bỏ phiếu tán thành và sẽ khuyến cáo lên Hội Đồng Quản Trị của Viện Đại Học để ông được vào biên chế thường trực kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2000.  Việc ban tặng quy chế thường trực là một bước tiến vô cùng quan trọng đối với ông cũng như đối với Viên Đại Học.  Ngoài việc thể hiện một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của ông, việc ban tặng đó còn thể hiện sự cam kết lâu dài của Viện Đại Học đối với ông qua việc công nhận ông đã công tác tốt trong những năm đầu tiên tại Đại Học Saskatchewan,”)

Thăng Cấp

Một vài tuần lễ sau khi vào biên chế chính thức, tôi được Ủy Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC) thăng cấp lên làm Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division) phụ trách cả 2 Ban: Ban Biên Mục (mà tôi đang làm Trưởng Ban) và Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department) có nhiệm vụ mua sắm sách báo cho thư viện và trao đổi sách báo với các thư viện bạn.  Và với chức vụ mới này, tôi cũng đương nhiên trở thành một thành viên thường trực của LMC luôn.

Sau hai năm làm việc thật tốt trong chức vụ Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật của Thư Viện, tôi cũng đã được Hội Đồng Quản Trị (Board of Directors) của Đại Học thăng cấp lên Librarian 4 (cấp bậc cao nhứt của các quản thủ thư viện đại học tại Bắc Mỹ):

“On behalf of the University Review Committee, I am pleased to inform you that the Committee has recommended to the Board of Governors that you be promoted to the rank of Librarian IV effective July 1, 2002.  Congratulations!  You should receive a letter from the Board of Governors later this month.

The documentation provided supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date.  Our recommendation to the Board of Governors is a vote of confidence in you as a senior member of the university community and in your continuing contribution to the academic life and vitality of the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thay mặt Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học, tôi vui mừng báo tin cho ông là Ủy Ban đã khuyến cáo với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học để ông được thăng cấp lên Quản Thủ Thư Viện Bậc IV kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2002.  Xin chúc mừng ông!  Ông sẽ nhận được văn thư của Hội Đồng Quản Trị vào cuối tháng này.  Hồ sơ đã được đệ trình để hỗ trợ cho trường hợp của ông đã chứng minh rằng các đồng nghiệp của ông tại trường cũng như từ khắp Canada, và cà quốc tế, đã công nhận những thành quả mà ông đã đạt được cho đến ngày hôm nay.  Khuyến cáo của chúng tôi với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học là một lá phiếu xác nhận sự tin tưởng của chúng tôi đối với ông với tư cách là một thành viên cao cấp của cộng đồng đại học, và đối với sự tiếp tục đóng góp của ông cho sự nghiệp và sức sống của Đại Học Saskatchewan.”)

Nghỉ Phép Đi Làm Nghiên Cứu (Sabbatical Leave)

Trường Đại Học Saskatchewan, cũng như các đai học khác tại Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Cnada), có quy chế cho các giáo sư được nghỉ phép để đi làm nghiên cứu (Sabbatical Leave): làm 3 năm thì được đi 6 tháng và hưởng 100% lương, làm 6 năm thì được đi trọn 1 năm, 12 tháng và hưởng 80% lương.  Trường Đại Học Saskatchewan lại có thêm một quy chế đặc biệt là xếp các quản thủ thư viện vào chung một nghiệp đoàn với giáo sư, vì, vì vây, các quản thủ thư viện cũng được đi Sabbatical Leave như các giáo sư.

Năm 2003, tôi đã đủ điều kiện để được nghỉ phép Sabbatical Leave.  Tôi làm đơn xin nghỉ Sabbatical Leave và được chấp thuận:[7]

Vào ngày 28-10-2002, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến sĩ Mark Evered, Vice-Provost, và cũng là Chủ Tịch của Ủy Ban Nghỉ Phép Đi Làm Nghiên Cứu (Sabbatical Leave Committee), thông báo là Ủy Ban đã chấp thuận cho tôi được nghỉ phép. 

Trong đơn xin nghỉ Sabbatical Leave, tôi đã ghi rõ là trong thời gian nghỉ phép, tôi sẽ thực hiện 2 dự án nghiên cứu như sau:

• Dự án thứ nhứt: làm một cuộc nghiên cứu về vấn đề “Kiểm Tra Phẩm Chất trong Công Tác Biên Mục Tại Ngoại tại Các Thư Viện Đại Học Của Bắc Mỹ.” 

• Dự án thứ nhì: thực hiện cho Thư Viện của Đại Học Saskatchewan một “Cơ Sở Dữ Liệu Trực Tuyến      Trên Web Các Tài Liệu Đã Giải Mật Trong Khoảng Thời Gian 1975-2000 Của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ Về Chiến Tranh Việt Nam.”

Và tôi đã thực sự hoàn tất 2 dự án nghiên cứu nêu trên.  Sau đó, dựa trên kết quả của 2 nghiên cứu đó, tôi đã viết thành 2 bài báo được đăng trong 2 tạp chí chuyên môn của Hoa Kỳ như sau:

• Quality control issues in outsourcing cataloging in United States and Canadian academic libraries, Cataloging & classification quarterly, vol. 40, issue 1 (2005), pp. 101-122.

• A Web-based online database of CIA declassified CIA documents on the Vietnam War, Online, vol. 28, no. 4 (July-August 2004).

Sau Sabbatical Leave, tôi trở về trường và thôi không giữ các chức vụ chỉ huy nữa, chỉ làm công tác chuyên môn với chức vụ Biên Mục Viên Cao cấp (Senior Original Cataloguer), phụ trách công tác biên mục nguyên thủy (Original Cataloguing) [8] cho đến lúc nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006.

Thay Lời Kết:

Nhìn lại cuộc đời hơn 80 năm đầy thử thách, biến động và thăng trầm của bản thân, tôi không tránh khỏi một phần nào hãnh diện về những thành tưu tương đối đáng kể trong vai trò một giáo sư trung học và một quản thủ thư viện.  Đồng thời, tôi cũng nhận ra rât rõ ràng là sở dỉ tôi đã đạt được những thành tựu đáng kể đó là vì tôi đã được Ơn Trên sắp xếp và ban cho những may mắn lớn lao và quý báu.

GHI CHÚ:

1. Lâm Vĩnh-Thế.  Một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://petruskyaus.net/mot-nga-re-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-the/  

2. Pauline Atherton Cochrane, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Pauline_Atherton_Cochrane  

3. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, tr. 50.

4. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 52.

5. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 62.

6. CEGEP là chữ viết tắt của Centre d’enseignement général et professionnel, có nghĩa là Trung Tâm Giáo Dục Tổng Quát và Chuyên Nghiệp, một hình thức của đại học cộng đống (community college) chỉ có tại tỉnh bang Québec của Canada.

7. Lâm Vinh-Thế.  Tròn nhiệm vụ … , sđd, tr. 141

8. Công tác Biên Mục có 2 cấp: a) Biên mục Nguyên Thủy (Original Cataloging) là loại công tác cao cấp, thực hiện các thẻ biên mục nguên thủy (original cataloging cards) cho các tài liệu do các Quản Thủ Thư Viện (Librarians) có băng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) thực hiện; và, b) Biên Mục Sao Chép (Copy Cataloging) là loại công tác trung cấp, thực hiện các thẻ thư mục sao chép (copy cataloging cards) tử các thẻ thư mục nguyên thủy đã do một thư viện khác thực hiện từ trước, và công tác này được thực hiên bởi các nhân viện thư viện trung cấp (Library Technicians).