8
VỀ ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC VIỆT
♦
Con người buổi sơ khai đứng trước thiên nhiên bao la hùng vĩ như trời đất núi sông rừng biển, kể cả hang động âm u, cây cổ thụ um tùm, tảng đá lớn có hình thù kì dị v.v… ắt cảm thấy mình bé nhỏ yếu ớt. Họ sợ hãi và càng kinh hoàng khi bất chợt chứng kiến những hiện tượng như biểu lộ cơn thịnh nộ của thiên nhiên: lúc thì mưa gào gió rít, cây cối ngả nghiêng gẫy đồ, sấm sét như trời long đất lở, rồi nước lụt tràn ngập hết cả, lúc thì núi phun lửa đốt cháy hết cả, hoặc đất động như làm sụp đổ tất cả.
Họ thấy cần phải tìm đến những thế lực phi thường có thể che chở họ, và nghĩ rằng chính trong những cảnh tượng mà họ nhìn thấy tiềm ẩn những thế lực ấy. Và việc con người phải làm để được che chở, hoăc ít nhất là được để yên, không bị làm hại, là bày tỏ sự khuất phục và lòng tôn kính của mình đối với các thế lực ấy: ý niệm về các vị thần linh ngự trị trong thiên nhiên xuất hiện cùng với những nghi thức lễ bái cầu đảo ngày thêm phức tạp.
Vậy khởi điểm của tín ngưỡng là niềm tin của con người vào các thế lực siêu phàm tiềm ẩn trong thiên nhiên có thể tác động vào đời sống của mình, từ đó con người nghĩ ra những hình thức thờ phụng cúng bái để cầu xin các thế lực ấy phù hộ độ trì cho mình trong mọi hoàn cảnh của đời sống: chẳng hạn đi rừng thì được bình yên, săn được nhiều thú, đi biển thì gió lặng sóng êm, bắt được nhiều cá, cấy lúa thì mưa thuận gió hoà để được mùa v.v… Tôn giáo bắt đầu xuất hiện.
Để được an toàn, con người còn cho rằng mình là dòng dõi của một linh vật; từ đó có tục thờ vật tổ. Vậy tín ngưỡng đầu tiên của con người là tự nhiên đa thần và hình thức tôn giáo đầu tiên là bái vật.
Rồi hiện tượng chết cũng là một bí mật đối với con người. Sau khi chết, thân xác một con người bất động, nằm đó, cứng đơ, giá ngắt, da xám xịt, mắt nhắm nghiền, hoặc có mở thì cũng hết cái tinh anh (cái thần) rồi. Người sống phải đem xác ấy đi chôn vì không chịu nổi sự thối nát, dù đó là xác người thân như cha mẹ, vợ chồng, con cái… Vậy sau cái chết, cái phần khiến con người hoạt động lúc sống đi đâu mất? Ước muốn tồn tại vĩnh cửu, tình thương nỗi nhớ đối với người thân đã chết khiến con người nghĩ rằng chết không phải là hết hẳn mà chỉ là lúc cái phần tinh anh nơi con người từ bỏ các thân xác ô uế nhiều hệ luỵ này để đi đến một thế giới thanh tịnh hơn và ở đó mãi mãi.
Thác là thể phách, còn là tinh anh. (Truyện Kiều)
Sau khi chết, xác và vía (phách) (1) sẽ tan rã, mất đi, nhưng phần tinh anh vẫn tồn tại: đó là phần hồn, còn gọi là “vong hồn”, “vong linh”, “linh hồn” hay gọi tắt là “vong”. Vậy nếu có thế giới của các vị thần linh thì cũng có thế giới của hồn người đã chết (2). Vả lại người nào lúc sống mà có cuộc đời thanh cao, giúp ích cho đồng loại thì lúc chết cũng thành thần, hồn được về thế giới của các vị thần linh.
Nói đến linh thiêng là nói đến khả năng tác động của các thế giới siêu nhiên vào đời sống con người, đồng thời nói đến sự giao tiếp giữa thế giới con người với thế giới siêu nhiên. Con người nghĩ rằng nếu có thể cầu đảo thần linh phù hộ độ trì cho mình thì cũng có thể làm như thế đối với vong linh người thân của mình. Cũng từ đó một phần mà sinh ra tục làm đám tang long trọng cho người chết, xây phần mộ to tát kĩ lưỡng, rồi sau đó thờ cúng lâu dài. Ở nhiều xã hội Á Đông trong đó có Việt Nam, đây vừa là tín ngưỡng, vừa là tập tục, vừa là luân lí lễ giáo.
Riêng về mặt tín ngưỡng, do tin rằng con người sau khi chết, hồn còn lưu luyến với người thân ở thế giới này nên còn đi đi về về để phù hộ cho họ, thì ngược lại người sống cũng phải làm đầy đủ bổn phận của mình đối với người đã khuất là thờ cúng, chăm sóc mộ phần… Còn nếu thiếu sót bổn phận, người sống có thể bị ảnh hưởng xấu như bệnh tật, tai hoạ, làm ăn thất bại…
Vậy tín ngưỡng rồi sau đó tôn giáo là các hình thức nghi lễ thờ phụng cúng bái hướng về một đối tượng siêu việt nào đó lập căn trên niềm tin rằng có các thế lực siêu nhiên, có linh hồn người chết tồn tại ở thế giới khác, nhưng lại liên hệ mật thiết với người sống ở thế giới này bằng khả năng tác động vào đời sống con người, và con người có thể cầu xin sự tác động thuận lợi cho mình bằng sự thành tâm thờ phụng cúng bái.
A. Về tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam
Tín ngưỡng buổi đầu tại Việt Nam chắc cũng trải qua quá trình như trên, nhưng khi các tôn giáo từ ngoài du nhập vào thì có sự hoà hợp phát triển, sự pha trộn biến đổi và còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, xã hội của từng thời kì.
Học già Hoàng Xuân Hãn trong cuốn “Lý Thường Kiệt” mở đầu chương XIV “Đạo Phật đời Lý” nói về “Tín ngưỡng ở Giao châu” có cho biết quan điềm là “Trước khi các tôn giáo ở ngoài tràn vào, người Việt chắc đã tôn sùng những mãnh lực thiên nhiên như núi sông sấm chớp”.
Về tục thờ vật tổ, có lẽ lúc đầu một vài bộ lạc của tổ tiên ta tự cho mình là dòng dõi của một loài chim thần. Trang phục trong những ngày hội lễ hoặc trong nghi thức tín ngưỡng khắc hoạ trên trống đồng cho thấy người hoá trang thành chim hoặc có hình chim trên đầu. Đất nước ở sát biển, trong đất liền lại cũng có nhiều sông suối hồ đầm; nghề chài lưới khiến người ta phải sống nhiều trên sông nước và chắc cũng có nhiều người chết vì đi sông đi biển. Sự sợ hãi thuỷ thần là điều tự nhiên. Một số bộ lạc khác cư trú gần biển và sống nhờ biển tất phải nhận mình là dòng dõi thuỷ thần mà tượng trưng là thuồng luồng hay giao long (cá sấu được tưởng tượng thêm ra cho có vẻ kì vĩ).
Việc sử chép vua Hùng dạy dân xâm vào mình hình giao long để tránh bị hại khi đi biển (3) có lẽ là di tích thờ giao long làm vật tổ của một trong những bộ lạc quan trọng sống gần biển đã kết hợp thành nước Văn Lang. Từ thuồng luồng, giao long tiến đến “Rồng” có hình tượng đẹp đẽ hoàn chỉnh và có địa vị chúa tể các loài thuỷ tộc (tức Long vương), lại có khả năng ở cả dưới nước lẫn bay lên trời (sự tích tên thành Thăng Long) làm mưa làm gió, một hình tượng mà người dân chất phác thời xưa, sống theo nông nghiệp thô sơ trông cậy nhiều vào thời tiết, rất mong mỏi xuất hiện mỗi khi cần nước làm mùa (hiện tượng rồng từ trên trời thả vòi xuống biển hút nước làm mưa, ngày nay là cơn lốc xoáy nếu mạnh có thể tàn phá những nơi nó đi qua).
Từ Long vương tới Lạc Long quân tức rồng được nhân hoá. Đất nước cũng có nhiều núi cao, rừng sâu. Núi cao cảnh đẹp ắt có tiên ở (4). Sự kết hợp giữa bộ lạc sống gần biển thờ rồng làm vật tổ với bộ lạc là dòng dõi tiên ở miền núi nẩy sinh ra thần thoại Lạc Long quân – Âu Cơ đem lại niềm tự hào cho con cháu Rồng Tiên (5).
Lúc đầu có lẽ người ta tin rằng đấng “vật tổ” của mình linh thiêng bất tử và ở một thế giới siêu phàm nào đó, song vẫn giữ liên lạc với con cháu và có quyền năng cứu giúp chúng khi cần. Như Lạc Long quân xuất hiện trừ Ngư tinh và gọi bộ hạ thuỷ phủ dâng nước trừ Hồ tinh vì các loài yêu quái này làm hại dân. Đến Kinh Dương vương còn xuất hiện đánh thắng Mộc tinh. Tới đời Hùng vương thứ ba, giặc Ân sang xâm lăng, nhà vua cầu Long quân tới giúp, Long quân hiện ra thành ông già báo trước sẽ có người anh hùng ra đời dẹp giặc (tức thánh Dóng) (6).
Lâu dần thì các vị thần khác xuất hiện thay thế Long quân. Ngay thời cổ người ta còn thờ thần mặt trời (7). Ngoài ra còn một số loài động vật được coi là linh thiêng vì có liên hệ tới quyền phép nhiệm màu. Thí dụ khi cóc nghiến răng (kêu) thì sẽ có mưa (8), rùa khiến người ta nhớ tới thần Kim Qui giúp An Dương vương xây thành Cổ Loa và chế nỏ thần chống giặc ngoại xâm Triệu Đà.
Trong thời kì mà diện tích rừng hoang còn nhiều, người dân sống bằng nghề đi rừng (kiếm củi, lấy gỗ, săn bắn), hẳn có nhiều người bị hổ vồ; hoặc đàn gia súc như trâu bò ngựa dê lợn bị loài thú dữ này bắt ăn thịt, nên một mặt người ta săn bẫy hổ để tự vệ và bảo vệ đàn gia súc, nhưng mặt khác người ta lại thờ hổ như một vị thần để tránh bớt tai hoạ (9). Thời xưa người ta ─ nhất là dân mạn ngược ─ dùng những từ tỏ vẻ kính cẩn sợ hãi đối với hổ như “ông hùm”, “ông cọp”, “ông kễnh”, “ông ba mươi”, và cho đến mãi sau này người ta vẫn còn thờ hình tượng hổ trắng, hổ đen, hổ vàng ở miếu riêng, hoặc đắp vào các bức tường bình phong trước cổng đình, đền, miếu, phủ, coi hổ đóng vai ông tướng dữ canh phòng các nơi ấy để răn đe kẻ gian phi. Thậm chí hổ chết rồi, người ta còn dùng răng, vuốt như một thứ bùa hộ mệnh (dùng bạc bịt phần trên và đánh dây bạc đeo vào cổ) cho trẻ con để đuổi tà ma quỉ quái khỏi theo quấy nhiễu làm chúng đau ốm.
Con người cổ thời tâm hồn chất phác, bất chợt gặp những cảnh vật kì vĩ trong thiên nhiên, so sánh thì thấy mình quá nhỏ bé yếu ớt nên đem lòng sợ hãi và tưởng tượng thêm ra nhiều sự quái đản. Loài cá lớn ngoài biển, thuyền nhỏ đụng phải thì đắm, người đi trên thuyền mất tích: đó là loài ngư tinh. Con chồn, con cáo tinh khôn sống trong cái hang sâu thẳm cũng có thể trở thành con hồ li tinh có tới chín cái đuôi cho thêm phần li kì khủng khiếp, loài trăn lớn có thể cuốn nuốt người đi rừng và bắt nuốt loài gia súc nuôi ngoài cánh đồng bìa rừng, sống lâu năm cũng thành mãng xà tinh (chằn tinh), loài chim lớn thành đại bàng tinh (10), thậm chí cây cổ thụ sum suê cũng có thể thành mộc tinh haị người hại vật. Thần cây đa, ma cây đề có mặt khắp nơi.
Bầu không khí thần bí còn ngự trị trong đời sống con người lâu dài về sau cho đến khi con người tiến bộ đủ để giải thích những hiện tượng thiên nhiên bằng kiến thức khoa học thì tín ngưỡng cùng với hệ thống triết học phát triển theo một hướng mới. Ở Việt Nam, do chế độ quân chủ chuyên chế và nền kinh tế nông nghiệp thô sơ kéo dài thì điều này chỉ xẩy đến khi ảnh hưởng Tây phương theo chân người Pháp xâm lược tràn vào. Nhưng kiến thức mới cũng chỉ có ở thiểu số trí thức thành thị, còn đại đa số quần chúng nông thôn thì vẫn chìm trong đời sống lạc hậu với nhiều mê tín dị đoan mà chúng tôi sẽ bàn đến sau này.
B. Về sự du nhập tam giáo (Phật, Lão, Nho) từ Ấn Độ và Trung Hoa vào Việt Nam
- Tính chất và kết quả của sự du nhập Phật giáo
Phật giáo do có nhiều yếu tố thích hợp và tương ứng nên đã có ảnh hưởng về chiều sâu trong tậm hồn dân tộc Việt. Do đó trong đoạn này ta phải xét kĩ hơn Lão và Nho giáo.
Do vị trí đặc biệt thuận lợi, đất nước Việt quả là cái bao lơn trông ra Thái Bình dương, lại ở vào quãng giữa con đường biển từ Ấn Độ sang Trung Hoa, cho nên ngay từ thời kì sớm sủa của lịch sử dân tộc ta, thuyền buôn của nước ngoài trên đường giao thương đã ghé lại trao đổi sản vật với dân ta (11). Trong thời gian ghé bến dừng chân của các thương nhân ấy, đương nhiên nếp sống tín ngưỡng của những người khách lạ từ phương xa tới được dân bản địa chú ý, lâu dần thấy hay thì theo. Vả lại người nước ngoài cũng tự nhiên có khuynh hướng muốn truyền bá văn hoá tín ngưỡng của họ cho dân địa phương để gây cảm tình, gây ảnh hưởng hầu được dễ dàng trong việc buôn bán.
Đó là trường hợp Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Việt Nam. Theo Nguyễn Lang trong “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” thì ngay từ đầu kỉ nguyên Tây lịch, các thương gia Ấn Độ đã đi thuyền tới Giao Chỉ (lúc ấy thuộc Hán) theo gió mùa tây nam. Họ phải ở lại đây đến năm tới, chờ gió mùa đông bắc để trở về. Trong thời gian này họ thờ Phật, đốt trầm đọc kinh và cúng dường những tháp Phật nho nhỏ mà họ mang theo. Người Giao Chỉ áp dụng những điều hay về canh nông, y thuật do họ chỉ bày, cũng tỏ ra mến chuộng tôn giáo của giới khách buôn này.
Trên thương thuyền của họ, các thương gia Ấn Độ thường thờ đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara) và đức Bồ tát Quan Thế Âm (Avalokitesvara) được tin như các đấng che chở cho người đi biển được an lành. Đồng thời họ cũng thỉnh theo thuyền các vị tăng để hộ niệm. Các vị này thuộc khuynh hướng Phật giáo đại thừa lúc ấy đang hưng thịnh ở miền duyên hải đông nam Ấn Độ, cũng có ý muốn truyền đạo đến các nước xa xôi. Từ đó có trung tâm Phật giáo Luy Lâu (thủ phủ của Giao Chỉ lúc ấy thuộc Hán, sau này là địa phận phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Sau đó bằng tài liệu thích đáng và lập luận vững chắc, tác giả “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” chứng minh rằng:
- Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ đầu kỉ nguyên Tây lịch bằng đường biển, rồi từ đấy mới đi tiếp sang Trung Hoa cũng bằng đường biển. Mặc dầu từ Ấn Độ sang Trung Hoa có đường bộ ngắn hơn, song vào thời ấy đường thuỷ thuận tiện hơn hẳn (12).
- Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Việt Nam ngay từ buổi đầu là Phật giáo đại thừa. Kinh sách Phật đầu tiên được dịch từ tiếng phạn ra hán văn và được viết bằng hán văn là ở tại Giao Chỉ như kinh “Tứ Thập Nhị Chương” và cuốn “Lí Hoặc Luận” của Mâu Bác (13).
- Trong hai thế kỉ đầu, chắc là những điều sơ khởi của giáo lí và giáo pháp cơ bản như tam qui ngũ giới, bố thí, thuyết nhân quả, luân hồi, nghiệp báo được truyền bá và được đại chúng chấp nhận dễ dàng vì không có gì nghịch lại với tín ngưỡng và phong tục vốn có ở đây.
- Sang đến thế kỉ thứ ba thì Thiền học bắt đầu được hoằng dương cũng tại Giao Chỉ bởi Khương Tăng Hội, rồi từ Giao Chỉ, Khương Tăng Hội mới truyền sang Trung Hoa (14).
Sau đó là một thời gian kéo dài suốt thời kì Bắc thuộc Phật giáo tại Giao châu thịnh đạt với các vị tăng nổi tiếng để tên trong sử sách Trung Hoa như Nhật Nam tăng, Vô Ngại thượng nhân, Phụng Đình pháp sư. Duy Giám pháp sư, có vị được vua Đường mời vào cung giảng kinh, được các thi sĩ Trung Hoa thời ấy ca tụng trong thi phẩm của họ. Trong số các vị tăng Việt thời Bắc thuộc, có những vị sang tận Ấn Độ du học.
Như thế thì tại sao người ta lại thấy rằng có vẻ Phật giáo được truyền vào Việt Nam qua ngả Trung Hoa? Vì rõ ràng Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa. Đó là vì sau giai đoạn đầu tiên giáo lí và giáo pháp của đức Phật được truyền miệng và được thực hành bằng các nghi thức qui y, niệm Phật, cúng dường và bằng đời sống hành thiện (bố thí, trì giới), đến giai đoạn phát triển cần có kinh sách để tụng đọc thì dân Việt lại chưa có chữ viết, nên kinh sách Phật đã phải dịch từ chữ phạn ra chữ hán bởi các vị sư Ấn Độ, Trung Hoa và bởi chính các vị sư Việt nữa (15).
Về lâu dài, dĩ nhiên Phật giáo ở chính quốc được triều đình ủng hộ (nhà Hán và nhất là nhà Đường) thì phải hưng thịnh hơn ở thuộc địa với các vị tăng Ấn Độ sang Trung Hoa thuyết pháp, cùng với các vị tăng Trung Hoa (có vị sang Ấn Độ du học như sư Huyền Trang) dịch rừng kinh sách từ chữ phạn ra chữ hán với số lượng lớn được sao chép, in ra để đáp ứng nhu cầu của Phật tử và chùa chiến càng ngày càng tăng ở Trung Hoa.
Trong khi đó tại Giao châu Phật giáo phát triển tự phát trong dân chúng, còn chính quyền đô hộ thì mải lo bóc lột, đối phó với các cuộc nổi dậy nhiều hơn. Sau đó các vị tăng Ấn Độ và Trung Hoa lại từ Trung Hoa sang Giao châu thuyết pháp và lập nên các tông phái được truyền thừa lâu dài (16) và kinh sách đã được dịch sang hán văn cũng được đem từ Trung Hoa sang (17).
Kết quả là sau thời kì Bắc thuộc, chỉ các thiền phái truyền từ Trung quốc sang cùng với kinh sách chữ hán là tồn tại song song với chùa tháp bia được dựng nên trong thời độc lập, nhiều nhất là vào đời Lí, còn ảnh hưởng của Phật giáo trực tiếp truyền từ Ấn Độ sang thì hoà lẫn vào tín ngưỡng và tập tục dân gian.
Thời kì Phật giáo hưng thịnh có ảnh hưởng tới lãnh vực chính trị chúng tôi đã trình bày nhận xét về hai triều Lí, Trần vì dưới hai triều này Phật giáo được cả triều đình lẫn dân chúng sùng thượng, đã góp công lớn trong công cuộc xây dựng quốc gia lúc mới giành lại được độc lập; đồng thời Phật giáo cũng ảnh hưởng sâu đậm đến cả mọi mặt của sinh hoạt xã hội.
Hai triều Lí, Trần cộng lại kéo dài ngót bốn thế kỉ, dù sao cũng xa chúng ta hơn là hai triều Hậu Lê, Nguyễn với ngót năm thế kỉ gần đây. Thời kì này Phật giáo suy vi, song ta lại có thể nhìn thấy rõ hơn kết quả của sự lắng đọng của tư tưởng Phật vào tâm hồn dân tộc sau ngót hai ngàn năm du nhập vào đây, đã thể hiện như thế nào trong đời sống văn hoá xã hội nói chung hay đời sống tín ngưỡng nói riêng.
- Dưới mắt nhiều người, thiền môn là nơi thích hợp nhất với những con người bất hạnh đau khổ và người già cả. Thật thế, đối với những người đã đến thời kì tóc bạc răng long mắt mờ chân chậm, chẳng còn hưởng thụ được bao nhiêu thanh sắc, đối với những kẻ chiến bại trong cuộc đời, kể cả thất bại trong tình trường, những kẻ đã nếm trải quá nhiều mùi thế vị, thấy mình bất lực trước cuộc sống thì cảnh già lam thanh tịnh là thích hợp nhất để họ tìm nguồn an ủi, nơi nương tựa cho tâm hồn, vì chỉ có đến đó mọi tham dục mới có cơ lắng đọng, mọi đắng cay mới có thể tan biến, họ mới thấy lòng mình lâng lâng thoát tục.
Nói khác đi, vào thời kì đạo Phật suy vi, số người hiểu thấu giáo lí chân thực của đức Phật ít ỏi thì một số đông người Việt coi cửa thiền là chỗ nương thân của những kẻ chán đời, kể cả một số “trốn việc quan đi ở chùa” hay gái buôn hương bán phấn hết duyên về già đến đó để “tu” cho hết quãng đời còn lại, hoặc là chỗ tạm trú chân của những kẻ sa cơ lỡ vận ─ phụ nữ chiếm đa số ─ vì trong xã hội xưa, họ là giới yếu thế, hay gặp ngang trái trong tình trường, trong việc hôn nhân (18). Trong cuộc đời thực khi xưa không thiếu gì những trường hợp như Thuý Kiều khi gặp cảnh “giấm chua kia lại bằng ba lửa nồng” thì “rắp đem mệnh bạc nương nhờ cửa Không”, sau đó lại bị đẩy vào đời gặp bước đường cùng, gieo mình xuống sông Tiền Đường, được Giác Duyên vớt lên, lại thấy cảnh chùa là thân thuộc:
Mùi thiền đã bén muối dưa,
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.
Thế nhưng khi người cha mà nàng đã báo hiếu bằng cách hi sinh bán mình thuở trước lí luận một cách bất công:
Ông rằng: bỉ thử nhất thì,
Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền.
Phải điều cầu Phật, cầu Tiên,
Tình kia, hiếu nọ ai đền cho đây?
thì nàng lại đành:
Nghe lời, nàng phải chiều lòng,
Giã sư, giã cảnh, đều cùng bước ra.
Rồi đến lúc bị cả nhà ép tái hợp với người yêu cũ, Kiều cũng chỉ chống đối lấy lệ để cuối cùng chấp nhận cảnh:
Hoa soi ngọn đưốc, hồng chen bức là.
Cùng nhau giao bái một nhà,
Lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi,
Động phòng dìu dặt chén mồi…
Trường hợp Trần Kiều Liên trong truyện Phan Trần thì đúng là nhà chùa chỉ là nơi tạm trú cho nạn nhân chiến tranh mà thôi. Gặp cảnh bơ vơ vì loạn lạc thì cô tiểu thư nhan sắc cắt tóc đi tu để tránh con mắt nhòm ngó của thế nhân; nhưng nàng tốt số nên không qua được mắt xanh của chàng vị hôn phu có tương lài xán lạn, nên hết loạn rồi, nàng lại để tóc để… vu qui!
- Cửa chùa luôn luôn rộng mở để đón nhận tất cả, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, đó là quan niệm đúng đắn phổ biến về đạo Phật trong xã hội xưa. Cũng thế, của chùa do khách thập phương cúng dường thì cũng phải sẵn sàng bố thí cho kẻ khó từ thập phương tới.
- Hình ảnh Phật rất thân thương đối với người bình dân Việt thời xưa. Người bình dân quen gọi Phật là “Bụt” (19), “hiền như Bụt”, đó là ý nghĩ quen thuộc của người bình dân Việt về Phật, một hình ảnh rất thân thuộc thương mến như một người cha lành lúc nào cũng sẵn sàng an ủi vỗ về cứu giúp người lương thiện gặp hoạn nạn, kẻ cô đơn kém thế bị áp bức mà không hề đòi hỏi phải được thờ phụng cúng bái phiền toái rườm rà. Chỉ cần thành tâm, chỉ cần một lời kêu cầu cứu độ (lạy Trời lạy Phật hay niệm “nam mô Phật”), có khi mới chỉ có một lời than thở, một tiếng khóc là Bụt đã nghe thấy và xuất hiện để cứu giúp rồi (20).
Kho truyện cổ của dân tộc Việt cho thấy rõ đối với người bình dân, Phật là hiện thân của lí tưởng THIỆN và lòng từ bi tế độ tất cả chúng sinh, kể cả loài vật, của Ngài được họ cầu mong và tin tưởng như thế nào (21).
- Khổ hạnh, nhẫn nhục là hai đức tính tương hợp giữa Phật giáo và quảng đại quần chúng Việt. Theo giáo lí diệt dục, giới tăng đồ Phật giáo thường sống nếp sống khổ hạnh (ăn chay trường, mặc nâu sồng, làm việc nặng nhọc), nhất là vào thời kì Nho học độc tôn, họ bị giới nho sĩ hiển đạt miệt thị. Sự kiện này làm cho người bình dân cảm thấy sư sãi gần gũi với họ hơn vì cùng giới nghèo hèn kém thế:
Con vua thì lại làm vua,
Con nhà sãi chùa lại quét lá đa. (22)(ca dao)
Nhưng cửa chùa lại cũng sẵn sàng làm nơi nương tựa cho những kẻ quyền quí gặp cảnh thất thế sa cơ:
Bao giờ dân nổi can qua,
Con vua thất thế lại ra ở chùa. (ca dao)
Rõ ràng đức nhẫn nhục trong luân lí Phật giáo (nhẫn nhục ba-la-mật là một trong lục độ ba-la-mật) phù hợp với tính nhẫn nhục (một sự nhịn là chín sự lành) của người dân Việt thường bị cường quyền ngoại bang hay trong nước áp bức bóc lột, cho nên ở vào thời kì Phật giáo suy vi, những bậc chân tu đạo hạnh cao siêu, dẫu hiếm, vẫn được quần chúng tôn kính. Ngược lại những kẻ tu hành giả mạo, bôi nhọ đạo (sư hổ mang, khẩu Phật tâm xà, miệng nam mô bụng một bồ dao găm) cũng bị họ đả kích thẳng thừng (23).
Có thể tóm tắt tính chất và kết quả của sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam như sau:
- Phật giáo tới đất nước này rất sớm và phát triển trước cả ở Trung Hoa, do vị trí thuận lợi: ở quãng giữa con đường biển từ Ấn Độ sang Trung Hoa.
- Phật giáo tới đất nước này bằng con đường hoà bình: theo thuyền buôn chứ không theo thuyền chiến.
- Phật giáo với tinh thần dung thông vô ngại, được quần chúng tiếp nhận vì không có gì trái với tập tục tín ngưỡng vốn có của dân tộc mà còn hoà hợp và làm cho các tập tục tín ngưỡng ấy phong phú sâu sắc thêm.
Các lí thuyết chủ yếu của Phật giáo được dân ta tin và sống theo là:
- Thuyết luân hồi thật đáng tin như kinh nghiệm trong đời sống nông nghiệp của họ, nào sự tuần hoàn của các hiện tượng thiên nhiên (ngày đêm, tuần trăng, bốn mùa…) và sự quay vòng của đời sống thực vật thể hiện rõ ràng từ hạt thóc gieo xuống đất, nẩy ra cây lúa, rồi cây lúa trổ bông thành hạt thóc, cứ thế cho đến vô hạn. Thuyết này thoả mãn được ước vọng của con người về vĩnh cửu trước sự ngắn ngủi hạn hẹp của kiếp sống.
- Thuyết nhân quả và nghiệp báo cũng phù hợp với những sự kiện trong đời sống nông nghiệp, gieo nhân nào thì hái quả ấy. Nó cũng đáp ứng được lòng khát khao công lí, khuyến khích con người sống thiện: gieo nhân lành để được hưởng quả phúc, cùng răn đe kẻ ác: gieo nhân dữ sẽ phải lãnh quả hoạ.
Hai thuyết này giải thích được những sự nghịch lí thường thấy trong đời sống: kẻ ác sao vẫn được sung sướng trong khi người thiện lại hay bị khổ sở. Đó là do cái nhân ở kiếp trước tương ứng với cái quả ở kiếp này. Cả hai cùng có công dụng khuyến thiện rất lớn, vì nều không có những kiếp sau để có sự báo ứng tương xứng với những hành vi thiện ác ở kiếp này (24) thì cái chết là quá tàn nhẫn, làm cho kiếp sống trở nên vô nghĩa, con người chẳng cần sống thiện làm gì. Đức kiên trì nhẫn nhục ─ rất cần cho nếp sống đạo ─ không thể có được nếu thiếu niềm tin này.
2. Kết quả của sự du nhập Lão giáo
Lão giáo theo chân người Trung Hoa vào đất Việt hẳn là vào thời Bắc thuộc, đã là Lão giáo biến thể thành đạo tu tiên (Đạo giáo) để được trường sinh bất tử thịnh hành từ đời Tần (25). Thấp xuống nữa, Đạo giáo trở thành thứ tín ngưỡng với các pháp sư làm bùa phép trừ tà bắt quái để chữa bệnh, gọi gió cầu mưa để cứu hạn thì cũng tương tự như thứ tín ngưỡng bái vật đa thần của con người buổi ban sơ kính sợ thờ phụng các thế lực thiên nhiến (gió mưa sấm sét) như các vị thần linh có quyền năng ban phước giáng hoạ cho con người, nên cũng sớm hoà lẫn vào tín ngưỡng tập tục dân gian.
Đền Mẫu Đồng Đăng
Phải đợi đến thời kì độc lập, từ đời Trần trở đi, Nho học thịnh lên, giới nho sĩ không những có trình độ cao về Khổng học, còn đọc thêm bách gia chư tử của Trung Hoa, cũng như tiếp nhận ảnh hưởng của Lão, Trang qua thơ văn của các tác giả Trung Hoa như Đào Tiềm, Lí Bạch, Tô Đông Pha thì triết lí Lão Trang mới được thể hiện cao hơn trong nếp sống cũng như trong tác phẩm của giới văn nhân thi sĩ, cũng là nho sĩ Việt.
Kết quả là:
- Trong dân gian, Đạo giáo (tôn đức Thái Thượng Lão quân, tức Lão tử huyền thoại hoá làm giáo chủ) thành thứ tín ngưỡng của các thầy phù thuỷ (thầy pháp) làm bùa phép, điều khiển âm binh trừ tà chữa bệnh, có khi làm bùa ngải hại người (26), sớm hoà nhập vào tín ngưỡng vốn có cũa dân gian và là thành phần của mớ mê tín dị đoan (thí dụ ông đồng bà cốt) của dân ta.
- Trong giới nho sĩ học thức thì tư tưởng của Lão tử và Trang tử đưa đến chủ trương sống tự do phóng khoáng, biểu lộ thái độ yếm thế cầu nhàn thoát tục bằng cách coi rẻ danh lợi, xa lánh nơi phồn hoa đô hội, tìm đến cảnh đẹp thiên nhiên để di dưỡng tính tình. Bài thơ “Vịnh cảnh nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm sau đây có thể tiêu biểu cho khuynh hướng này:
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.
Ở đây giới nho sĩ Việt lại cũng mô phỏng giới nho sĩ ẩn dật Trung Hoa, nhất là khi họ gặp cảnh ngộ cá nhân hay thời thế bất như ý thì tư tưởng Lão Trang chính là lối thoát, là niềm an ủi như trường hợp Cao Bá Quát:
Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy,
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười.
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,
Tiêu khiển một vài chung lếu láo.
Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu,
Trầm tư bách kế bất như nhàn (27)…
(Uống rượu tiêu sầu)
Thế sự thăng trầm quân mạc vấn,
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu (28).
Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu,
Đem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hệt.
(. . .)
Gõ nhịp lấy đọc câu “Tương tiến tửu”
Quân bất kiến Hoàng hà chi thuỷ thiên thượng lai
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi (29).
Làm chi cho mệt một đời!/(Ngán đời)
3. Kết quả của sự du nhập Nho giáo
Trong các chương nói về các chế độ và tập tục xã hội, chúng tôi đã bàn đến Nho giáo như là một học thuyết chính trị và luân lí làm nền móng cho chế độ quân chủ chuyên chế đã ngự trị trên đất nước Việt gần mười thế kỉ của thời kì độc lập và thiết lập một trật tự tôn ti cho xã hội Việt từ trong gia đình ra đến phạm vi thôn xã, quốc gia. Chúng tôi cũng đề cập đến luân lí trung quân hẹp hòi như sự lợi dụng và bẻ cong chủ trương tôn quân của Khổng, Mạnh cùng với cái học quá thiên về từ chương khoa cử xa rời thực tế của giới nho sĩ khiến về cuối thời quân chủ (tức triều Nguyễn), Nho học trở nên cằn cỗi, không những hết khả năng trị quốc mà còn cản trở sự tiến hoá của dân tộc, đưa đến nạn mất nước.
Nhưng công bằng mà nói, không phải là Nho giáo không đem lại cho dân tộc ta những điều tốt đẹp về nhiều phương diện, nhất là về luân lí, xã hội. Trong gia đình, trật tự tôn ti của Nho giáo tạo nên được những bậc nghiêm phụ, từ mẫu, những bậc huynh trưởng đầy tinh thần trách nhiệm cũng như những người con hiếu, những người em đễ, những bậc tiết phụ rất cần thiết cả cho hạnh phúc gia đình lẫn cho sự ổn định của xã hội; nhất là giữ cho gia đình ─ nền tảng của xã hội ─ đứng vững khi xã hội gặp cơn khủng hoảng.
Trong phạm vi quốc gia, Nho giáo cũng đã tạo nên bao thế hệ nho sĩ có tinh thần trách nhiệm xã hội rất cao, nhiều bậc trung thần nghĩa sĩ khi cần sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa như Trần Bình Trọng, Đặng Dung, Nguyễn Biểu đời Trần. Ngay cả thời Nho học suy vi từ Lê mạt sang Nguyễn, vẫn có những Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản bình thản lấy cái chết để giữ vẹn tiết tháo, để chứng tỏ tinh thần “uy vũ bất năng khuất”.
Những bậc hiền thần đời Lí (thời Nho giáo chưa thịnh đạt bằng Phật giáo) như Lí Đạo Thành, Tô Hiến Thành, những bậc danh nho làm khuôn mẫu cho xã hội cuối đời Trần như Chu An và đám học trò cũng nổi danh như thầy là Phạm Sư Manh, Lê Quát; rồi vị khai quốc đại công thần Nguyễn Trãi đã giúp người anh hùng dân tộc Lê Lợi đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập cho đất nước, bậc thầy của vua Quang Trung là Nguyễn Thiếp (La Sơn phu tử) làm cố vấn cho vua trong việc trị nước mà không chịu nhận ơn vua lộc nước, ai bảo tất cả những người ấy không xuất thân từ lò giáo dục Nho giáo?
Sang đến triều Nguyễn, Nguyễn Công Trứ còn thắp sáng lên lần chót ngọn đuốc tinh thần “nhập thế hành đạo” của nho gia, thổi luồng sinh khí phục hồi nền luân lí hiếu trung và kích thích lòng hăm hở lập công danh đích thực do chân tài thực đức đem lại lợi ích lớn lao cho nhấn quần xã hội mà có, chứ không phải cái hư danh chỉ tồn tại nhất thời (như chức quyền, lợi danh ti tiện). Sau ông, đất nước Việt Nam bị cơn bão tố từ phương Tây thổi sang khiến trong khu vườn nho học, cây cối bị tróc gốc giập vùi. Lịch sử đã chuyển mình sang giai đoạn mới đầy thử thách cam go.
Về phương diện tín ngưỡng, Nho giáo với niềm tin “thiên nhân tương dữ” (30) và tinh thần thượng lể, đã qui định những khuôn mẫu cho lòng tin vào thế giới siêu hình, lòng tôn kính Trời Đất quỉ thần, lòng sùng bái các bậc thánh hiền, anh hùng, trung thần, liệt sĩ…, sống thì quang minh chính đại, làm khuôn mẫu cho đời, phò vua giúp nước, chết thì linh thiêng phù hộ nhân dân. Nho giáo cũng củng cố niềm tin vào lẽ công bằng thưởng thiện phát ác của Trời, đấng cầm cân nẩy mực tối cao: “thiện ác đáo đầu chung hữu báo”, “tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác”, “tích thiện chi gia, tất hữu dư khương; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (31). Ngoài ra ở nho gia còn có thái độ an nhiên vui sống với đạo lí thánh hiền mà không sợ nghịch cảnh, dù là cảnh nghèo (an bần lạc đạo – tuỳ ngộ nhi an), dù là cái chết (nhà nho Nguyễn Đức Tâm phút lâm chung miệng vẫn nói: vui! vuí!). (“Nhà Nho” của Chu Thiên, Đồ Chiểu tb., Sài gòn, 1968).
Kết quả là về mặt này, Nho giáo dạy con người ta duy trì mối liên hệ chặt chẽ với quá khứ, coi các thế hệ tiền bối dù còn sống hay đã khuất, như các bậc ân nhân phải được nhớ ơn (thí dụ lòng tôn sư, lòng hiếu kính cha mẹ, lòng sùng bái các bậc cổ thánh hiền, tục thờ cúng tổ tiên), như khuôn mẫu phải noi theo. Điều này giúp ta rút tỉa được rất nhiều bài học bổ ích của dĩ vãng, nhưng phải coi chừng vì nhiều khi nó cũng khiến ta trở nên nô lệ cổ nhân, bảo thủ, thiếu óc độc lập sáng tạo, giữ xã hội trong tình trạng trì trệ lạc hậu.
4. Tinh thần dung thông hoà hợp tam giáo
Đây là điểm đặc sắc nhất trong đời sống tín ngưỡng của dân tộc Việt trước khi tiếp nhận ảnh hưởng Tây phương vì nó chứng tỏ tinh thần cởi mở, khuynh hướng dung hoà tổng hợp của ta. Khi đã thấm nhuần tư tưởng tam giáo rồi thì đối với người dân Việt, ba vị giáo chủ chỉ là ba vị Thánh từ cõi siêu phàm giáng thế, mỗi vị một việc, nhưng cùng theo đuổi một mục đích là cứu giúp người đời.
a) Tinh thần phân công hợp tác giữa Phật và Thánh
Đây chính là đặc điểm trong tinh thần giới trí thức đời Lí, Trần lúc đầu là giới thiền sư, sau là lớp nho sĩ đạt đạo, đầu óc phóng khoáng. Ta hãy nghe lời giảng của một vị thiền sư đời Lí, thời Phật giáo hưng thịnh nhất trong lịch sử Việt Nam, về vai trò của Phật và Thánh. Khi được hỏi về ý nghĩa của hai từ này, sư Viên Chiếu trả lời:
– Trú tắc kim ô chiếu, nghĩa: -Ngày thì ác vàng soi chiếu,
– Dạ lai ngọc thố minh. – Đêm thì thỏ ngọc sáng ngời.
(“Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục”, dẫn lại trong “Những Khuynh Hướng Chủ Yếu Trong Văn Học Chữ Hán Hai Đời Lí Trần” của Khiếu Đức Long).
Ý nghĩa giải rộng ra là: Thánh như ánh sáng mặt trời giúp cho cuộc sống nhộn nhịp ban ngày, còn Phật như ánh trăng êm dịu ban đêm đem lại sự tĩnh lặng cho tâm hồn. Sư Trí Thiền còn nói rõ về nhiệm vụ của nho gia và phật gia:
“Nhà nho có thể giảng về đạo vua tôi cha con, nhà phật có thể nói rõ về công đức của bậc bồ tát, thanh văn. Hai đạo tuy khác nhau mà mục đích là một.”
(nguyên văn hán: nho gia khả thuyết quân thần phụ tử chi đạo, Phật pháp khả ngôn bồ tát thanh văn chi công; nhị giáo chi thù, kì qui tắc nhất) (32)
(trích lại trong sdt).
Đạo vua tôi cha con của Nho giáo là hệ thống tôn ti trật tự cần thiết cho sự sinh hoạt ổn định điều hoà của xã hội con người cần có tổ chức, còn công đức của bậc bồ tát, thanh văn là tự giác giác tha hầu cứu độ mình và cứu độ chúng sinh.
Sang đời Trần, ông vua đầu tiên là Trần Thái Tông là một học giả Phật học uyên thâm cũng giảng thuyết rõ ràng:
“Cho nên dẫn dụ bọn u mê, chỉ rõ đường sinh tử là đại giáo của Phật Tổ; còn việc cầm cân nẩy mực cho đời, làm khuôn mẫu cho tương lại là trọng trách của Tiên Thánh.”
(nguyên văn hán: thị dĩ dụ quần mê chi phương tiện, minh sinh tử chi tiệp kính giả, ngã Phật chi đại giáo dã; nhiệm thuỳ thế chi quyền hành, tác tương lai chi quĩ phạm giả, Tiên Thánh chi trọng trách dã)
(trích trong “Khoá Hư Kinh”, trích lại trong sdt).
Gọi là tinh thần phân công và hợp tác giữa Phật và Thánh vì tuy hoà hợp nhưng vẫn phân biệt, mỗi bên đứng trên cương vị của mình mà hỗ trợ cho nhau trong nhiệm vụ giúp đời. Kết quả tốt đẹp là trong hai triều Lí, Trần có sự tương trợ giữa tôn giáo và chính trị, nhưng Đạo và Đời vẫn không giẫm chân lên nhau như đã nhận xét trong chương nói về các triều đại. Trong bài thơ truy tán Vạn Hạnh thiền sư của vua Lí Nhân Tông có câu:
Trụ tích chấn vương kì (Dựng gậy vững kinh vua) (33) (trích lại trong sdt).
Chính quyền ở đây đã công nhận sự giúp sức của tôn giáo. Ngược lại tôn giáo cũng thừa nhận là phải có chính quyền giúp đỡ thì mới phát triển mạnh được như trong bài văn bia chùa Linh Xứng do sư Hải Chiếu soạn có câu:
“Phàm ở đâu có danh sơn thắng cảnh là có sự sửa sang xây dựng chùa chiền. Tuy nhiên nếu không có vua quan giúp đỡ thì cũng không thể thành công được.”
(nguyên văn hán: phàm hữu danh sơn thắng cảnh, mạc bất khải thác kĩ kiến giác trường, Nhiên đãn vô vương công đại thần hoằng hộ khuông duy nhi mạc năng thành yên) (34) (trích lại trong sdt).
Ngay sự kiện Phật pháp được hoằng dương ở đời ─ nói gọn hơn là ở Trung Hoa và Việt Nam ─ là lấy chữ của Thánh hiền (hán văn) làm phương tiện truyền bá cũng được vua Trần Thái Tông khẳng định trong bài tựa cuốn “Thiền Tông Chỉ Nam” của ông:
“Coi đó thì biết đạo của Phật Tổ cũng phải mượn (chữ của) Thánh hiền để truyền ở đời vậy”.
(nguyên văn hán: tắc tri ngã Phật chi giáo, hựu giả Thánh hiền dĩ truyền ư thế dã). (trích lại trong sdt).
b) Phật Lão kết hợp và bình dân hoá
Như đã trình bày, Lão giáo khi du nhập Giao châu đã biến thể thành Đạo giáo với pháp thuật bùa chú và hoà lẫn ngay vơi tín ngưỡng vật linh bản xứ sùng bái những mãnh lực thiên nhiên như gió mưa sấm sét, núi sông cây đá…
Đến khi Phật giáo từ Ấn Độ sang đây thì cũng có nhiều vị tăng có khuynh hướng sử dụng pháp thuật cứu giúp người đời để thu phục tín đồ. Do đó cũng dễ hiểu là cả ba: Phật giáo pháp thuật, Đạo giáo bùa chú và tín ngưỡng vật linh kết hợp với nhau dễ dàng.
Chúng tôi xin lược trích thuật một vài truyện, tích tiêu biểu cho sự kết hợp này.
- Truyện Man nương (35): Vào thời Sĩ Nhiếp, ở chùa Phúc Nham, có một cô gái sùng đạo, nói ngọng, không tụng được kinh, người ta gọi là cô Mán. Cô chuyên dọn dẹp thổi nấu để cúng dường các vị tăng. Một đêm làm việc mệt mỏi, nàng ngủ quên ở ngưỡng cửa, sư Già-la-đồ-lê (người Ấn Độ hay đứng một chân), tụng kinh xong về phòng riêng của mình, vô tình bước qua mình cô gái khiến nàng động tâm mà thụ thai, rồi sinh ra một bé gái, được sư Đồ-lê đem đặt ở dưới gốc một cây đa bên bờ sông. Lúc chia tay nhau, sư Đồ-lê cho Man nương một cây gậy có phép làm tuôn nước chảy; dân trong vùng được nàng cứu hạn nhiều lần. Sau cây đa đổ xuống sông, trôi đến bến chùa thì dừng lại, hàng trăm người kéo không nổi; một mình Man nương với tay kéo lên. Thợ chạm sau đó chạm gỗ cây đa thành bốn pho tượng Phật được sư Đồ-lê đặt tên là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đem vào chùa thờ cùng với hòn đá tìm được trong thân cây là nơi nhà sư giấu đứa bé (36).
- Sự tích Ma-kha thiền sư: (chép trong TUTĐ, trích lại trong “Những Khuynh Hướng Chủ Yếu Trong Văn Học Chữ Hán Hai Đời Lí, Trần” của Khiếu Đức Long).
Sư người gốc Chiêm, có theo học sư Đỗ Pháp Thuận, sống khoảng đời Lê Đại Hành, Lí Thái Tổ, Lí Thái Tông, giỏi pháp thuật. Khi vào Ái châu, trấn Sa Đãng, thấy dân ở đấy thờ quỉ thần, làm nghề sát sinh. Sư khuyên họ ăn chay giới sát. Họ nói rằng họ sợ quỉ thần nên không dám theo. Sư chữa khỏi bệnh hủi cho một người bằng cách đọc chú rồi phun nước vào bệnh nhân. Họ vẫn chưa chịu theo. Một hôm có một ông kì hào họ Ngô say rượu, đem rượu thịt đến ép sư ăn uống và nói: nếu hoà thượng theo tôi được cái thú này thì chúng tôi xin theo đạo của ngài. Sư nói: bần tăng chỉ sợ đau bụng thôi. Ngô nói: nếu hoà thượng đau bụng, tôi xin đau thay. Sư bèn ăn thịt uống rượu. Lát sau sư giả đau bnụg, ruột sôi như sấm rền, hơi thở nghẹn, kêu lớn: ông Ngô đau thay cho ta đi! Ông này cuống lên, không biết làm sao. Sư bèn chắp tay niệm Phật cầu xin cứu độ. Lát sau sư nôn thịt thành thú chạy, rượu thành nước đồng. Sư nói: người của các ông mắc bệnh, ta chữa khỏi; ta có bệnh, các ông không đau được cho ta. Vậy các ông có chịu theo đạo của ta không? Mọi người đều bái phục xin theo.
Truyện Từ Đạo Hạnh: (chép trong “Lĩnh Nam Chích Quái”). Chi tiết trong truyện cho thấy từ khoảng giữa triều Lí (đời vua Lí Nhân Tông) trở về cuối triều Lí thì tôn giáo đã pha nhiều pháp thuật, mê tín dị đoan nẩy sinh và lan tràn từ triều đình ra đến ngoài dân dã. Thậm chí khi vua hiếm muộn cầu có hoàng tử nối ngôi, nhiều kẻ hiến kế tìm người thác sinh (37).
Riêng trong truyện thì cha Đạo Hạnh đã lạm dụng pháp thuật quấy nhiễu Diên Thành hầu khiến ông này phải nhờ một pháp sư cao tay là Đại Điên dùng pháp thuật giết chết. Đạo Hạnh đi học pháp thuật để rửa thù cha. Khi báo phục xong, Đạo Hạnh còn phải tìm thầy học đạo rồi mới giác ngộ. Đến khi sư Đại Điên (đã bị Đạo Hạnh đánh chết) hoá sinh thành một đứa bé thông minh dị thường; vua Nhân Tông không có con, nghe lời triều thần lập đàn cầu cho nó thác sinh làm hoàng tử thì Đạo Hạnh dùng phép ngăn cản. Việc lộ ra, Đạo Hạnh bị triều thần nghị tội, mới cầu với Sùng Hiền hầu là em vua xin cho. Khi được tha, Đạo Hạnh hoá kiếp thác sinh làm con Sùng Hiền hầu.
Chứng tích truyện này là chùa Thiên Phúc (tục gọi là chùa Thầy) ở núi Sài sơn, tinh Sơn Tây, nơi có cái hang tương truyền là chỗ Đạo Hạnh ngồi “hoá” để xác phàm lại (38), còn hồn thì nhập vào cái bào thai của phu nhân Sùng Hiền hầu và sinh ra Dương Hoán, sau được vua Nhân Tông lập làm thái tử, lên nối ngôi, tức là vua Thần Tông.
Khi đang ở ngôi, vua Thần Tông còn mắc bệnh “hoá cọp” (mình mọc lông cọp, gầm thét như cọp) là do một nghiệp cũ gây nên: kiếp trước lúc còn trẻ, Đạo Hạnh đùa giả làm cọp doạ một người bạn cùng tu là Minh Không. Tới lúc Thần Tông mắc bệnh, phải nhờ đến Minh Không dùng phép đun nước sôi, đọc chú rồi tắm cho vua, bệnh mới khỏi.
Tình trạng pháp thuật len lỏi vào tôn giáo khiến cho các vị chân tu đạo cao đức trọng hiếm dần, giáo lí chân thực ít người hiểu hoặc bị hiểu sai đi thì chùa không những là nơi thờ Phật mà còn thờ các vị thần linh khác, các vị tăng không phải chỉ tụng kinh thuyết pháp mà còn kiêm pháp sư làm bùa phép để cầu mưa, cầu tự, trừ tà chữa bệnh hầu đáp ứng nhu cầu thế tục của dân chúng. Tình trạng này có vẻ giảm bớt khi sang đời Trần, một số các vị vua và quan vừa nghiên cứu Phật học uyên thâm, có khi lại đi tu, trở thành các vị tăng đạo hạnh cao thâm như vua Trần Nhân Tông với thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nhưng sang đời Hậu Lê, Nho học độc tôn, Phật giáo suy hẳn thì tình trạng kể trên lại tiếp tục và kéo dài mãi đến sau này.
c) Tinh thần hoà hợp tam giáo và khuynh hướng Việt hoá
Tinh thần hoà hợp tam giáo này mà có đưọc, ngoài tinh thần cởi mở, ưa dung hoà của dân tộc ta, còn do hoàn cảnh lịch sử, xã hội thuận lợi: ấy là nhu cầu phải có sự hỗ tương tán trợ giữa đạo và đời, giữa tông giáo và chính trị của quốc gia Đại Việt lúc còn non trẻ. Ngay từ đời Đinh Tiên hoàng, sau khi lên ngôi, ngoài việc phong chức tước cho các quan võ có công đánh dẹp, nhà vua đã thấy chính quyền cần đến sự yểm trợ của tôn giáo nên phong cho thiền sư Ngô Chân Lưu làm Khuông Việt đại sư và Trương Ma Ni làm Tăng Lục đạo sĩ (39).
Sang triều Lí, Phật giáo thịnh đạt là sự đương nhiên, song Nho giáo còn do nhu cầu của guồng máy nhà nước, được đưa vào qui chế quốc gia (dựng Văn miếu, lập Quốc tử giám, mở kì thi), Lão giáo cũng được tôn sùng: đời vua Nhân tông, đạo sĩ Thông Huyền được trọng vọng ngang với thiền sư Giác Hải. Nhưng sử sách chỉ chép đến đời vua Cao Tông (1176-1210) mới mở khoa thi tam giáo (40). Vua Trần Thái Tông mở lại kì thi này vào năm 1232 (41). Như vậy tinh thần tam giáo hoà hợp đồng tôn đã được hai triều Lí, Trần chính thức hoá.
Nhưng ở đây chúng tôi muốn xét đến sự thể hiện của tinh thần này trong các tầng lớp xã hội Việt xưa từ giới học thức đến đại chúng như là ba dòng tự tưởng Phật, Lão, Nho đã thấm nhập sâu xa vào tâm hồn dân tộc và sự hiện diện của cả ba trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong đời sống tín ngưỡng là sự kiện bình thường.
Sau đây là lời vua Lí Nhân Tông nói với sư Mãn Giác về mẫu người lí tưởng cho thời đại ấy:
“Bậc chí nhân ra đời tất phải lấy việc cứu đời làm nghĩa vụ, không đức hạnh nào không đủ, không việc gì không sửa sang, không những chỉ có sức định tuệ, mà còn có công tán trợ giúp rập nữa.”
(nguyên văn hán: chí nhân thị hiện, tất vụ tế sinh, vô hạnh bất cụ, vô sự bất tu, phi duy định tuệ chi lực, diệc hữu tán dương chi công). (trích trong TUTĐ)
Đó là mẫu người có trí tuệ của bậc giác giả (Phật), lại lấy việc tu thân giúp đời làm nghĩa vụ (Nho), rồi sau đó tiêu dao tự tại như bậc chí nhân vô kỉ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh của Trang tử.
Vua Trần Thái Tông, một học giả Phật học uyên thâm, trong bài “Phổ thuyết sắc thân” chủ yếu giảng đạo lí của đức Thích-Ca, nhưng tư tưởng của Khổng tử và của Lão tử nghiễm nhiên đứng ngang hàng cũng như ba vị giáo chủ cùng trực tiếp được nhắc đến như ba ông hàng xóm sát vách khó có thể thiếu vắng một ông trong một cuộc họp mặt đình đám.
Trong một đoạn trước, ông trịnh trọng nhắc đến qui tắc trật tự của nho gia:
“Hai là tuy được làm người, sinh nơi mọi rợ: tắm cùng một vũng, ngủ chung một giường, trên dưới lộn xộn, trai gái nằm chung, chẳng đượm gió nhân, không nhuần phép thánh.”
(bản dịch trích trong “Khoá Hư Kinh Diễn Nghĩa” – KHKDN – của Thiều Chửu).
(nguyên văn hán: nhị giả, kí đắc vi nhân, hoặc sinh man di chi xứ, dục tắc đồng xuyên, ngoạ tắc đống sàng, tôn ti hỗn xứ, nam nữ tạp cư, bất bị nhân phong, bất điều thánh giáo) (trích trong “Khoá Hư Kinh”- KHK).
Đến một đoạn sau, ông thuyết về cái mạng sống của thân xác con người kém hẳn giá trị so với đạo và dẫn lời nói của ba vị thánh nhân như sau:
“Ấy thân mệnh là chí trọng thật, song cũng không bằng chí đạo kia. Thế cho nên Khổng tử có câu rằng: sớm nghe đạo, tối chết hả lắm, ông Lão tử có câu rằng: ta có sự lo lớn là vì ta có cái thân; đức Thế Tôn xả thân cầu đạo cứu hổ (42), thế chẳng phải là ba đấng thánh nhân khinh thân mà trọng đạo đó sao!”(bản dịch trích trong KHKDN).
(nguyên văn hán: tuy vân thân mệnh chi chí trọng, do vị túc trọng ư chí đạo dã. Cố Khổng tử viết: triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ; Lão tử viết: ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả vi ngô hữu thân; Thế Tôn cầu đạo xả thân cứu hổ, khởi phi tam thánh nhân nhi trọng đạo tai!) (trích trong KHK).
Khuynh hướng hoà hợp tam giáo có sức mạnh ngấm ngầm đến độ có những nho sĩ lúc còn trẻ tích cực nhập thế nên cho Phật, Lão là tiêu cực và bài xích như Trương Hán Siêu, Trần Thời Kiến (43), lúc về già lại rủ nhau mộ Phật, thơ văn lại ôm tư tưởng nhàn tản từ bi. Ngay cả Chu An, bậc “nhất thế sư biểu” cuối đời Trần cũng phải ca tụng một vị thiền sư đạo hạnh cao thâm, mà tâm hồn thì phóng khoáng. Bài thơ “Đề đình Thuỷ Hoa của sư Lãng Ngộ” cho thấy tư cách của nhà sư như tư cách của một nhà nho quân tử lại nhiễm tư tưởng cầu nhàn yêu thiên nhiên của Lão, Trang:
nguyên văn hán:
Vốn dòng dõi con Phật
Thượng nhân viễn công duệ,
Lãng Ngộ có cao thức,
Lãng Ngộ hữu cao thức,
Ăn thề với làng hương,
Lũ kết hương xã minh,
Yêu sen xanh rất mực (…)
Vi ái thanh liên sắc (…)
Trên dựng đình Thuỷ Hoa,
Thượng cấu Thuỷ Hoa đình,
Ý cùng sen so đức (…)
Ý dữ liên tỉ đức (…)
Mình quên mình sạch trong,
Bất như thanh tĩnh thân
Lại ở bên sen ngát;
Kí tại hà hoa trắc;
Trăng sáng kết bạn bè,
Minh nguyệt tương hữu bằng,
Mây nhàn cùng nghỉ mát
Nhàn vân đồng yển tức.
Ăn gương ngọc đỡ lòng,
Khát khuynh châu lộ ẩm,
Uống sương châu giải khát;
Cơ trích ngọc phòng thực;
Ngoảnh mặt tránh cõi trần,
Hồi đầu tạ thế gian,
Tiêu dao vui bậc nhất
Tiêu dao du nhân cực.
(Nguyên văn hán và bản dịch trích trong “Việt Nam Cổ Văn Học Sử” của Nguyễn Đổng Chi).
Trong bài thơ trên tâm hồn sư Lãng Ngộ dù sao cũng được diễn tả gián tiếp bởi một người khác, còn trường hợp Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tảng mà ta trực tiếp đọc trong đoạn trích trong bài “Phóng cuồng ca” sau đây mới thật là tiêu biểu cho tinh thần tam giáo ở ngay trong một con người. Ông là một vị thân vương kiêm đại tướng đã từng cầm quân đánh giặc Nguyên xâm lăng. Công thành danh toại rồi, ông xuất gia đầu Phật và trở thành vị sư truyền giới cho vua Nhân Tông để ông vua này lập nên thiền phái Trúc Lâm Yên tử của Phật giáo Việt Nam đời Trần.
Trời đất nheo mày chừ, sao mênh mang,
Chống gậy rong chơi chừ, chốn ngoại phương.
(…)
Làng Vạn Niên chừ, đọc thơ Khảo bàn,
Sông chín khúc chừ, bài ca Thương lang.
Hỏi thăm Tào khê chừ, chào ông Lô thị,
Yết kiến Thạch Đầu, cùng một lão Bàng.
Vui theo Bố Đại chừ, ta hớn hở,
Dại giống Phổ Hoá chừ, ta tàng tàng.
Hỡi ôi qua cửa chừ, ngày tháng,
Than ôi mây nổi chừ, giàu sang.
(…)
Sâu thì cởi chừ, cạn thì xăn lên,
Bỏ thì lui chừ, dùng thì ra đương. (44)
Trong đoạn trích trên, nội dung chủ yếu là thái độ thong dong tự tại, tiêu dao hưởng nhàn, coi nhẹ danh lợi của đệ tử Lão, Trang, nhưng con đường tác giả đi theo lại là con đường giải thoát của các vị thiền sư. Song trước khi xuất thế, ông lại đã đi qua quãng đường nhập thế của nho gia.
Sang đến triều Hậu Lê, như ta đã biết, Nho giáo được độc tôn, Phật giáo suy dần, tín ngưỡng về Đạo giáo lại có chiều hướng phát triển. Ngay từ đời vua Lê Thánh Tông đã xẩy ra chuyện Bồi Liễn tiên nương hiện ra ngồi cùng xe với nhà vua (45), và câu chuyện gặp gỡ kì lạ giữa chàng thư sinh Trần Tú Uyên với nàng tiên là Giáng Kiều trong tranh hiện ra để kết duyên với chàng ngay giữa kinh đô Thăng Long với những chứng tích còn truyền đến ngày nay (46).
Ngoài chuyện Phạm Viên tu tiên đắc đạo, các nho sĩ tiêu biểu cho khuynh hướng thiên về Đạo giáo trong thời kì Nam Bắc phân tranh, ta phải kể đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mà ngoài phần thơ văn nhàn lạc chịu ảnh hưởng của Lão Trang chính thống, còn có những câu sấm tiên tri tương truyền là của ông, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp cũng có khuynh hướng ẩn dật theo đạo tu tiên (47).
Từ giữa triều Hậu Lê cho đến cuối thời kì Nam Bắc phân tranh, khuynh hướng Đạo giáo dẫu có lấn lướt, song cuối cùng tinh thần hoà hợp tam giáo đã hoàn chỉnh đời sống tín ngưỡng của quảng đại quần chúng Việt Nam thời xưa. Một số sự tích còn ảnh hưởng hoặc còn di tích đến ngày nay cho thấy điều này:
- Sự tích Thượng Sư Nội Đạo: kể chuyện một nhà nho tên là Trần Toàn (48) đã đỗ tiến sĩ và xuất chính, nhưng khi họ Mạc cướp ngôi vua Lê thì ông cáo quan về làng (Yên Đông, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá) học đạo thần tiên, làm việc công ích như xây cầu, đắp đường, sửa sang chùa chiền. Thiện tâm của ông thấu đến Trời, Phật nên đức Phật tổ Thích Ca sai đức Dược Sư Lưu Li Quang Phật xuống truyền cho ông phép nhiệm màu và Ngọc Hoàng phong cho ông chức Thượng Sư để tiễu trừ yêu quái cứu nạn cho dân. Thành tích của ngài Thượng Sư là giết được con Hồ tinh ở vùng Ninh Bình, bắn chết được mười một trong số mười hai thần sóng hay làm chìm ghe thuyền ở biển Nam Hải. Sau đó ngài mở trường thu nhận đệ tử khắp nơi đến học đạo. Một trong số các đệ tử của ngài được phái đến kinh đô chữa khỏi bệnh hoá cọp cho Lê Thần Tông (một kiếp khác của Lí Thần Tông hay Từ Đạo Hạnh) và cải tử hoàn sinh cho một người con trai của chúa Trịnh. Cuối cùng thì Thượng Sư thành Phật và được vua Lê sai dựng đền thờ và phong là Thượng đẳng Phúc thần (!).
- Sự tích Tam Thánh Nội Đạo: là chuyện ba người con trai của Thượng Sư Nội Đạo ở trên tên là Nhật Quang, Nguyệt Quang và Ngọc Quang, lúc trước cũng theo nho học và đỗ tiến sĩ; nhưng cả ba cùng theo chí cha không ra làm quan mà ẩn cư học đạo và đều có quyền phép thần thông cứu nhân độ thế. Thành tích của ba anh em là trừ được nhiều hung thần ác quỉ ở khắp nơi. Nhưng chiến công hiển hách nhất là hàng phục được bà chúa Liễu Hạnh, con gái Ngọc Hoàng, có lỗi bị đày xuống trần, chúa mãn hạn về trời, nên tập hợp lũ yêu ma làm bộ hạ quấy nhiễu, phá phách, tàn hại dân chúng, thậm chí trêu chọc cả vua chúa và trở nên một vị hung thần đáng sợ cho cả một vùng Sùng Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Trong trận chiến có cả người (quân tướng và võ khí của triều đình), thần thánh, ma quỉ ở cả hai bên tham gia (49). Tất nhiên phe thiện phải thắng vì được Ngọc Hoàng sai thiên binh thiên tướng xuống yểm trợ để bắt cô con gái ngỗ nghịch này. Cuối cùng bà công chúa nhà Trời thua trận bị bắt, phải nhờ đến đức Phật Tổ từ bi can thiệp cứu độ cho bà được sám hối qui y, tránh được hình phạt đáng ra phải nặng nề vì bà đã bôi nhọ thanh danh thiên đình.
Do sự tích này về sau ở nhiều ngôi chùa, trong hậu sảnh, người ta có thờ bà Liễu Hạnh. Và cũng để tỏ ra gượng nhẹ với bà công chúa nhà Trời, đạo sĩ Ngọc Quang đề nghị với vua Lê phong thần cho bà ở vùng Sùng sơn (tên nôm là đền Sòng) là giang sơn dưới trần của bà khi trước để bà trở nên một vị thần linh chính thức, được dân chúng phụng thờ.
Hai đạo sĩ Nhật và Nguyệt Quang sau đó trở về tiên cảnh để lại người em là Ngọc Quang dưới trần thu nhận đồ đệ để tiếp tục cứu nhân độ thế, trường phái mở rộng sang tận Trung quốc. Về sau một đệ tử lạm dụng pháp thuật thị oai với dân chúng nên Ngọc Quang phải thu hết phép màu lại, chỉ để một ít thuật và bùa chú để chữa bệnh trừ tà mà thôi. Trường Nội Đạo sau này chia thành bốn môn phái pháp thuật chữa bệnh: Nội Roi (chữa bệnh bằng roi mây), Nội Phủ (chữa bệnh bằng lưỡi rìu), Nội Giẫm (chữa bệnh bằng cách đấm ngực giẫm chân) và Nội Tưởng (chữa bệnh bằng tâm tưởng, phái này truyền cho một môn đệ người Tàu đem về Trung quốc).
Trường cũng được triều đình công nhận. Ở Thanh Hoá, làng Từ Quang (tên làng vào thời Thượng Sư là Từ Minh), huyện Hoằng Hoá và làng An Đông, huyện Quảng Xương có hai đền thờ chính. Ở Nghệ An có đền Đại Tràng. Ngoài Bắc, vùng Huệ Lai, tỉnh Hưng Yên, vùng Nhật Tảo, tỉnh Hải Dương đều có đền thờ. Trong đền thờ Nội Đạo, ngoài tượng các vị sáng lập, người ta còn thờ Bát bộ Kim Cương, Thập nhị Nguyên suý đã được Ngọc Hoàng phái xuống giúp ba anh em đạo sĩ đánh bắt bà chúa Liễu, tượng Ngũ Hổ thần tướng đã giúp Nhật Quang vượt núi sông qua Thiên Trúc thỉnh kinh Phật (mô phỏng “Tây Du Kí”). Bạch tượng chín ngà và Bạch xà cũng được thờ vì đã giúp ba anh em đạo sĩ trừ các loài thú vật và cây cối thành tinh.
Tín ngưỡng Nội Đạo sau này còm thâu gồm các vị thần linh ứng của dân tộc như Phù Đổng Thiên vương, Thần núi Tản Viên, Chử Đồng Tử, bà chúa Liễu (bốn vị này gọi là Tứ Bất Tử), đức Thánh Trần v.v… Làng Giảng Vũ gần Hà Nội có một thời còn số tín đồ đông đảo vẫn tin tưởng vào sức che chở linh thiêng của Nội Đạo (vẫn theo VNVHTT, q, II của Hoàng Trọng Miẻn).
Đây có thể là khuynh hướng của giai đoạn lịch sử ấy muốn thành lập một tôn giáo riêng cho dân tộc (Nội Đạo, đạo từ trong nước, khác với Ngoại Đạo, đạo vào từ nước ngoài) bao gồm cả tam giáo (tinh hoa của Đông phương) và các vị thần linh, anh hùng dân tộc (tinh hoa của dân tộc); tương tự sau này ở miền Nam đạo Cao Đài có khuynh hướng tổng hợp tinh hoa tinh thần của cả Đông phương lẫn Tây phương.
- Sự tích khác về bà chúa Liễu Hạnh: bà là công chúa thứ của Ngọc Hoàng, một lần dâng rượu lên vua cha, lỡ tay đánh rơi vỡ chén ngọc nên bị đày xuống trần, đầu thai vào nhà ông bà Lê Thái công ở thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Thái công mơ biết chuyện này vừa trước khi bà vợ hạ sinh cô con gái nên đặt tên là Giáng Tiên. Nàng lớn lên, dĩ nhiên là thơ văn, đàn nhạc, tài sắc vẹn toàn, cũng lấy chồng và có con. Sau ba năm nàng “về trời” bắng cách vô bệnh mà mất. Song vì còn lưu luyến cõi trần, nàng xuất hiện trở lại cõi trần để thăm mẹ và chồng, rồi đi ngao du sơn thuỷ; tới Lạng Sơn thì gặp Phùng Khắc Khoan đi sứ sang Tàu về, nàng hiện ra đối đáp thơ văn với họ Phùng rồi trổ phép thần thông ra ý nhờ Phùng lập đền thờ, tự nhận là Liễu Hạnh công chúa. Sau này họ Phùng cùng hai người bạn họ Ngô và họ Lí đi chơi hồ Tây, nàng còn hiện ra giả dạng làm cô hàng rượu xướng hoạ liên ngâm với họ. Cuối cùng khi đến Sùng sơn, phố Cát, tỉnh Thanh Hoá, thấy phong cảnh kì tú, nàng bèn hiển linh để dân chúng lập đền thờ và được triều đình sắc phong (phong tặng danh hiệu dựa vào công đức để chính thức công nhận là thần linh). Từ đó bà chúa Liễu được dân chúng tôn xưng là đức Thánh Mẫu, trở nên một trong các vị thần linh thiêng của đất nước Việt, có thể ban phước cho những người tín kính, nhưng cũng có thể giáng hoạ cho những kẻ báng bổ xúc phạm tới Ngài (50). Cho đến trước 1945, hàng năm từ ngày mồng một tới ngày mồng mười tháng ba âm lịch (mồng ba tháng ba là ngày giỗ chính), làng Vân Cát còn tổ chức lễ hội gọi là hội Phủ Giầy, dân chúng khắp nơi trẩy hội lũ lượt đổ về lễ Mẫu cầu phúc.
Đứng trên quan điểm của con người hiện đại, người ta có thể cho rằng hình thức tín ngưỡng mà các sự tích trên tiêu biểu thịnh hành trong thời kì Nam Bắc phân tranh là một sự pha trộn hỗn tạp những biến tướng thấp kém của tam giáo và rất gần với mê tín dị đoan. Nó phản ảnh tâm trạng thất vọng của đại chúng đối với thực tế xã hội thời ấy ở vào một giai đoạn lịch sử quá nhiễu nhương: loạn kiêu binh, giặc giã nổi lên khắp nơi. Trong triều thì vua Lê bất lực, chỉ ngồi làm vì, chúa Trịnh thì chuyên quyền, có khi giết vua này lập vua khác, sống xa xỉ, dân chúng chắng được an cư lạc nghiệp, lại phải chịu thuế má nặng nề, phục dịch chiến tranh, nhà nào cũng có chồng con anh em đi lính chết trận (51), chịu bao nỗi thống khổ mà không biết kêu cầu trông cậy vào đâu! Đây là lúc người ta phải hướng tới thế giới siêu phàm để tìm lối thoát, để cầu mong các thế lực linh thiêng giáng thế cứu dân; họ sẵn sàng tin vào quyền năng màu nhiệm, vào những chuyện kì lạ (52).
Tuy nhiên, ngay nếu gạn lọc đi những yếu tố huyền hoặc không phải là không có giá trị phản ảnh lịch sử và tâm lí xã hội đương thời, ta vẫn rút ra được cái khung tam giáo của tín ngưỡng Việt Nam thời xưa với một sự hoà điệu nhịp nhàng. Nó cho thấy dân tộc Việt một mặt sống rất thực tế, nhưng mặt khác tâm hồn lại rất gần gũi với thế giới lí tưởng siêu việt. Nói cách khác, tâm hồn Việt Nam rất thích bay bổng cao vời, nhưng không đi quá xa để mất hút vào cõi vô tận không tưởng; trái lại lên cao rồi kéo cái siêu phàm xuống cõi tục để thanh lọc bầu không khí ở đây, làm cho nhân gian được cao đẹp hơn khi con người nhìn vào tấm gương trong suốt của đạo lí nhân quả mà răn mình. Hiểu như thế, ta sẽ không lấy làm lạ khi ở ngay cõi trần này đã tụ hội đầy đủ “nhân vật” của các cõi ngoài thế gian với các phép màu được thi thố. Mà sao các “nhân vật” ở các cõi ấy có nhiều điểm gióng người phàm trần thế? Từ hình dáng cho tới tâm lí: chỉ khác nhau ở chỗ đẹp xấu, cao thấp (nghĩa tinh thần), trong đục (nghĩa bóng), có quyền năng màu nhiệm hay không, trường sinh bất tử hay sinh lão bệnh tử phù du mà thôi (53).
Kết quả to lớn nhất của sự du nhập tam giáo vào Việt Nam là nhờ có tinh thần cởi mở, khuynh hướng dung hoà tổng hợp, dân tộc ta đã lấy vật liệu từ tam giáo để dựng nên cái sườn vững chắc đẹp đẽ cho ngôi nhà văn hoá của mình. Ngay từ triều Lí, Trần, hai triều đại tương đối lâu dài ổn định đầu kỉ nguyên độc lập của quốc gia, sự kiện tam giáo đồng tôn tịnh hành đã tạo nên được thế quân bình rất cần thiết cho đời sống an bình của cá nhân, gia đình và xã hội. Dù tới trước, tới sau, dù có những giai đoạn thăng trầm khác nhau, song nhìn chung ba đạo Phật, Lão, Nho trong khi cắm rễ và phát triển trên đất nước Việt đã không có sự xung đột gay gắt khốc liệt vì tranh chấp quyền lực, tranh giành ảnh hưởng, tuy từng lúc cũng có những va chạm nho nhỏ, không đáng kể vì không gây xáo trộn xã hội.
Trái lại, dân tộc ta đã tạo nên được sự hoà hợp cân đối bởi ta nhận thức được rằng cả ba đạo cùng cần ích, mỗi đạo ở một phương diện khác nhau và bổ túc cho nhau: đạo Nho đáp ứng nhu cầu nhập thể để tổ chức, điều hành mọi ngành, mọi lãnh vực sinh hoạt của quốc gia trong thời kì kinh tế nông nghiệp thô sơ; đạo Lão giải toả bớt mọi gò bó có lúc quá mức của cuộc đua tranh danh lợi, thoả mãn trí tưởng tượng và lòng mong ước bay bổng của tâm hồn cá nhân vốn ưa sống tự do; đạo Phật giải đáp ý nghĩa cuộc sống một cách rốt ráo và hướng dẫn con người đến một sự giải phóng toàn diện, triệt để: đó là sự giải thoát.
Dân tộc Việt Nam vốn giàu lòng tín ngưỡng, ba đạo Phật, Lão, Nho vào đất nước Việt thật đã gặp môi trường thuận lợi để phát triển, đồng thời cũng làm cho các quan niệm về luân lí, tập tục xã hội và nhất là đời sống tín ngưỡng của dân tộc này thêm thuần hậu, phong phú và sâu sắc.
Chú thích cuối chương thứ tám
(1) Ta thường tin rằng mỗi con người có ba hồn bảy vía (nam giới: tam hồn thất phách) hoặc ba hồn chín vía (nữ giới: tam hồn cửu phách). Chúng tôi xin tạm suy luận như sau: ba hồn tương ứng với nhận thức (lí trí), tình cảm và hành động (ý chí); còn bảy vía tương ứng với các giác quan (hiểu là đường giao tiếp lưu thông với thế giới bên ngoài) là mắt, tai, mũi, miệng lưỡi, xúc giác, đường tiểu tiện và đường đại tiện; riêng phụ nữ vì phải sinh con và nuôi con nên có thêm đường sinh nở và đường tiết sữa. Khi con người chết, hồn lìa khỏi xác thì vẫn còn, nhưng vía tức giác quan vì lệ thuộc vào xác nên mất theo (Thác là thể phách, còn là tinh anh – Kiều) – Nếu cắt nghĩa theo Duy thức học của Phật giáo thì kĩ lưỡng và sâu sắc hơn, song sẽ quá dài dòng, không thích hợp cho một chú thích ngắn gọn.
(2) Lòng thương nhớ và nghĩ tưởng rằng người thân của mình chết là vĩnh viễn “đi về thế giới bên kia” đưa đến tục quàn xác lâu trong nhà để vong nhớ xác mà quanh quẩn với con cháu (đồng thời con cháu phải cúng vong). Những rồi giữ sao được mãi? Người ta phải chôn xác đi, nên mặc quần áo đẹp, đeo đồ trang sức, chôn theo đồ dùng, của cải để vong không thiếu thốn ở thế giới bên kia. Thậm chí về sau có nơi kẻ quyền quí bắt vợ hay nàng hầu chết để chôn theo hầu khỏi cô đơn (như tục Chiêm Thành xưa hễ vua chết thì hoàng hậu phi tần phài lên hoả đàn để chết theo). Sau để đỡ cồng kềnh, người ta thay bằng đổ giả; vàng bạc tiền của, nhà cửa, xe cộ, đồ đạc, kể cả nàng hầu làm bằng giấy để đốt đi (đồ mã, hàng mã, đốt mã). Vậy đốt là một cách chuyển đến thế giới bên kia.
(3) Tục văn thân (vẽ, xâm mình) có đến thời vua Trần Anh Tông (tr.v. 1293-1314), khi Thượng hoàng Nhân Tông nhắc vua xâm mình, vua thừa lúc Thượng hoàng không để ý, lén bỏ đi, không để cho vẽ. Từ đó về sau tục này mới bỏ. Vậy tục này thời xưa phổ biến từ vua, quan đến dân dã.
(4) “Sơn bất cao, hữu tiên tắc danh; thuỷ bất thâm, hữu long tắc linh”: núi không cao nhưng có tiên cũng nổi danh; nước không sâu, nhưng có rồng cũng thiêng.
(5) Sự kết hợp có thể do hôn nhân, cũng có thể do nhu cầu kinh tế: trao đổi sản vật giữa miền núi và miền biển chẳng hạn, đặc biệt muối của miền biển rất quí đối với miền núi (trước khi dùng trầu cau làm lễ vật đầu tiên trong hôn lễ, người ta đã dùng muối); hoặc do nhu cầu liên kết để tự vệ chống kẻ cường xâm từ xa tới. Dù sao thì huyền thoại “cái bọc 100 trứng nở ra 100 con rồi chia ra một nửa theo mẹ lên núi, nửa kia theo cha xuống biển” cũng có tác dụng tâm lí tình cảm là đoàn kết thống nhất các bộ lạc miền núi miền biển lân cận nhau dưới chính quyền trung ương của liên bộ lạc.
(6) Các truyện Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh va Thánh Dóng đều có chép trong “Lĩnh Nam Chích Quái”.
(7) “Những hình mặt trời khắc hoạ trên trống đồng, một số hình thức mai táng với dụng ý hướng xác chết vể phía mặt trời, hoặc để mặt trời đi ngang qua người…” “Thời Đại Hùng Vương”, phần nói về tín ngưỡng do Lê Văn Lan Viết.
(8) Cho đến mãi sau này, người nông dân vẫn coi “con cóc là cậu ông Trời”, khi trời hạn hán thì họ mong cóc kêu bắt trời phải mưa xuống. Truyện nhi đồng “Cóc Tía” của Khái Hưng dựa vào niềm tin dân dã này.
(9) Nửa đầu thế kỉ XX, nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn còn dựa vào tâm lí sợ cọp như một vị hung thần để viết cuốn tiểu thuyết đường rừng “Thần Hổ” khá li kì rùng rợn.
(10) Truyện nôm bình dân “Thạch Sanh” cho thấy tục dâng người hàng năm làm lễ vật tế thần cho mãng xà tinh. Lại còn có cả đại bàng tinh bắt cóc công chúa đem về hang sâu mà vua quan quân lính không làm gì được. Điều này cho thấy con người thời cổ sợ hãi và bất lực trước các thế lực siêu nhiên tác oai tác quái như thế nào.
(11) Trong “Lĩnh Nam Chích Quái” có 2 truyện cho thấy ngay từ đời Hùng vương, đã có thuyền buôn nước ngoài cập bến nước ta để buôn bán. Một là truyện “Dưa hấu”, nhân vật chính là Mai An Tiêm là người nước ngoài đi theo thuyền buôn vào nước ta, được vua Hùng mua về làm đày tớ lúc mới có 7 tuổi. An Tiêm sau đó được nhiều người quí trọng, cho nhiều tặng vật, lại tự cho là vật tiền thân của mình mới bị vua giận đày ra hoang đảo. Hai là truyện “Đầm một đêm” kể là công chúa Tiên Dung con vua Hùng, sau khi tự ý lấy Chử Đồng Tử, không dám về kinh đô, mở chợ ở ven sông, có thuyền buôn nước ngoài ghé vào buôn bán. Sau Chử Đồng Tử lại theo họ đi buôn, tới một hòn đảo và được một nhà sư tên là Phật Quang truyền đạo và dạy cho pháp thuật.
(12) Cho mãi đến thế kỉ thứ VII đời Đường, sư Huyền Trang đi đường bộ từ Trung Hoa sang Ấn Độ du học và thỉnh kinh đã phải trải qua một thời gian dài với bao nỗi gian nan đến độ sau này thành hình bộ tiểu thuyết “Tây Du Ký” trong đó Đường Tam Tạng (tức sư Huyền Trang) phải trải qua 81 tai nạn thử thách mới thành công tới được đất Phật, thỉnh kinh đem về.
(13) Mâu Bác tuy là người Trung Hoa, song từ nhỏ đã theo cha mẹ sang tị nạn tại Giao Chỉ, theo học Phật và xuất gia tại đây.
(14) Khương Tăng Hội, gốc nước Khương Cư (Sogdiane), cha mẹ cư trú và buôn bán tại Giao Chỉ. Ông sinh trưởng tại đây; cha mẹ mất sớm, ông xuất gia tu học và giỏi cả Phạn, Hán và Việt ngữ. Ông dịch và chú giải kinh từ Phạn ra Hán. Sau ông đến Kiến Nghiệp, kinh đô nước Ngô thời Tam quốc (nay là Nam Kinh) để truyền đạo. Ông thuyết được Ngô đế Tôn Quyền thụ giới và lập ra ngôi chùa đầu tiên tại đây là Kiến Sơ tự. Nhờ ông mà Phật pháp được hưng thịnh tại Giang Nam.
(15) Sau này các giáo sĩ đạo Thiên Chúa đã làm được hơn: dựa vào chữ La tinh chế ra chữ quốc ngữ để dịch kinh truyền đạo bằng tiếng Việt.
(16) Ba thiền phái: Tì-ni-đa-lưu-chi (vị sư tổ người Ấn Độ), Vô Ngôn Thông và Thảo Đường (cả hai đều là người Trung Hoa) đều từ Trung Hoa sang Việt Nam. Hai phái trước ở thời Bắc thuộc, phái sau vào triều Lí.
(17) Từ đời Lê Ngoạ Triều đến triều Lí, ngay từ đời Lí Thái Tổ trở về sau, Đại Việt nhiều lần cử sứ bộ sang Trung Hoa (triều Tống) để xin các bộ Đại Tạng kinh đem về nước.
(18) Trường hợp bà Thị Kính gặp nỗi oan khuất ở nhà chồng, tìm đến cửa thiền làm lối thoát vĩnh viễn không phải là hiếm trong xã hội xưa. Sang đầu thế kỉ XX, Nguyễn Công Hoan, trong cuốn tiểu thuyết “Tắt Lửa Lòng”, vẫn còn phải chọn giải pháp đi tu cho nhân vật Lan, sau khi nàng thất tình với Điệp.
(19) “Bụt” rõ ràng do từ “Buddha” mà ra. Đây là một chứng tích cho thấy Phật giáo đã trực tiếp truyền từ Ấn Độ và do các vị tăng Ấn sang đại chúng Việt.
(20) Đức Quan Thế Âm Bồ tát được đại chúng Việt coi như vị phụ tá đắc lực của đức Phật trong việc cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh. Ngài được hình tượng hoá thành phái nữ để hợp với lòng từ mẫn của bậc mẹ hiền. Quyền năng nhiệm màu của Ngài được tượng trưng bằng nghìn mắt nghìn tay để bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng Ngài cũng nghe thấy được tiếng kêu cầu của chúng sinh mà ra tay tế độ (Nam mô đại từ đại bi thiên thủ thiên nhãn tầm thanh cứu khổ cứu nạn linh cảm Quan Thế Âm Bồ tát).
(21) Một vài truyện cổ tiêu biểu như Tấm Cám, Cây nêu, Chó ba cằng, Hạc chơi với rùa v.v…
(22) Ông chúa cuối cùng của họ Trịnh là Án Đô vương Trịnh Bồng bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại, bỏ trốn đi tu, sau không biết chết ở đâu. (Theo “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim).
(23) Trong văn học Việt Nam có nhiều tác phẩm của cả giới nho sĩ lẫn giới bình dân châm biếm giới tu sĩ Phật giáo kém đạo hạnh. Song rõ ràng đại đa số chỉ nhắm vào những người theo đạo không chân chính chứ không nhắm vào giáo lí nhà Phật. Ở đây ta lại thấy đức nhẫn nhục của giới tăng đồ Phật giáo vì như Đinh Gia Thuyết trong bài diễn thuyết “Cụ Trương Hán Siêu với Phật giáo” thì chỉ thấy Nho công kích Phật, chứ chưa hề thấy Phật công kích Nho.
(24) Kinh Nhân Quả: “Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thụ giả thị; dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị”: muốn biết nhân ta gieo kiếp trước, hãy xem điều ta được hưởng ở kiếp này; muốn biết quả ta sẽ hái ở kiếp sau, hãy xem điều ta làm (tức nhân ta gieo) ở kiếp này. Trong Truyện Kiều, thuyết nghiệp báo luân hồi đã được dùng để cắt nghĩa quãng đời 15 năm lưu lạc đoạn trường của Thuý Kiều (“Kiếp này nợ trả chưa xong, làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau”; nợ đây là nghiệp nhân xấu gieo từ kiếp trước).
(25) Đời Tần, Đạo giáo thịnh đến độ bọn đạo sĩ thuyết phục được Tần Thuỷ hoàng cấp cho họ cả một đội thuyền cùng với vàng bạc châu báu đi tìm đảo thần tiên để cầu thuốc trường sinh bất tử hầu vua có thể ngự trị vĩnh viễn trên ngai vàng. Bọn họ ra đi không bao giờ trở lại.
(26) Thí dụ thù ghét ai mà không trực tiếp làm hại được kẻ ấy ─ vẫn là giới phụ nữ hay đánh ghen muốn hại tình địch chiếm đa số trường hợp ─ thì thuê thầy pháp làm bùa ngải ngầm hại địch thủ khiến người bị hại ngơ ngẩn, mất trí, điên rồ hay mắc bệnh lạ, thuốc chữa không khỏi. Bên kia nếu biết được thì mượn thầy pháp cao tay hơn làm bùa giải đi.
(27) “Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu, trầm tư bách kế bất như nhàn”: Dứt một kiếp sống chỉ có rượu mà thôi; suy nghĩ trăm kế không bằng hưởng nhàn.
(28) “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn, yên ba thâm xứ hữu ngư châu”: Việc đời lên xuống, bạn đừng hỏi đến; (hãy xem) trong khoảng khói sóng xa thẳm kia, có con thuyền câu (đang lờ lững) trôi.
(29) “Quân bất kiến Hoàng hà chi thuỷ thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi”: bạn chẳng thấy nước sông Hoàng hà từ trên trời xuống, chảy ra bể mà không bao giờ trở lại. – Câu lấy trong bài “Tương tiến tửu” (Sắp mời rượu) của Lí Bạch. Trong bài “Thề non nước” của Tản Đà, nhà thơ Việt Nam đầu thế kỉ XX, có câu “Nước đi ra bể lại mưa về nguồn” đúng với thực tế hơn.
(30) “Thiên nhân tương dữ”: Trời và người có liên hệ mật thiết với nhau, thiên nhiên và con người có cùng một bản thể nên phải có ảnh hưởng qua lại.
(31) “Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương”: nhà nào chứa chất những điều lành, ắt sẽ có thừa phúc lợi, nhà nào chứa chất những điều chẳng lành ắt sẽ có thừa tai hoạ.
(32) Thanh văn: quả vị của Phật giáo tiểu thừa (chỉ cốt cứu độ mình), nghe giảng về tứ diệu đế (khổ, tập, diệt, đạo) mà giac ngộ. Bồ tát: quả vị của Phật giáo đại thừa (vừa cứu độ mình vừa cứu độ người), chỉ đứng sau quả vị Phật. Bồ tát ở đây đã là bậc chính giác rồi, nhưng vì thương xót chúng sinh nên chưa nhập niết bàn, mà qua lại thế gian để cứu vớt họ.
(33) “Trụ tích trấn vương kì”: Dựng gậy vững kinh vua. Tích trượng là gậy tầm xích của các vị hoà thượng. Trong đời Lí, nhiều vị thiền sư được vua mời làm cố vấn: sư Khô Đầu đời Nhân Tông, sư Viên Thông đời Thần Tông, tăng phó Nguyễn Thường đời Cao Tông.
(34) Chùa Linh Xứng ở núi Ngưỡng Sơn, làng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lợi, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, do Lí Thường Kiệt dựng nên. Bài văn bia do sư Hải Chiếu sống cùng thời với Lí Thường Kiệt soạn ra để ca tụng công nghiệp của họ Lí đối với đất nước (đánh giặc) và đạo pháp (xây chùa).
(35) Truyện “Man nương” này được chép trong cả “Lĩnh Nam Chích Quái” và “Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục”. Lí Tử Tấn đời Hậu Lê viết thành truyện “Pháp Vân hậu Phật” (Mẹ Phật Pháp Vân) bằng thơ chữ hán dài 58 câu, được Lê Quí Đôn chép lại trong “Kiến Văn Tiểu Lục” (thiên Thiền dật) của ông.
(36) Truyện “Man nương” cho thấy rõ tín ngưỡng vật linh (mây mưa sấm chớp cây đá) kết hợp với Phật pháp. Sự tích các pho tượng này nay còn ở chùa Dâu tức chùa làng Cổ Châu, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
(37) Tương truyền vua Nhân Tông là tên Nguyễn Bông làm loạn, chịu chết chém để đầu thai vào bà vương phi Ỷ Lan là vợ vua Lí Thánh Tông.
(38) Tương truyền xác của Từ Đạo Hạnh không rữa nát và được dân chúng để vậy thờ. Mãi đến khi giặc Minh sang chiếm nước ta, chúng mới đốt bỏ xác ấy. Về sau người ta tạc tượng thờ.
(39) Trong hai triều đại ngắn ngủi Đinh và Tiền Lê, Nho học chưa mở mang, vì thế chưa có nhân tài và chưa có người được phong. Thế mà Ngô Thì Sĩ trong “Việt Sử Tiêu Án” chép việc này và phê bình như sau: “Còn như Tăng, Đạo là hạng người nào mà cũng phẩm trật cao, được mũ vàng, áo đen lẫn lộn vào hàng mũ vàng đai bạc ở triều đình, cũng chả quá lắm ư!”
(40) Theo “Việt Sử Tiêu Án”: khoa thi tam giáo đầu tiên mở vào đời vua Lí Cao Tông (1176-1210).
(41) Theo “Việt Nam Sử Lược”: khoa thi này được mở lại vào năm 1232 đời vua Trần Thái Tông.
(42) Trong một kiếp quá khứ của đức Phật Thích Ca, Ngài là một vị hoàng tử, vào rừng thấy một con cọp mẹ và 7 con cọp con đang bị đói khát, ngài động tâm đại từ bi, hi sinh thân mình cho chúng ăn. Công đức này giúp Ngài rút ngắn được 11 kiếp tu để đắc đạo. (Theo “Phật Học Đại Từ Điển”, hán văn).
(43) Trương Hán Siêu làm bài “Văn bia chùa Khai Nghiêm” có ý bài Phật. Ngự sử Trần Thời Kiến dâng sớ can vua Trần Minh Tông đừng trùng tu chùa Quỳnh tốn nhiều tiền. Lúc về già lại rủ nhau mộ Phật, thơ văn ôm tư tưởng nhàn tản từ bi. (Theo Nguyễn Đổng Chi, “Việt Nam Cổ Văn Học Sử”.)
(44) Nguyên văn hán và bản dịch trích trong cùng tác phẩm trên.
Vì cốt chú trọng phần nội dung tư tưởng và để cho gọn, chúng tôi xin miễn trích phần hán văn, nhưng xin chú thích phần điển tích quá nhiều để thấy rõ ba luồng tư tưởng Phật, Lão, Nho đồng hành hoà lẫn trong một bài thơ.
– Ngoại phương: ngoài thế tục; trong sách Trang Tử, thiên Đại tông sư: bỉ du chi phương ngoại dã: nó là kẻ rong chơi ngoài thế tục.
– Khảo bàn: tên một bài thơ trong thiên Vệ phong ở Kinh Thi khen chí lớn và lòng khoan quảng của bậc hiền giả ẩn cư chốn lâm tuyền.
– Thương Lang: sách Mạnh Tử, thiên Li lâu: “Thương Lang chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trác ngã anh; Thương Lang chi thuỷ trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.”: nước sông Thương Lang trong thì ta giặt dãi mũ, nước sông Thương Lang đục thì ta rửa chân.
– Tào khê: tên khe, phát nguyên tại phía đông nam huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, chảy về phía tây rồi đổ vào sông Trăn, nơi Lục tổ Tuệ Năng của Thiền tông tu trì và thuyết pháp.
– Lô thị: trỏ Lục tổ Tuệ Năng, vì ngài họ Lô.
– Thạch Đầu: Trần Hi Thiên, đệ tử của Lục tổ Tuệ Năng, tu tại Hành Sơn, tình Hồ Nam, dựng am trên đồi đá nên có hiệu là Thạch Đầu hoà thượng.
– Lão Bàng: tức Bàng Uẩn, tín đồ Phật giáo rất nhiệt thành sống trong đời Đường Hiển Tông (806-820). Ông bỏ hết của cải vào một cái thuyền rồi đánh chìm đi.
– Bố Đại: hiệu của một vị hoà thượng sống vào đời Hậu Lương (907-923) thường đeo đãy vải đi xin ăn, sống đời vô định.
– Phổ Hoá: hoá độ khắp cả, có lẽ là pháp danh một vị thiền sư.
– Niên quang quá khích: ý nói ngày tháng qua mau. Sách Trang Tử, thiên Trí bắc du: “nhân sinh thiên địa gian, nhược bạch câu chi quá khích”: con người ta sinh ra trong trời đất, tựa như con ngựa trắng non vụt thoáng qua khe cửa.
– Phú quí phù vân: ý nói giàu sang không bền, không đáng quan tâm. Sách Luận Ngữ, thiên Thuật nhi: “Bất nghĩa nhi phú thả quí, ư ngã ư phù vân”: ta coi sự giàu sang bất nghĩa như đám mây nổi.
– Thâm tắc lệ, thiển tắc kệ: Kinh Thi, thiên Bội phong; câu có nghĩa là để cả áo mà lội, nông thì xăn (vén) lên. Chữ “lệ” trong nguyên văn là để cả áo mà lội; có lẽ vì nhu cầu của câu thơ dịch nên dịch giả dịch là “sâu thì cởi”.
– Dụng tắc hành, xả tắc tàng: Sách Luận Ngữ, thiên Thuật nhi; lời Khổng tử nói với cao đệ là Nhan Hồi: “Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng; duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù”: dùng thì ra gánh vác, bỏ thì lui về ở ẩn; chỉ có ta với ngươi được như vậy chăng?
(45) Một hôm vua Lê Thánh Tông đi du ngoạn đến cổng chùa Ngọc Hồ thì gặp một giai nhân tuyệt sắc. Vua ứng khẩu đọc thơ ướm lòng thì người đẹp hoạ lại. Vua mời thì nàng lên xe ngồi cạnh vua (bởi vậy người ta gọi nàng là “Bồi Liễn tiên nương”) để về cung. Nhưng đến cửa Đại Hưng thì nàng bay lên trời mất. Vua tiếc ngẩn ngơ và sai dựng ở đó một cái lầu để trông ngóng gọi là Vọng Tiên lâu. Sau đó ở gần lầu này người ta dựng một cái đền gọi là Vọng Tiên quán. (Theo Hoàng Trọng Miên trong “Việt Nam Văn Học Toàn Thư”, q. II).
(46) Trước năm 1945, học giả Hoàng Xuân Hãn, trong mục đích khảo đính truyện Bích Câu Kì Ngộ, đã thân hành tới đền Tú Uyên ở phố hàng Bột, Hà Nội, khoảng giữa Văn miếu và sân vận động; lần đầu tiên ông đến còn có một cái hồ mà một cụ già còn cho ông biết đó là di tích của dòng nước Bích câu. (“Bích Câu Kỳ Ngộ”, nhà xb. Đại học Huế, 1964).
(47) Nguyễn Thiếp là một nhà nho ẩn cư để giữ tư cách thanh cao. Tuy nhiên ông vẫn giúp đời bằng cách mở trường dạy học và về sau làm cố vấn (tại gia) cho vua Quang Trung. Nhà vua lấy lễ đối với bậc thầy mà đãi ông. Tương truyền trước khi ông theo đạo tu tiên, một hôm ông cùng đám học trò tới huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An thăm mộ Phạm Viên và làm bài thơ như sau: “Nghe nói Đông Thành có Phạm Viên, Không theo Khổng Mạnh lại theo tiên. Bây giờ ngoài xóm mồ trơ đó, Mới biết nhân gian đồn hão huyền!”. (Ý nói tu tiên đắc đạo làm sao còn chết?). Lát sau trời bỗng tối sầm, mưa gió nổi lên. Thầy trò phải lần đường mà đi, nhưng quanh co lạc mất lối về. Lúc quá mệt rồi mới thấy ánh lửa từ xa. Thầy trò đi tới thì thấy một quán nhỏ có một cụ già đang thổi cơm. Thầy trò mò vào xin ăn và ngủ trọ qua đêm. Sáng hôm sau trở dậy, họ thấy mình nằm trên bãi cỏ, quán xá chẳng còn đâu, mới biết Phạm Viên dùng phép để trả lời bài thơ. Từ đó ông tin và theo đạo tu tiên. (Thuật theo Nguyễn Văn Hầu trong “Việt Nam Tam Giáo Sử Đại Cương”, Phạm Văn Tươi xb., Sài gòn, 1957).
(48) Dựa theo Hoàng Trọng Miên trong “Việt Nam Văn HọcToàn Thư” (VNVHTT) q. II. Cùng nhân vật này, trong “Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện” (NHDNLT), Phan Kế Bính kể tên là Trần Lộc.
(49) Cùng theo VNVHTT, q. II. Trong NHDNLT, truyện Liễu Hạnh tiên chúa, Phan Kế Bính kể là triều đình sai thầy phù thuỷ và Trịnh hoàng thúc đem quân đi tiễu. Quan quân bắn vào trong núi tàn phá đền đài. Vai trò của phép thần thông ở đây rất lu mờ.
(50) Tới đầu thập kỉ 40 của thế kỉ XX, người viết còn là một đứa nhỏ, một lần theo người lớn đi từ Nam Định vào Thanh Hoá, ghé qua đền Sòng, thấy những đàn cá đông đúc bơi lượn thoải mái dưới khe quanh đền, có nghịch ngợm lấy một hòn đá ném xuống nước làm đàn cá vụt lặn đi. Tức thì người lớn quát khẽ, vẻ sợ hãi: Chớ! chớ! Cá thần của Thánh Mẫu đấy! Làm thế phải tội chết!
(51) Hoàn cảnh ra đời của “Chinh Phụ Ngâm Khúc”.
(52) Thí dụ “Truyền Kì Mạn Lục” của Nguyễn Dữ và “Truyền Kì Tân Phả” của Đoàn Thị Điểm cùng nhiều truyện thần tiên về thời kì này được truyền bá trong dân gian.
(53) Có lẽ thuyết “vạn pháp duy tâm hiện” của Phật giáo có thể giải thích được: ở mỗi thời đại, tuỳ theo trạng thái thay đổi của cái TÂM của chúng sinh mà thể hiện những hình thái (hiện tượng) sinh hoạt khác nhau về mọi mặt phù hợp với cái tâm ấy, kể cả tín ngưỡng.

