3

A. Sự hình thành gia đình và mối liên hệ cá nhân – gia đình nói chung

            Gia đình là đoàn thể đầu tiên, tự nhiên nhất, đơn sơ nhất, nhưng là quan trọng nhất đối với con người. Thật vậy, con người sinh ra, lớn lên là đã thấy mình sống trong sự thương yêu bao bọc của cha mẹ, anh chị em ruột thịt của mình. Đó là chỗ dựa cho đời sống vật chất và tinh thần trong quãng đầu đời của một con người cho đến khi người đó tìm được người hôn phối để tách ra lập một gia đình mới. Và cứ thế các gia đình sinh ra, đông lên và hợp thành xã hội. Do đấy, gia đình ─ chứ không phải cá nhân ─ là đơn vị căn bản của xã hội. Hình thức gia đình thích hợp nhất mà con người tiến tới được là tiểu gia đình chỉ gốm một đôi vợ chồng và con cái của họ, tức là gồm cha mẹ và những đứa con còn độc thân chung sống với nhau dưới một mái nhà (1).

            Khi những đứa con lớn lên, chúng lấy vợ, lấy chồng, lập thành gia đình riêng và sống tách ra. Họ lại sinh con và những tiểu gia đình mới thành hình. Những tiểu gia đình này liên hệ với nhau theo huyết thống và họp lại thành đại gia đình gồm ông bà, cha mẹ, con, cháu, đồng thời phát sinh ra những mối liên hệ khác như cô, chú, bác, anh, chị, em họ v.v… Khi mối liên hệ không quá xa để có thể nhận ra có chung một ông tổ thì là gia tộc. Như thế, xã hội Việt Nam mà ta biết được trong lịch sử là theo phụ hệ: con cái lấy họ cha (2).

            Chương này nhận xét về mối liên hệ giữa các thành viên, chủ yếu là trong tiểu gia đình mà quan trọng nhất là mối liên hệ con cái – cha mẹ, ta quen gọi là đạo hiếu với ảnh hưởng sâu đậm của luân lí Nho giáo, vào thời kì ta chưa tiếp nhận ảnh hưởng Tây phương.

            Ngoài bản năng truyền giống có tính cách sinh vật học thì gia đình còn phát xuất do nhu cầu tình cảm, cho nên đặc tính trội nhất của sinh hoạt gia đình là đặc tính tình cảm. Người ta thường dùng những từ như “tổ ấm”, “mái ấm gia đình” để miêu tả bầu không khí trong gia đình là ấm cúng. Vậy rõ ràng là về phương diện tình cảm, gia đình là cái nôi, là chỗ dựa, là chăn êm đệm ấm vô cùng cần thiết cho suốt cuộc đời một con người bình thường (không thoát li gia đình để đi tu, để làm cách mạng chẳng hạn).

            Sự hình thành gia đình như trên đưa đến mối liên hệ hai tầng giữa cá nhân và gia đình: tầng trên là mối liên hệ của một cá nhân với tiểu gia đình nơi mình sinh trưởng gồm cha mẹ và anh chị em ruột thịt; tầng dưới là tiểu gia đình riêng do cá nhân tự lập nên gồm người hôn phối và con cái hai người sinh ra.

            Trong mối liên hệ tầng trên thì quan trọng nhất đối với xã hội xưa là mối liên hệ của con cái đối với cha mẹ với những bổn phận phức tạp phải chu toàn mà luân lí Nho giáo gọi là đạo hiếu, nói nôm na là đạo làm con.

B. Về đạo HIẾU

Đạo hiếu nhìn chung là sự ràng buộc về tình cảm và lí trí đưa tới những bổn phận mà người con phải làm tròn đối với cha mẹ. Ta có thể gom lại thành bổn phận phải thương yêu kính trọng và vâng lời cha mẹ, báo hiếu cha mẹ, chủ yếu là phụng dưỡng săn sóc cha mẹ khi các người già yếu và sau hết là làm tang ma, cúng giỗ, thăm nom phần mộ cha mẹ khi các người qua đời.

  1. Về bổn phận kính yêu và vâng lời cha mẹ

            Bình thường một đứa bé khi qua thời kì hài nhi (từ lúc sinh ra cho đến lúc chập chững tập đi và bập bẹ học nói) thì nhận biết đầu tiên của nó là nhận biết cha mẹ, hai khuôn mặt lúc nào cũng toả ra vẻ trìu mến, tình thương yêu chan hoà đối với nó; và hai tiếng đầu tiên nó được dạy nói là để gọi một người là cha, một người là mẹ. Tình yêu thương cha mẹ sở dĩ có một phần là do bản năng bẩm sinh: đó là sự đáp ứng lại tình thương yêu của cha mẹ đối với nó (3), một phần do nhận thức về nhu cầu của chính bản thân đứa bé, và một phần nữa do giáo dục phụ thêm vào. Chính trong phần giáo dục này mà có sự khác biệt từ thời đại này sang thời đại khác, từ xã hội có nền văn hoá này sang xã hội có nền văn hoá khác, ngay cả từ gia đình này sang gia đình khác, từ cá nhân này sang cá nhân khác, vì cá tính, nhận thức, quan niệm và sự tiếp thu nền giáo dục cũng khác nhau.

            Khi chưa trưởng thành, chưa tự lập được thì việc đứa con vâng lời cha mẹ đương nhiên là cần vì thông thường bao giờ cha mẹ cũng muốn cho con hay; những lời khuyên bảo, răn đe, kể cả việc trừng phạt cũng nhằm mục đích đem lại lợi ích cho bản thân nó trước hết. Cũng vậy, khi còn thơ ấu thì đứa bé thấy cha mẹ nó là người toàn hảo: lòng kính trọng cha mẹ tự nhiên phát sinh ở đứa bé, và nó ước mong một lúc nào đó được như cha mẹ nó về mọi mặt; chẳng hạn một đứa bé trai muốn một mình cưỡi được lên con ngưạ vả phi nước đại như cha nó thường làm, một đứa bé gái muốn may được cái áo đẹp, làm được cái bánh ngon như mẹ nó v.v…

            Song càng lớn lên, cùng với các khả năng nẩy nở và kiến thức thu thập được dần dần, đứa con sẽ thấy cha mẹ nó không giỏi như trước kia nó tưởng. Nó cũng sẽ thấy cha mẹ nó có lúc phán đoán lầm, xử sự sai và bộc lộ những khuyết điểm về mọi mặt. Lòng kính trọng của đứa con đối với cha mẹ giảm dần cùng với uy quyền của cha mẹ cũng bớt theo. Đứa con cưỡng lại lời cha mẹ khi nó thấy tự do của nó bị hạn chế quá nhiều hay mất hẳn nếu nó tuyệt đối phục tùng cha mẹ. Chẳng hạn đứa con yêu và muốn kết hôn với người này thì cha mẹ nó lại muốn tình cảm của nó quay về một đối tượng khác.

            Để bù lại cái phần giảm bớt lòng kính trọng và phục tùng một cách tự nhiên đó, nền luân lí giáo dục của xã hội xưa khắc sâu vào tâm não đứa con rằng cha mẹ nó đã sinh ra và nuôi nấng nó nên người, rằng không có cha mẹ thì không thể có nó, rằng công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ đối với con bằng trời bằng biển, nhất là đối với mẹ thì nào là chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau, nào là ba năm bú mớm, giướng cứt chiếu đái, rằng con phải báo đền ơn sâu nghĩa nặng của cha mẹ suốt đời cũng không xuể được. Chu toàn bổn phận làm con đối với cha mẹ ấy là hiếu thảo, trái lại là bất hiếu; mà theo luân lí đạo Nho thì “hiếu vi bách hạnh chi tiên”; ý câu này đã được Lí Văn Phức diễn nôm trong đoạn mở đầu tác phẩm “Nhị Thập Tứ Hiếu Diễn Ca” của ông:

Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết,
Thì suy ra trăm nết đều nên.

cũng như câu ca dao:

Công cha như núi Thái Sơn,
 Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra;
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

đã được ngâm, hát lên để ru con từ thuở con còn được bế ẵm trên tay, đặt nằm ngủ trên võng. Làm con mà bất hiếu với cha mẹ thì không bằng cả giống vật vì có sách nói rằng con quạ con lớn lên rồi còn biết kiếm mồi mớm lại cha mẹ già của nó ba tháng (5).

            Đạo hiếu được luân lí Nho giáo đề cao lên hàng đầu bởi vì ngoài xã hội, Nho giáo chủ trương tôn quân quyền, mà gia đình là đơn vị căn bản của xã hội, con cái trong nhà phải tôn phụ quyền thì khi ra ngoài xã hội, ở cương vị người dân, nó mới tôn quân quyền. Cho nên chính quyền quân chủ cũng phụ hoạ đề cao đạo hiếu, như có đại tang không được dự thi (Nguyễn Đình Chiểu và nhân vật Lục Vân Tiên của ông sắp vào trường thi, nghe tin mẹ mất, khóc lóc bỏ thi về nhà chịu tang), đang làm quan mà cha mẹ chết thì được nghỉ về cư tang ba năm. Triều Lí, sau vụ các hoàng tử, nhân vua cha Thái Tổ băng, dấy loạn tranh ngôi báu với thái tử Phật Mã (tức vua Thái Tông), hàng năm các hoàng thân và quan chức phải dự hội thề ở đền thờ thần Đồng Cổ (làng Yên Thái, thuộc Hà Nội bây giờ) làm lễ rồi đọc lời thề: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất hiếu bất trung, xin quỉ thần trị tội”.

            Chữ hiếu đi liền với chữ trung trong thơ ca Nguyễn Công Trứ (1778-1858), nhà thơ tiêu biểu cho tư tưởng Nho giáo thịnh thời ở Việt Nam cho thấy mối liên hệ khăng khít giữa chủ trương tôn phụ quyền trong luân lí gia đình với chủ trương tôn quân quyền trong luân lí quốc gia:

Nặng nề thay hai chữ quân, thân,
Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ! (6)
(Nợ nam nhi)

Sắp hai chữ quân thân mà gánh vác,
Có trung hiếu đứng trong trời đất.
(Gánh trung hiếu)

            Trong xã hội quân chủ, ông vua đứng đầu trăm họ, mà ông vua trước hết cũng là người con do cha mẹ sinh ra, nên cũng phài nêu gương hiếu. Người ta kể chuyện vua Tự Đức triều Nguyễn (tr.v. 1848-1883) nổi tiếng chí hiếu, một hôm đi săn bị lạc khiến triều thần tìm kiếm hết hơi, bà Thái hậu ở nhà cũng lo lắng. Khi vua trở về tới kinh đô thì trời đã tối. Biết lỗi mình, nhà vua vào nội cung trình diện bà mẹ lúc ấy đang giận giỗi ngồi quay mặt vào tường. Ông dâng roi lên rồi nằm sấp xuống chờ mẹ đánh đòn phạt. Lúc lâu sau, bà Thái hậu quay mặt ra, lấy tay hất roi đi, quở lần sau không được như thế và bảo nhà vua hãy ban thưởng cho quần thần đã phải khó nhọc tìm kiếm. Vua quì lạy tạ, khúm núm lui ra và làm theo lệnh mẹ (7).

            Người ta cũng kể lại một câu chuyện về Tôn Thất Thuyết, viên phụ chánh đại thần triều Nguyễn, nổi tiếng đa sát, chuyên quyền đến độ làm cả việc phế lập và giết vua, một hôm mặc thường phục ra ngoài kinh thành, thấy một đứa bé mắng lại mẹ nó; ông ta theo dõi đến lúc nó ăn, nó so lại đầu đũa, ông hạ lệnh bắt đứa bé đem chém với lập luận rằng thằng bé đã biết đầu đuôi đôi đũa, tức là biết trên dưới ra sao mà còn mắng lại mẹ, nếu để tên tặc tử đó sống, sau này nó sẽ trở nên kẻ loạn thần! (8)

2. Về bổn phận phụng dưỡng cha mẹ già

            Hi vọng chính yếu, dù là xa đi nữa, mà cha mẹ nào cũng đặt vào con là có con để trông cậy khi về già. Con cái chính là hậu vận của cha mẹ: con cái tốt là hậu vận tốt, con cái không ra gì là hậu vận xấu. Cho nên cặp vợ chồng nào cũng mong có con và coi sự việc không con là một điều vô phúc đáng buồn tủi. Ở vào hoàn cảnh này, nhiều người phải nuôi con nuôi. Tục ngữ nói “trẻ cậy cha, già cậy con”, đó là điều tất yếu. Chính thời gian phụng dưỡng săn sóc cha mẹ già là lúc người con báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ đối với mình một cách cụ thể nhất. Đó là thời gian cuối đời, cha mẹ không những không còn đủ sức làm việc để tự cấp tự túc, mà cũng không còn đủ sức để tự săn sóc mình được nữa. Đó là lúc cha mẹ cần đến con nâng nhấc từ bước đi đến lúc nằm ngồi, chăm sóc từ miếng ăn giấc ngủ đến lúc ốm đau bệnh tật; lại cũng có thể là giường cứt chiếu đái, con cái còn phải lo đến cả việc vệ sinh cá nhân cho cha mẹ già yếu hay tàn tật nữa. Đó là một bổn phận phải chu toàn vì tính cách cần thiết không những trong phạm vi luân lí gia đình (đạo hiếu) mà còn trong phạm vi đạo đức xã hội (tình nhân đạo), trong lúc mà việc chăm sóc người già chưa trở thành một nhiệm vụ chung của xã hội.

            Mặc dầu xã hội xưa đặt đạo hiếu lên hàng đầu của nền luân lí, khen lao những người con hiếu thảo, chê bai dè bỉu, kể cả trừng phạt những đứa con bất hiếu, vẫn có những đứa con đối xử tệ bạc hay bỏ bê cha mẹ già, hoặc nuôi cha mẹ vì mục đích vị lợi như nhằm vào phần gia tài mà cha mẹ (vào hạng giàu có) có thể chia cho mình. Cũng chính vì xã hội đặt quả cân quá nặng vào đạo hiếu, cùng với tinh thần trọng lễ của Nho giáo nên một thứ hiếu thảo quá chuộng hình thức đã nẩy sinh: không ít người con hiếu chỉ cốt lấy tiếng với đời, cốt được dư luận khen mà không có tình cảm chân thật bên trong. Chẳng hạn trong cuộc sống hàng ngày thi coi rẻ mẹ cha, nhưng đến khi có dịp phô trương với người ngoài như mừng thọ hay ma chay thì lễ lạc, cỗ bàn linh đình long trọng. Cho nên có câu ca dao mỉa mai:

Lúc sống thì chẳng cho ăn,
Đến khi chết xuống, làm văn tế ruồi!

            Cha mẹ nuôi con thơ so với con cái chăm sóc cha mẹ già đều vất vả khó nhọc, nhưng tâm lí đã khiến cho hai gánh nặng này “nặng, nhẹ” khác nhau đối với người gánh. Trước hết thời gian nuôi con thơ là thời gian cặp vợ chồng còn son trẻ, tình yêu đôi lứa khiến họ quí hoá đứa con ngây thơ, thường là bụ bẫm kháu khỉnh, là kết quả cụ thể nhất của tình yêu của họ. Sau nữa, nuôi con thơ là đầu tư cho tương lai, đứa bé lành mạnh nào cũng mang trong mình nó bao hứa hẹn, cũng là niệm hi vọng của cha mẹ nó về một tương lai tốt đẹp hơn.

            Nếu hình ảnh đứa con đang lớn là hình ảnh tương lai đang rộng mở thì hình ảnh cha mẹ già là hình ảnh của quá khứ đang lùi dần vào bóng tối của sự quên lãng, của ngọn đèn cạn dầu đang tàn lụi dần và bóng đen của thần chết đang thấp thoáng ló dạng. Cho nên con cái khi nuôi cha mẹ già nếu thiếu tình thương yêu, lòng kính trọng, dư hưởng của một quá khứ trong đó mối liên hệ cha mẹ – con cái là tốt đẹp thì con cái sẽ nẩy sinh tâm trạng buồn nản của kẻ chờ đợi…, hoặc tệ hơn, tâm trạng của một con nợ đang phải trả một món nợ dài vô hạn cho các vị chủ nợ khó tính, và trong nhiều trường hợp, con nợ mong mỏi thời hạn trả nợ mau chấm dứt: các cụ xưa hẳn cũng đã nhận ra được sự thật chua chát ấy trong câu tục ngữ:

Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,
Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.

            Để đánh bạt cái tâm trạng nêu trên, luân lí xưa đã phải để nhiều công phu nhắc nhở công lao như non cao biển rộng của cha mẹ như một đoạn trên đã trình bày và đề cao những tấm gương hiếu thảo của cổ nhân còn để lại trong sử sách. Ngoài bộ Hiếu Kinh là sách giáo khoa mà các cậu học trò tóc còn để chỏm cắp sách đến trường đã được thầy đồ bắt học ra rả, người ta còn viết truyện, diễn thơ, vẽ tranh sự tích về những người con hiếu thảo để răn dạy về đạo hiếu. Cuốn Nhị Thập Tứ Hiếu của tác giả Trung Hoa Quách Cư Nghiệp đáp ứng đúng yêu cầu giáo dục này đã được tác giả Việt Nam Lí Văn Phức (1785-1849) diễn nôm ra thể song thất lục bát và được các hoạ sĩ vẽ thành tranh in ra để dân gian mua về treo trong nhà vừa để trang trí, vừa để giáo dục con cái. Tác phẩm nêu gương sáng của hai mươi bốn người con hiếu tiêu biểu thời xưa ở đủ mọi lứa tuổi, đứng đầu là hai ông vua (Thuấn và Hán Văn đế), rồi đến các bậc hiền nhân của đạo Nho như Tăng Sâm, Tử Lộ, tiếp đó là đa số các ông quan (kể cả lúc còn hàn vi), tầng lớp người có học, hiểu biết lễ nghĩa, thầm nhuần đạo lí thánh hiền, có thể làm mẫu mực cho người đời.

            Đọc qua các câu chuyện được tóm tắt đó, ta thấy hầu hết đều diễn tả tình cảm đơn phương của con cái hướng về cha mẹ làm nền cho những hành động mà hai ông nhà nho họ Quách, họ Lí thấy đáng nêu gương cho thiên hạ. Song nếu tạm gác tình cảm sang một bên để dùng trí suy luận thông thường mà xét, rõ ràng ta thấy có những hành động ấu trĩ ngớ ngẩn (9), nếu không là giả tạo để lấy tiếng hiếu thì cũng là ngu hiếu.

Thử nếu một vái thí dụ: Lão Lai 70 tuổi tóc bạc phơ mà cha mẹ vẫn còn sống, ông giả vờ làm trẻ thơ mặc áo sặc sỡ múa may, hoặc khóc oa oa để cha mẹ vui, Đàm tử đội lốt hươu vào rừng sống lẫn lộn với hươu để vắt sữa hươu nuôi cha mẹ, suýt bị thợ săn bắn lầm (trong thực tế việc này có thể làm được không, và có cần thiết phải làm  như vậy không?); Ngô Mãnh nằm cho muỗi đốt no để chúng khỏi đốt cha mẹ vì nhà nghèo không có màn. Nhưng hành động vô lí đến độ dã man là Quách Cự cùng vợ đem con thơ đi chôn sống để nó khỏi ăn phần bà mẹ vì bà cứ chia sớt cho cháu (một bà nội thương cháu như vậy mà biết việc này thì sẽ ra sao?). Dĩ nhiên trong đời sống thực không thiếu gì những người con hiếu thảo, nhưng vì muốn đề cao đạo hiếu đến cực độ nên tác giả đã cường điệu hoá quá mức hành động của nhân vật đến độ không đếm xỉa gì đến sự hợp lí, đến sự thực ở ngoài đời nữa.

Nhà nho cách mạng Phan Chu Trinh đã phải phẫn nộ với thứ ngu hiếu hủ lậu này. Ông cũng chỉ rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ trương tôn phụ quyền trong luân lí gia đình với chủ trương tôn quân quyền trong luân lí quốc gia của chế độ quận chủ chuyên chế, và ông lên án cả hai thứ luân lí ấy của mấy ông hủ nho tàu và ta đã làm cho nước yếu dân hèn để cho các đế quốc phương Tây đến xâm lăng, cai trị.

Các ông đã tôn vua lên, tất nhiên các ông phải tôn cha lên mà nói: “Thiên hạ bất thị để phụ mẫu”, nghĩa là trong trời đất không có cha mẹ nào quấy. Ôi hủ nho! hủ nho! Cũng vì mấy câu tà thuyết của các người mà gia đình luân lí của nước nhà ta ngày nay truỵ lạc đến thế này!

Tôi xin kể ra đây một câu chuyện rất tầm thường, mắt ta thường thấy mà tưởng ít ai chú ý đến. Chuyện lạ ấy là chuyện bài ca và mấy bức tranh nhị thập tứ hiếu loè loẹt trên vách nhà người Nam ta ngày nay, những bức tranh gai mắt ấy, những câu ca rườm tai ấy tả ra câu chuyến rất vô lý dị đoan bày rõ một cái án tội nhân của đạo đức Khổng Mạnh. Kẻ tốt quá, người xấu quá đã không nhằm vào đâu, mà những việc tả ra đó y như là quỷ thuật, không phải là sự ăn ở thật của loài người. Các anh em thử nghĩ bụi tre mùa đông lá đã rụng hết, khóc thế nào mà mọc được măng, nằm trên giá thế nào mà cá nhẩy lên được?

Những chuyện hoang đàng ấy là tự Quách Thủ Chính đời nhà Minh làm ra chớ không phải đã lâu. Nhiều người mắc mưu Thủ Chính đem các bức tranh ấy treo vào vách thay mặt cho đạo Nho, thế mà không ai dám chê bai đến. Luân lí gia đình như thế thì làm sao mà không lụn bại cho được. (“Đạo đức và luân lý Đông Tây”, bài diễn thuyết tại Nhà Hội Việt Nam ở Sài gòn đêm 19 tháng 11 năm 1925; trích trong “Phan Chu Trinh” của Thế Nguyên).

3. Về bổn phận đối với cha mẹ khi các người qua đời

a) Tang lễ

 Khi cha mẹ qua đời là lúc con cái biểu lộ lòng hiếu thảo của mình ở cao độ lần chót: khóc lóc là để tỏ lòng bi ai thương tiếc dù biết ràng chẳng ai có thể sống mãi, kể lể là ôn lại kỉ niệm cũ cũng là để tỏ lòng nhớ thương (10) dù biết rằng chẳng thể nắm dĩ vãng mà lôi lại được. Đến như đưa đám mà con ─ thường là con gái hoặc con dâu ─ gào khóc lăn ra đường cản không cho người đem cha mẹ đi chôn; hay lúc hạ huyệt lăn theo xuống muốn chết theo, hoặc ngăn không cho người ta vùi lấp cha mẹ đi mất; đó là cách bày tỏ lòng hiếu của người mình chịu ảnh hưởng của tinh thần trọng lễ của Nho giáo chuộng hình thức. Đám ma mà không có tiếng khóc than kể lể được phụ hoạ bàng tiếng nhạc bi ai thì tủi cho vong linh (có thể là tủi cho cả người sống nữa). Chẳng thế mà tục ngữ có câu “sống dầu đèn, chết kèn trống”.

            Cho nên trong đám ma nhà giàu mà không có con, hoặc vì lí do gì con đi xa không về kịp, người ta phải thuê kẻ chuyên khóc mướn khóc lóc kể lể, càng gào khóc thảm thiết càng được nhiều tiền thưởng. Thông thường tang gia phải thuê phường kèn vừa thổi điệu bi ai vừa ngâm lời kể lể nỗi tiếc thương của từng người thân đối với nguời chết (vợ, chồng, con trai, con gái, con dâu, con rể, cháu v.v…), mỗi hạng người thân có một đoạn văn riêng ─ thường làm theo thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát và biến thể ─ tuỳ theo tình cảm hoặc ơn sâu nghĩa nặng của người chết đã có từ lúc sinh thời đối với người mướn kể. Người kể mướn càng kể hay (giọng thàm lời hay) càng được nhiều tiền thưởng.

            Ngoài ra, nhà giàu sang còn có tục quàn xác người chết lâu trong nhà (11) để con cái kéo dài thời gian cúng cấp hầu hạ như lúc còn sống (12) vì thương tiếc nên cố lưu giữ lâu để tỏ lòng hiếu thảo (13). Tính chuộng hình thức nổi bật nhất vào lúc đưa đám với nghi trượng linh đình long trọng: cờ biển, minh tinh, hương án, phường bát âm, nhà táng (14), đòn khiêng quan tài càng đông phu khiêng thì đám càng lớn. Nếu người chết hoặc tang gia theo đạo Phật thì trong đám ma còn có các vị tăng ni và các bà trong hội các già (hội nữ Phật tử) cầm phướn và phù kiều (15) đi hộ niệm để tụng cầu cho vong hồn người quá cố được siêu thoát về cõi Cực Lạc. Nhiều nhà vào bậc đại gia còn lập các nhà trạm dọc đường đám ma đi (dù từ nhà ra mộ đường chẳng xa bao nhiêu: từ trong làng ra cánh đồng) để dừng quan tài lại tế lễ rềnh ràng.

            Đám ma to, đông con, cháu, chắt… đi đưa là một vinh dự cho người quá cố và cho tang gia. Con cái làm đám tang linh đình long trọng cho cha mẹ khi các người từ trần cũng là một cách báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục, một cách bày tỏ lòng hiếu thảo; song cũng nhiếu khi trở nên một cách phô trương sự giàu sang và lấy tiếng; cũng khiến có trường hợp nhiều người phải mang công mắc nợ. Chẳng biết vong hồn cha mẹ linh thiêng có ngậm cười nơi chín suối khi thấy sau đám ma to của mình, lũ con cái phải kéo cầy trả nợ?

b) Chịu tang, cúng giỗ, cải táng, xây mộ

            Làm xong đám tang chưa phải là xong bổn phận cuối cùng của con cái đối với cha mẹ. Ngoài những lễ nghi tôn giáo sát sau đám tang, con cái còn nhiều bổn phận khác đối với cha mẹ đã khuất. Lễ nghi tôn giáo ─ thường là Phật giáo pha lẫn Nho giáo và tập tục ─ như mở cửa mả (ba ngày sau khi mai táng), thất thất lai tuần tức là cứ bảy ngày một lần kể từ ngày mất, tang gia lên chùa hay mời các vị tăng ni về nhà làm lễ cầu siêu, đến tuần thứ bày (49 ngày) thì làm lễ cầu siêu lớn. Còn có thể làm lễ bách nhật (100 ngày kể từ ngày mất), còn gọi là “tốt khốc”, đây là theo Nho giáo, có nghĩa là hết khóc. Hàng năm con cháu phải làm cỗ cúng vào ngày giỗ (kị nhật: ngày kỉ niệm cha mẹ từ trần theo âm lịch). Ngoài giỗ đầu tức là một năm tròn sau ngày cha mẹ mất và giỗ năm thứ hai để bỏ tang phục (16) phải làm kĩ: mời đông đủ họ hàng và những người thân tình đã giúp đỡ, phúng viếng, đi đưa đám, còn các giỗ sau có thể làm đơn giản hơn. Nhà theo đạo Phật thì ngày rằm tháng bảy âm lịch hàng năm (lễ Vu Lan hay xá tội vong nhân), con cái còn phải làm lễ tại chùa hay tại nhà để cầu siêu cho cha mẹ, cộng thêm với việc đốt vàng mã để “tiếp tế” cho người đã khuất đủ tiền bạc, vật dụng như khi họ còn tại thế, những thứ mà người sống nghĩ là cần thiết cho “đời sống của người chết” ở dưới âm phủ (17).

            Tuy nhiên, những nhà giàu có thường mượn dịp cúng giỗ để mời họ hàng bà con thân thuộc cùng bạn bè đến nhà để thết đãi, trả công, trả ơn, trả nợ miệng (18), ăn uống linh đình tốn kém. Người được mời cũng phải đem lễ vật đến như rượu, hương hoa, trái cây v.v… cũng tốn lây.

            Xong xuôi đám tang, con cái còn phải lo xây mộ phần cho cha mẹ nếu là hung táng (chôn một lần để vĩnh viễn), hoặc lo cải táng (cũng gọi là cát táng), tức là lúc đầu chôn tạm, mộ chỉ được đắp đất dựng bia chứ không xây. Sau từ ba năm trở đi, liệu da thịt tiêu tan rồi thì làm lễ rồi bốc (hốt) lấy xương, rửa sạch bằng nước thơm hay rượu, cho vào tiểu sành (19) rồi chôn lại, lúc bấy giờ mới xây vĩnh viễn. Tục cải táng không biết có từ bao giờ, nhưng lúc đầu có lẽ có nguyên do bất thường như tác giả Phan Kế Bính bàn trong cuốn “Việt Nam Phong Tục” như sau:

Một là vì nghèo, khi cha mẹ mới mất, không tiền lo liệu, mua tạm cỗ ván xấu, đợi xong ba năm thì cải táng, kẻo sợ ván hư nát thì hại đến di hài.

Hai là vì chỗ đất mối, kiến, nước lụt thì phải cải táng.

Ba là vì tin ở các thầy địa lý…  (tr. 15)     

            Rồi sau đó cải táng trở thành tục lệ nhà nào cũng phải theo để bảo vệ di cốt cha mẹ được lâu dài (20). Cũng nhằm mục đích giữ di cốt được lâu, người ta còn bỏ nhiều tiền ra sắm quan tài bằng gỗ thật tốt (21), xây mộ thật kĩ để nước khỏi vào làm mục nát mất xương, xây nhà mồ thật to thật đẹp bên trên. Nhà giàu thì ngay khi tuổi về già, cha mẹ đã tự sắm quan tài để sẵn trong nhà (22) và xây sinh phần (phần mộ chờ sẵn); hoặc con cái lo liệu cho cha mẹ nhìn thấy những thứ mình sẽ được hưởng sau khi chết.

            Sự lo xa và sửa soạn quá kĩ cho cái chết của bản thân người già, mối bận tâm về hậu sự của cha mẹ bắt nguồn từ niềm tin về sự liên hệ giữa kẻ sống với người chết, chúng tôi sẽ nói thêm sau, nhưng quả là điều này đã làm hao tốn quá nhiều công sức và tiền bạc, vì cùng với tín ngưỡng, cũng có chen vào cái tâm lí phô trương: khoe giàu, khoe sang, khoe lòng hiếu thảo với đời nữa.

            Lại vẫn tính chuộng hình thức là cách chịu tang: ngay sau khi cha hay mẹ vừa tắt thở, người ta đã phải may hàng loạt tang phục cho con cháu, xé hàng loạt vải trắng cho họ hàng thân thuộc đến làm lễ viếng thì chít vào đầu, dù có người chỉ dùng trong chốc lát, cho đến đưa đám xong rồi bỏ đi. Sau khi khâm liệm, quan tài được đặt giữa gian nhà chính, con cái làm lễ thành phục là quần áo thường ngày được xếp lại, thay áo quần bằng vải sô trắng (vải thưa xấu), thắt lưng bằng dây đay hoặc gai, chân đi đất hoặc dép rơm; con trai đội khăn bện bằng bẹ chuối khô, chống gậy tre (nếu cha chết), hoặc gậy vông (nếu mẹ chết), con gái, con dâu đội mũ mấn (trùm đầu), chắt (bốn đời) chít khăn vàng, chút (năm đời) chít khăn đỏ (23).

            Ngoài ra con cái còn phải nằm ổ rơm chiếu rách (không được ngồi nằm giường cao trải chiếu hoa), ăn bát sành đũa tre (không được ăn bát sứ đũa son), đầu tóc để rối (không được chải chuốt phấn son). Tóm lại là phải từ bỏ nếp sống tốt đẹp ngày thường và khoác vào mình một màu tang tóc bi ai. Trong suốt thời kì có đại tang (tang cha mẹ đẻ, cha mẹ chồng và chồng), trong nhà con cái không được tổ chức các cuộc vui như cưới hỏi, tiệc mừng…, cũng không được dự các cuộc vui (xem hát, đám cưới, đám khao…), đi ra ngoài phải mặc đồ tang trở; áo may trái sống, áo quần sổ gấu, chít khăn bỏ moi, mà không được mặc đẹp (áo quần màu tươi, sặc sỡ, nhất là màu đỏ), không được chải chuốt, trang điểm, đeo đồ trang sức. Người ta còn kể vào một thời kì nào đó có đại tang, vợ chồng không được “gần gụi” nhau, có trường hợp sau khi mãn tang, người chồng cũng chết luôn, không kịp có con trai, thành ra cha mẹ không có người thừa tự; từ đây người ta mới chấp nhận cho các bà vợ có bầu trong thời kì đại tang!

            Đến thời kì để tang lại cũng là một mớ những qui định phiền tạp có tính cách võ đoán. Từ đại tang lâu nhất là hai mươi bốn đến hai mươi bảy tháng tới tiểu tang một năm (chồng để tang vợ, cháu để tang ông bà, cháu để tang chú bác ruột, anh chị em ruột để tang nhau) cho đến họ hàng xa dần là chín tháng, năm tháng, ba tháng. Ở đây tinh thần trọng nam khinh nữ biểu lộ rõ nhất là con dâu phải chịu đại tang bố mẹ chồng mà con rể chỉ phải chịu tiểu tang bố mẹ vợ. Trong khi bố mẹ chồng còn sống mà cha mẹ ruột chết, người đàn bà chỉ được để đại tang nếu bố mẹ chồng rộng lượng cho phép. Vợ phải để đại tang cho chồng trong khi chồng chỉ để tiểu tang cho vợ. Các chi tiết về việc phụng sự cha mẹ lúc còn sống, các nghi thức phải theo lúc cha mẹ chết (làm đám tang) ở các đại gia thường được qui định tỉ mỉ trong quyển sách gọi là “gia lễ” (thí dụ “Thọ Mai gia lễ”) để mọi người trong gia đình theo đó mà tuân thủ.

            Thật ra thì từ vị tổ sư của đạo Nho là đức thánh Khổng cho đến các nhà nho chân chính về sau đều lấy tình cảm chân thành từ đáy lòng (cái Tâm) làm trọng như các cụ thường nói “hiếu tại tâm” hoặc để “tâm tang”. Trong khi hành lễ cũng phải lấy sự thành tâm làm trọng, nghi lễ chỉ là phương tiện biểu lộ cái tâm vô hình và làm mẫu mực cụ thể cho người đời noi theo. Nhạc là để tăng thêm vẻ long trọng cho lễ là hình thức bên ngoài và điều tiết tình cảm bên trong phát lộ cho vừa phải mà không quá độ. Nhưng tinh thần thượng lễ của Khổng tử về sau bị hiểu sai và mất dần cái ý nghĩa đích thực bên trong, mà chỉ còn cái hình thức rỗng tuếch. Người ta chỉ dựa vào những qui tắc như “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” (24) hoặc “sinh, sự chi dĩ lễ; tử, sự chi dĩ lể” (25) để bày vẽ thêm mãi ra những nghi thức rườm rà, mà quên rằng đó chỉ là phương tiện, lại lấy đó làm mục đích để đánh giá, rồi khen chê, tạo thành trong xã hội cái tâm lí đua đòi, chạy theo hình thức quá tốn hao tiền bạc, lãng phí thì giờ.

            Hậu quả là người con trưởng thành thấy bổn phận báo hiếu trở nên một gánh nợ năng nề không những khi cha mẹ còn sống và trở nên già yếu phải phụng dưỡng săn sóc là đương nhiên thường tình, mà còn kéo dài quá lâu sau khi cha mẹ khuất bóng nữa. Phần thì giờ, nhân lực và tài lực tốn hao vào những lễ nghi phiền toái ấy có thể dùng vào biết bao việc hữu ích hơn nhiều cho những người còn sống đang cần đến. Chính đức Khổng tử cũng đã nhận thấy sự xa xỉ phí phạm trong lễ nghi của người đồng thời với ngài, nên có nói: “Lễ, dữ kì xa dã, ninh kiệm; tang, dữ kì dị dã, ninh thích” (nghĩa là: lễ mà xa xỉ thì tiết kiệm còn hơn; tang mà phô trương quá thì thương xót còn hơn”). Nhà nho Nguyễn Khuyến cũng chủ trương đơn giản bớt lễ nghi trong đám tang và dặn con cháu trong bài “Di chúc”:

Tế, đừng có viết văn mà đọc,
Trướng, đừng dùng gấm vóc làm chi!
Minh tinh con cũng bỏ đi,
Mời quan đề chủ (26) con thì chớ nên.
. . . . . . . . . . . .
Việc tống táng lăng nhăng qua quít,

C. Về mối liên hệ cha mẹ đối với con cái

            Khi một đôi trai gái yêu thương nhau rồi kết hôn với nhau (27), đương nhiên họ phải nghĩ rằng họ sẽ có với nhau những đứa con và cùng có bổn phận đối với chúng, tức là bổn phận làm cha mẹ. Ngay cả trước khi đứa con ra đời, nó còn là cái bào thai nằm trong bụng mẹ, đôi vợ chồng đã tưởng tượng ra hình ảnh nó bụ bẫm, kháu khỉnh, rồi càng lớn nó càng trở nên thông minh, ngoan ngoãn. Họ cũng phác ra trong đầu óc biết bao dự định về việc nuôi dạy, gây dựng cho đứa con thành người lương thiện, hữu dụng hoặc hơn nữa, thành người giỏi giang lập được sự nghiệp nổi danh với đời để mình được thơm lây (28) vì “con hơn cha là nhà có phúc”.

            Bản năng sinh tồn khiến con người và loài vật muốn kéo dài đời sống vô hạn định (ham sống sợ chết, muốn trường sinh bất tử), nhưng trước giới hạn là cái chết, qui luật khắc nghiệt không loài nào vượt qua được, thì con người cũng như loài vật đều muốn sinh con để bảo vệ và phát triển giống nòi đến mãi mãi (29).

            Về mặt vật chất, đứa con chính là đời sống của cặp vợ chồng được nối dài ra bằng chính phần khí huyết của hai người hợp lại. Về mặt tâm lí thì đứa con là niềm hi vọng về một tương lai đẹp đẽ hơn của cặp vợ chồng, vì cha mẹ thường mong con cái có được những thứ mà cuộc đời mình không thể có. Chẳng hạn cha mẹ ít học thì muốn con học cao, cho nên sẵn lòng gắng công gắng sức dạy con, hoặc thắt lưng buộc bụng, bóp mồm bóp miệng, chắt chiu từng đồng từng chữ để cung ứng cho con ăn học thành tài. Trường hợp cha mẹ đã là bậc tài giỏi, giàu sang, có sự nghiệp hơn đời rồi thì muốn con cái nối được nghiệp nhà. Thường thì cha mẹ cũng nêu lên những ưu điềm cùa mình để con cái bắt chước, phát huy thêm, chỉ ra những khuyết điềm để chúng tránh khỏi.

            Cho nên sẽ không sai lầm khi nói rằng tình thương yêu của cha mẹ đối với con cái là một thứ bản năng được thăng hoa đến độ trở thành một thứ tình cảm tự nhiên (30), mạnh mẽ, vô tư và thiêng liêng nhất của con người đối với đồng loại (31). Chỉ có cha mẹ mới sẵn sàng hi sinh tối đa cho con cái mà không đòi hỏi sự đáp ứng tương xứng, vì như một thành ngữ đã chỉ ra rằng “nước mắt chảy xuống”, cha mẹ bao giờ cũng thương yêu con cái nhiều hơn là điều ngược lại.

            Dĩ nhiên con cái cũng là niềm hi vọng về một sự bảo đảm hậu vận cho cha mẹ, nhưng niềm hi vọng này chỉ lớn lên và rõ rệt khi cha mẹ về già và thấy con nên người, có thể báo hiếu được, tức là chúng phải có đủ khả năng, phương tiện và… lòng hiếu thảo nữa, dĩ nhiến! Nếu thiếu một trong những điều kiện trên thì sự báo hiếu khó thực hiện được đầy đủ; hoặc con cái bội bạc, hoặc chúng quá nghèo khổ. Còn khi đang phải nuôi dạy con cái thì cha mẹ chưa dám hi vọng gì nhiều, và thường nghĩ rằng bổn phận nuôi dạy con cái là món nợ đồng lần: cha mẹ ta đã vất vả dưỡng dục ta thì bây giờ đến lượt ta phải khó nhọc nuôi dạy lại con cái ta, thế thôi!

            Tuy vậy, trong xã hội tôn sùng Nho giáo thời xưa, do luân lí hiếu được gán cho tầm quan trọng hết sức đặc biệt, đưa đến tâm lí chuộng lễ nghi hình thức trong việc biểu lộ lòng hiếu thào, nhiều bậc cha mẹ cũng nẩy sinh tâm lí tự cho mình có quyền vô hạn trong việc đòi “món nợ hiếu” ở con cái: cha mẹ muốn gì con cái cũng phải cố mà chiều theo cho đúng ý, dù cho khó đến đâu, có thế mới là chí hiếu. Cực đoan hơn nữa là một số bậc cha mẹ coi con cái như một thứ tài sản riêng của mình, một thứ nô lệ như cha mẹ có thể bán con nhỏ hoặc giết con mà không bị tội hình (chỉ bị dư luận lên án), con cái dù lớn rồi vẫn phải tự coi như vị thành niên đối với cha mẹ, phải tuyệt đối phục tùng (cung kính bất như tùng mệnh); trái ý cha mẹ là bất hiếu, bị dư luận chê bai dè bỉu:

Cá không ăn muối cá ươn,
Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư. (ca dao)

            Trong đời sống thực tế, nhiều bậc cha mẹ chăm lo cho con cái đủ thứ: lo từ lúc con lọt lòng cho đến lo bổn phận cuối cùng là dựng vợ gả chồng để được thấy đứa con nào cũng yên bề gia thất, có cơ ngơi (nhà cửa, ruộng vườn hay nghề nghiệp) đủ bảo đảm được cuộc đời của con trước khi cha mẹ nhắm mắt. Cha mẹ thuộc lớp giàu có, quyền thế có khi còn quá lo cho con đến độ lo liệu hết mọi thứ, kể cả việc chạy chọt địa vị xã hội cho chúng nữa, lo lấn cả sang phần của chúng đến nỗi có những đứa con trở nên ỷ lại, mất óc sáng kiến, thiếu chí tự lập vì mẹ cha đã lo hết cho rồi. Còn cha mẹ thuộc lớp nghèo hèn thì bản thân sẵn sàng chấp nhận hi sinh mọi thứ để lo cho con nên người, vì khi con thành công, mình sẽ được nở mày nở mặt với đời. Trường hợp sau này thì phải kể công các bà mẹ Việt Nam từ xưa vốn nổi tiếng là giàu đức hi sinh, lại có tài đảm đang, tần tảo, luôn luôn là chỗ dựa vừa êm ái, vừa vững chắc cho chồng con.

            Trong khi đó thì người cha đóng vai bậc nghiêm phụ cầm cân nẩy mực, sẵn sàng răn đe các con để chúng không lợi dụng được bản tính hiền từ của bà mẹ hầu tránh nạn “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”.

            Đó là đối nội, còn đối ngoại thì vai trò người cha quan trọng hơn: ông phải lo tranh đấu để có được một địa vị xã hội nào đó, đem lại danh giá, có khi là cả cái uy thế che chở cho gia đình, đem về mọi nguồn phúc lợi vật chất cho vợ con, cho nên mới có những câu tục ngữ như:

Con có cha như nhà có nóc.
Còn cha, gót đỏ như son,
Mất cha, gót mẹ gót con đen xì!

Nhưng để bảo đảm hạnh phúc thật đầy đủ cho đàn con thì phải nhờ đến bàn tay nội trợ chăm sóc tỉ mỉ chu đáo của người mẹ, từ nồi cơm thơm dẻo, bát canh ngọt ngào cho đến manh quần đẹp, tấm áo mới. Bởi nếu người mẹ chết khi đàn con còn nhỏ dại, người cha không chịu nổi cảnh cô đơn “gà trống nuôi con” mà tục huyền thì cũng dễ dưa đến cảnh:

Còn mẹ, ăn cơm với cá;
Mất mẹ, liếm lá đầu chợ.

D. Về tình anh chị em ruột thịt

            Anh chị em cùng cha mẹ sinh ra, về phương diện thể chất được coi thân thiết như các bộ phận trong cùng một cơ thể con người: như tay với chân, khúc ruột trên, khúc ruột dưới v.v… vì cùng do khí huyết của cha mẹ sinh ra. Về phương diện tình cảm, anh chị em ruột gắn bó với nhau vì chung sống dưới một mái nhà từ lúc lọt lòng mẹ đến khi trưởng thành, đi lập gia đình riêng; cùng chia sẻ với nhau biết bao nỗi vui buồn sướng khổ, có với nhau biết bao kỉ niệm thời thơ ấu. Cho nên mối liên hệ này nặng về tình cảm hơn là lí trí, và bổn phận đối với anh chị em cũng do tình cảm điều khiển để chu toàn hơn là do lí trí bắt buộc.

            Thành ngũ tiếng Việt nói đến tình huynh đệ diễn tả rất rõ điều này: tay đứt ruột xót, máy chảy ruột mềm, môi hở răng lạnh, nồi da xáo thịt… Sự kiện này cũng hợp với tâm lí tự nhiên: anh chị em cùng trang lứa dễ thông cảm với nhau hơn là đối với cha mẹ đã có khoảng cách thế hệ: thời đại thay đổi, nếp sống và quan niệm sống thay đổi dễ đưa đến sự xung khắc giữa cha mẹ và con cái.

Nói chung, nền luân lí xưa nhấn mạnh đến các qui tắc cư xử sau đây để giữ vẹn tình huynh đệ:

  1. Sự hoà mục

Anh chị em khi còn sống với nhau dưới mái nhà cha mẹ cũng như khi đã lập gia đình riêng, phải thương yêu nhường nhịn lẫn nhau, mà không được bất hoà xích mích, hoặc tệ hơn nữa tranh chấp xung đột như câu ca dao khuyên nhủ:

Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân.
Anh em như thể tay chân,
Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy.

Người ta thường khuyên rằng anh em lỡ có giận nhau thi chém nhau đằng sống (dao), chứ đừng chém nhau đằng lưỡi (dao); người ta cũng chê cười những gia đình xẩy ra cảnh “huynh đệ huých tường”, kiện tụng tàn hại lẫn nhau chỉ vì tranh chấp gia tài chẳng hạn, là nhà vô phúc; nhắc nhở khuyên nhủ anh em trong nhà phải đoàn kết tương trợ bằng những câu chuyện thật hoặc ngụ ngôn, như chuyện anh em nhà Tây Sơn bất hoà đánh lẫn nhau: Nguyễn Huệ đem quân vây thành Qui Nhơn, Nguyễn Nhạc phải lên thành khóc và đưa bài thơ “sao răng lại cắn môi”, Nguyễn Huệ mới chịu rút quân; hoặc câu chuyện cổ kể người vợ giết chó khuyên chồng hãy thương yêu em ruột hơn là giao du với bạn xấu. Quốc Văn Giáo Khoa Thư bậc tiểu học thời Pháp thuộc cũng kể câu chuyện ngụ ngôn người cha phú hộ đem bó đũa ra bảo lũ con từng đứa bẻ thử, đứa nào bẻ gẫy được sẽ có thưởng; tất cả đều chịu, người cha bèn tháo bó đũa ra và bẻ gẫy từng chiếc một và dạy chúng bài học đoàn kết.

Nhân chuyện người chị dâu đáng quí trong câu chuyện cổ kể trên, nên nói qua đến cách cư xử giữa anh em rể, chị em dâu, anh chị em vợ, anh chị em chồng trong đại gia đình Việt Nam thường theo qui tắc “dâu là con, rể là khách”, nhưng tựu trung vẫn lấy sự hoà thuận, tương kính và tinh thần lễ nhượng làm mẫu mực.

2. Tinh thần lễ nhượng

Tinh thần này dựa trên qui tắc tôn trọng người hơn tuổi, người sinh trước. Không kể vai trên như chú, bác, cô, dì, cậu, mợ bằng vai cha mẹ, còn anh chị em trong nhà thì em là kẻ sinh sau phải kính trọng anh chị là người sinh trước; trường hợp sinh đôi thì người nào lọt lòng mẹ trước được là anh là chị, người nào ra sau là em (32). Luân lí Nho giáo vốn chủ trương tôn quyền vua, quyền cha: trong mối liên hệ anh em thì tôn quyền huynh trưởng (anh cả). Trong trường hợp người cha chết sớm thì người anh cả được quyền thay cha (quyền huynh thế phụ), và như thế đàn con trước tuân phục cha, nay là đàn em phải tuân phục anh. Tương xứng với quyển hạn ấy là trách nhiệm của người anh cả phải thay cha lo cho đàn em: trong trường hợp mồ côi cha (hay mẹ hoặc cả cha mẹ), người anh phải làm lụng nuôi nấng dạy dỗ và gây dựng cho đàn em nên người như cha lo cho con vậy.

Trong đời sống thực của xã hội xưa, có nhiều trường hợp người anh cả phải thay cha nuôi nấng đàn em nhỏ mà quên hạnh phúc riêng của mình: không lấy vợ, hay chỉ lấy vợ khi lũ em đã trưởng thành, đủ sức tự lập rồi. Còn nếu là người chị cả ở vào trường hợp này thì có nhiều phần bị quá lứa lỡ thì, đành ở vậy làm bà cô tổ, sau này chết đi, đàn em lũ cháu phải hương khói phụng thờ.

Ngược lại cũng không thiếu những người anh cả lạm dụng quyền làm trưởng có bổn phận thờ cúng cha mẹ tổ tiên mà chiếm hết phần gia tài của cha mẹ để lại, gây nên cảnh anh thì nhà cao cửa rộng, ruộng vườn thênh thang, mà em thì nghèo khổ, vất vả mới kiếm được miếng ăn như câu chuyện cổ “Cây khế và con quạ” mỉa mai; hoặc như lời châm biếm của diễn viên hát chèo giễu cảnh anh cả đã chiếm phần lớn gia tài gồm nhà cửa ruộng đất rồi; đến khi em xin anh con trâu thì anh bảo con trâu để cầy ruộng hương hoả, xin anh con chó thì anh bảo con chó để canh giữ nhà thờ (tổ tiên), xin anh con mèo thì anh cũng bảo để nó bắt chuột khỏi phá bàn thờ (ông bà ông vải); thế là em hết xin được thứ gì! Ấy là trường hợp người em biết nhường nhịn, chứ thực tế thì cảnh anh em tranh nhau gia tài đưa nhau ra trước cửa công để mấy ông quan tham nhũng thừa dịp đục nước béo cò cũng không hiếm.

Nhưng tinh thần lễ nhượng triệt để phải tìm ở mấy ông nhà nho: ông em đỗ cao làm quan to, ở chốn công đường mọi người phải kính cẩn, mà khi về đến nhà ông anh hàn vi, vẫn phải giữ lễ tôn trưởng, người ngoài nhìn vào, khen là nhà lễ giáo nền nếp.

3.Tinh thần đoàn kết tương trợ

Đây là biểu hiện cụ thể đem lại lợi ích thiết thực nhất của tình huynh đệ mà trong tiếng Việt có những thành ngữ diễn tả ướt đẫm tình càm. Khi một người trong đám anh chị em gặp tai hoạ thì những người còn lại phài cảm thấy “tay đứt ruột xót”, “máu chảy ruột mềm” và có thái độ “một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ”. Cả bọn phải xúm lại thể hiện tinh thần “em ngã chị nâng”, và kẻ nào cư xử kiểu “đến khi chị ngã em bưng miệng cười” sẽ bị lên án. Ngoài tinh thần “lá lành đùm lá rách”, người có phải giúp đỡ kẻ khó, anh chị em còn phải bênh vực che chở nhau, khi một kẻ bị người ngoài ức hiếp, những người kia phài xúm lại bênh vực, chân bị đánh thì tay phải đỡ, tay bị giập thì chân phải đá trả; phải nâng đỡ lẫn nhau, kẻ có thế phải dìu dắt kẻ yếu thế tiến lên.

Nhưng cũng chính do mối dây ràng buộc gia đình chặt chẽ này mà phát sinh ra những tệ đoan như không cần biết phải trái, anh chị em cũng cứ bênh nhau, một người làm lớn lôi kéo anh em lên nắm giữ chức trọng quyền cao dù họ là kẻ bất tài vô hạnh, không xứng đáng với chức vụ quyền hành đó. Chính những kẻ này rồi sẽ ỷ thế làm bậy, gây nên tệ đoan bất công xã hội như cậy quyền cậy thế tham nhũng hối lộ, ức hiếp dân lành, tác hại và làm suy yếu đất nước.

E. Về các mối liên hệ khác trong gia tộc

Đó là các mối liên hệ giữa:

  • Ông bà (nội, ngoại) và cháu, cô bác chú thím (bên nội) và cháu. dì dượng cậu mợ (bên ngoại) và cháu.
  • Anh chị em bên họ nội: con chú con bác, cháu chú cháu bác v.v…
  • Anh chị em bên họ ngoại: con cô con cậu, đôi con dì, cháu cô cháu cậu, đôi cháu dì, v. v…

Về mối liên hệ ba đời thi vẫn là cháu phải hiếu kính đối với ông bà: kính thì phải hơn đối với cha mẹ, vì ông bà còn là cha mẹ của cha mẹ; song về bổn phận trực tiếp phụng dưỡng thì đã có cha mẹ. Vả lại mối liên hệ này tương đối ngắn vì khi cháu lớn lên thì ông bà đã già, có khi qua đời rồi, do đó thường là ông bà thương yêu cháu nhiều hơn là cháu kịp thương yêu lại ông bà. Trách nhiệm hỗ tương trong mối liên hệ này thiên về tinh thần hơn là gánh nặng thực tế, do đó là điều dễ hiểu khi thấy ông bà lại thương yêu chiều chuộng đứa cháu hơn là cha mẹ nó thương yêu chiều chuộng nó. Chẳng hạn khi cha mẹ đánh mắng con vì nó quấy rầy quá thì ông bà can ngăn và la lại cha mẹ “khi xưa mày còn quấy tao nhiều hơn nó bây giờ nữa!”

Tình thương yêu của bà ngoại đối với cháu nhất định là tình mẫu tử mở rộng nối dài vậy. Tục ngữ có câu “cháu bà nội, tội bà ngoại” chính là để diễn tả nỗi cảm thông của người mẹ về sự mang nặng đẻ đau của con gái mình cũng giống như mình mang nặng đẻ đau ra nó khi xưa vậy. Cho nên đàn bà xưa, lần đầu tiên được làm mẹ ─ có thề cả những lần sau nữa ─ thường ưa nhờ mẹ ruột săn sóc mình hơn là nhờ mẹ chồng vì sự thông cảm “đàn bà với nhau” còn liên kết với tình mẫu tử nữa.

Trường hợp cha mẹ mất sớm khiến ông bà phải thay thế nuôi dạy cháu, hay ngược lại cháu phải thay thế cha mẹ mất sớm phụng dưỡng ông bà cũng có nhưng hiếm. Trong trường hợp này thì mối liên hệ thực tế gần như trở thành mối liên hệ cha mẹ – con cái rồi.

Về các mối liên hệ khác như chú bác cô dì cậu mợ v.v… đối với cháu, nói chung đã lỏng lẻo và có chiều hướng đi xuống. Điều này hiện rõ trong trường hợp cha mẹ mất sớm khiến chú bác cô dì cậu mợ phải nuôi dạy và gây dựng cho cháu mồ côi; đó là nghĩa vụ mà nền luân lí gia tộc xưa đặt ra để tránh cảnh bơ vơ cho trẻ mồ côi (khi xã hội chưa tổ chức viện cô nhi), nên tục ngữ mới nói “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ ấp vú dì”. Ngược lại cháu cũng phải coi chú bác cũng như cha, coi cô dì như mẹ. Đây cũng là một ưu điềm của tinh thần gia tộc trong xã hội xưa.

Kèm theo đó cũng có tệ đoan: chú bác cô dì cậu mợ nhiều khi tự coi như có quyền ngang với cha mẹ, làm cho quyền tự do của lũ con cháu vốn dĩ đã ít ỏi, còn bị hạn chế thêm. Chẳng hạn trong trường hợp con mồ côi cha, còn mẹ thì thiếu nghị lực, điều gì cũng không dám quyết đoán, phải hỏi ý kiến chú bác cô cậu; đó là ý nghĩa than thở trong câu tục ngữ:

Nhiều thầy thối ma, nhiều cha con khó lấy chồng. (33)

Cũng có nhiều trường hợp chú bác cô dì cậu mợ phải nuôi cháu mồ côi một cách bất đắc dĩ, cháu trở thành con ở không công. Lúc đó thì đứa cháu cảm thấy âm thầm tủi nhục và chỉ mong chóng đủ sức tự lập để sớm thoát li khỏi cảnh ăn nhờ ở đậu.

            Dù sao nói chung, mối liên hệ gia tộc trong xã hội xưa vẫn là thân thiết do sự ràng buộc về huyết thống như tục ngữ đánh giá “giọt máu đào hơn ao nưóc lã”.

G. Ảnh hưởng của gia đình đối với cá nhân trong xã hội xưa

  1. Tầm quan trọng của nền giáo dục và nếp sống gia đình đối với nhân cách cá nhân

            Vào thời kì xã hội đề cao quyền tuyệt đối của vua trong phạm vi quốc gia và quyền tuyệt đối của cha trong phạm vi gia đình thì sự hình thành nhân cách của một cá nhân đương nhiên tuỳ thuộc gần như hoàn toàn vào nền giáo dục và nếp sống gia đình, bởi lẽ rất giản dị là cá nhân đó từ thuở sơ sinh đến tuổi trưởng thành được nuôi dưỡng và phần lớn được giáo dục trong phạm vi gia đình. Tuổi ấu thơ và niên thiếu, cá nhân cắp sách đên trường thì cũng được ông thầy cho bài học và tụng như cuốc kêu mùa hè về luân lí hiếu đễ trong gia đình.

            Lớn lên một chút, vừa ló đầu ra cuộc sống xã hội thì từ phạm vi làng xóm trở đi, luân lí hiếu đễ vẫn được tiếp tục đề cao. Gia đình có quyền hạn lớn đối với cá nhân nên cũng có trách nhiệm tương xứng về hành vi của cá nhân. Đó là nền tảng của thứ luật lệ và phong tục “một người làm quan, cả họ được nhờ”, “một người phạm tội, cả nhà phải chịu trách nhiệm chung”, nhất là tội phản nghịch thì phải tru di tam tộc (34); hoặc nhà nào có con gái mà không giữ gìn, để đến nỗi chưa chồng mà đã:

Phình phình lớn giữa lớn ra,
 Mẹ ơi, con chẳng ở nhà được đâu;
Ở nhà, làng bắt mất trâu,
Cho nên con phải đâm đầu ra đi! (35)

Cho nên một cá nhân muốn biểu lộ nhân cách cao của mình để được xã hội nể trọng, thế tất phải tỏ ra mình là con nhà gia giáo (có giáo dục gia đình tốt) hoặc con nhà thi lễ (giáo dục Nho giáo, học Kinh Thi, Kinh Lễ). Cũng do tầm quan trọng của giáo dục gia đình đối với sự hình thành tư cách đạo đức của cá nhân, xã hội xưa rất để ý đến gốc gác gia đình của một con người trong việc đánh giá, giao thiệp với người ấy ((36). Một cá nhân cũng lấy gia đình lễ giáo của mình làm niềm tự hào, làm lợi thế, làm điểm tựa vững chắc trên con đường làm ăn, lập công danh, tiến thân và ngay trong cả việc hôn nhân nữa; đó là ý nghĩa mấy câu tục ngữ “con nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh”, “lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”.

Nói cách khác, tông tích gia đình đóng một vai trò quan trọng ở những bước đi trong cuộc sống xã hội của một cá nhân thời xưa: thí sinh nộp quyển dự thi phải cung khai tam đại xem ông bà cha mẹ thuộc thành phần xã hội nào (37), một chàng trai đi hỏi vợ tất nhà gái phải hỏi người mai mối về gia đình chàng ta xem có phải con nhà dòng dõi không; ngay chính nhà trai trước khi giạm hỏi cũng đã phải biết về dòng họ người con gái rồi.

Thói quen này của xã hội xưa xác nhận rằng nền giáo dục và nếp sống gia đình có ảnh hưởng sâu đậm không những đối với cuộc đời của một cá nhân, mà còn kéo dài nhiều thế hệ và trở thành một thứ truyền thống mà người ta gọi là gia phong nền nếp. Đây là một thứ giá trị rất đáng tin cậy trong xã hội xưa, lại còn có công dụng như một sợi dây tinh thần ràng buộc cá nhân với gia đình dòng họ với tác dụng tích cực như xét qua dưới đây.

2. Sự ràng buộc cá nhân – gia đình

Đến đây thì ta có thể kết luận rằng sợi dây ràng buộc cá nhân với gia đình trong xã hội Việt Nam xưa thật là chặt chẽ. Sự giải thích cũng giản dị: đó là tình cảm tự nhiên gặp được môi trường thuận lợi để phát triển là nền luân lí xưa đã hun đúc cho các thành viên trong gia đình một tinh thần trách nhiệm hỗ tương thật cao: cha mẹ lo hết sức mình cho con cái, con cái thì hết lòng hiếu thảo với cha mẹ, anh chị em thì hoà thuận, che chở, bênh vực và giúp đỡ lẫn nhau.

Thật thế, cuộc đời của một cá nhân mà nên người được chủ yếu là nhờ ở gia đình, quan trọng nhất là nhờ ở cha mẹ, từ săn sóc ban đầu cho đến việc dựng vợ gả chồng được nơi xứng đáng, có mái nhà yên ấm (38), chưa kể là cha mẹ còn có thể giúp đỡ tiếp cho con sau đó như săn sóc đàn cháu nhỏ, trông coi nhà cửa v.v… (39). Do được hưởng nhiều quyền lợi vật chất và tinh thần từ gia đình nên cá nhân tự nhiên đã thấy gắn bó với gia đình, đồng thời cũng tự cảm thấy, cũng như được giáo dục dạy bảo rằng phải chu toàn bổn phận đối với gia đình.

Kết quả là gia đình, gia tộc cố kết thành một khối vững bền có thể chống lại những ảnh hưởng xấu từ bên ngoài xã hội. Xưa kia một người thuộc dòng họ có danh giá, chẳng may gặp cảnh sa sút, có thể vì phải giữ danh dự chung của gia đình dòng họ, mà không chịu để sa ngã, làm điều tội lỗi. Ta cũng thường nghe những câu tục ngữ như “giấy rách phải giữ lấy lề”, “đói cho sạch, rách cho thơm”, những lời nói tự an ủi, hoặc là lời của bậc cha mẹ cả đời sống thanh cao, chịu cảnh bần bạch, trước lúc lâm chung trối trăng lại cho con là nếu không lập được sự nghiệp gì vẻ vang cho ông bà cha mẹ được thơm lây, thì cũng đừng làm điều gì xấu xa khiến tiền nhân phải hổ lây. Tinh thần đoàn kết tương trợ em ngã chị nâng, lá lành đùm lá rách và cách đánh giá giọt máu đào hơn ao nước lã cũng có tác dụng tốt trong việc cư xử với nhau từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội.

Nhưng cũng không khỏi có những tác dụng xấu. Trước hết cá nhân bị nền luân lí xưa xoá mờ vì một đứa hài nhi vừa lọt lòng mẹ là đã có vua và cha ngự trị trên đầu trên cổ rồi:

Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân,
(Nguyễn Công Trứ – Nợ nam nhi)

Nó càng lớn lên thì bổn phận làm tôi, làm con càng nặng hai vai như hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ “nặng nề thay hai chữ quân thân, đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ”.

Trừ những bậc tài năng lỗi lạc xuất chúng, còn bình thường thì cá nhân bị chìm ngập trong các mối quan hệ mà Nho giáo gọi là ngũ luân: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè.

Có hai trường hợp có thể xẩy ra đều cản trở sự phát triển của cá nhân. Một là cá nhân ─ nhất là con nhà giàu có quyền thế ─ được gia đình lo cho tất cả, được cha mẹ, và có thể là anh hay chị cả quyết định thay cho tất cả, nên mất sáng kiến, có khi mất cả chí tự lập, sinh ra ỷ lại. Nếu bất ngờ gặp biến cố phải rời xa gia đình thì cá nhân ấy thiếu nghị lực phấn đấu để vượt qua những thử thách tất yếu phải gặp trong cuộc đời. Trường hợp ngược lại, cá nhân có ý chí mạnh mẽ muốn sống độc lập tự do ắt vấp phải những khuôn khổ chật hẹp, lề thói cứng nhắc của gia đình, lúc đó cá nhân phải phá vỡ những nền nếp cũ và sẽ bị gia đình và xã hội lên án.

Trường hợp cá nhân bị chèn ép, mất tự do nhiều nhất là khi con cái (thường là con trai, nhất là con trai cả có nhiệm vụ phụng dưỡng cha mẹ, thờ cúng ông bà tổ tiên) đã trưởng thành, lập gia đình riêng mà vẫn bị buộc phải sống chung với cha mẹ và anh chị em ruột còn độc thân dưới một mái nhà. Nguyên nhân của cái cảnh ăn chung ở lộn này là quan niệm cho rằng nhà có phúc đức mới đồng cư được như vậy. Xã hội xưa thường ca tụng cái cảnh tứ đại, ngũ đại đồng đường tức là cụ kị, ông bà, cha mẹ, con, cháu, chắt, chút, bốn năm đời còn sống chung một nhà!

“Quốc Văn Giáo Khoa Thư” lớp sơ đẳng đầu thế kỉ XX vẫn còn nêu gương nhà họ Trương thời xưa chín đời còn sống chung với nhau hoà thuận. Khi nhà vua nghe tiếng đến thăm, ban cho một quả lê để thử thì người tộc trưởng bỏ quả lê vào nồi nước lớn nấu lên rồi múc cho mỗi người một thìa mà húp để tất cả cùng được hưởng lộc vua ban. (bài 13, tr. 18,19).

 Hoặc câu chuyện ba anh em đã có vợ con vẫn sống chung một nhà. Nhưng rồi vợ người em út thấy mình bị lép vế, thiệt thòi quyền lợi mới xui chồng xin hai anh ra ở riêng. Hai anh phải bằng lòng và định sáng hôm sau cùng ra hạ cái cây lớn ngoài vườn ─ là một trong những phần của gia tài ─ xuống để chia ba. Sáng hôm sau, họ đem rìu, cưa ra đến nơi thì thấy cái cây đã tự nhiên chết héo rũ. Người anh cả ôm thân cây mà khóc. Hai người em nói: Cái cây cũng chẳng đáng giá là bao mà sao anh lại khóc? Người anh cả trả lời: Đúng vậy, nhưng chắc cái cây này biết trước (?) nó sẽ bị đốn xuống chia ba, nên không nỡ trông thấy cảnh phân li mà chết trước. Ba anh em ta cũng như ba cái cành của một thân cây, nay bỗng chia rẽ chẳng khác nào chặt lìa mỗi cành ra mỗi nơi, nên anh xót xa mà khóc. Người em út hối hận, xin cùng hai anh đoàn tụ như cũ. (“Quốc Văn Giáo Khoa Thư”, lớp sơ đẳng, tóm tắt chuyện “Anh em họ Điền”, bài 42, 43, tr. 52,53,54).

Câu chuyện này biểu lộ cái qui tắc luân lí của xã hội nông nghiệp thô sơ muốn tập quyền vào tay các ông “trưởng” như gia trưởng (cha hoặc người anh cả), quốc trưởng (vua) và kẻ dưới phải phục tùng. Nhưng trong trường hợp người trên bất tài vô hạnh, ắt xẩy ra cái cảnh “thượng bất chính, hạ tắc loạn” dù trong phạm vi nhỏ là gia đình hay phạm vi lớn là quốc gia.

Ngoài ra còn biết bao va chạm, xung đột làm cho các mối quan hệ trong đại gia đình cũ hễ nhắc tới là người ta có cảm nghĩ chẳng đẹp đẽ gì như mẹ chồng – nàng dâu,  chị dâu – em chồng, nhất là các bà chị hay cô em chồng đã quá lứa lỡ thì mà lại đanh đá chua ngoa đến độ tục ngữ phải ta thán “giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”, và còn chị em dâu với nhau nữa… Những va chạm xung đột vì tranh chấp quyền lợi, vì ghen tị nhỏ nhen, vì tính nết không hợp nhau (đương nhiên là vậy) sẽ tránh được, hoặc giảm bớt rất nhiều nếu thực hiện câu “sống mỗi người một nhà, già mỗi người một mồ”.

Sau đó là tinh thần bè phái gia tộc: người có chức quyền chỉ tin dùng anh em họ hàng, dù là người kém tài đức, để tạo vây cánh, bảo vệ quyền lợi bất chánh hay cục bộ, bất chấp quyền lợi cao hơn của quốc gia dân tộc. Từ đó khi ra ngoài xã hội, con người thiếu tinh thần công ích, kém tinh thần vị tha, đưa đất nước đến tình trạng bất công, chia rẽ, dễ bị chinh phục.

Chú thích cuối chương thứ ba

(1)  Theo các nhà xã hội học thì buổi sơ khai con người sống theo gia đình mẫu hệ: một người đàn bà có thể kết hợp với nhiều người đàn ông; đàn con sinh ra được mẹ và gia đình bên mẹ nuôi dưỡng nên chỉ biết mẹ mà không biết cha. Khi xã hội chuyển sang thời kì định cư định canh, dần dần người đàn ông chiếm ưu thế trong sản xuất trong khi người phụ nữ bận bịu về vấn đề thai sản và săn sóc con nhỏ. Người đàn ông do đó làm chủ được về kinh tế, thấy không cần lệ thuộc nhà vợ (trước kia người đàn ông phải đến ở nhà vợ: tục gửi rể, ở rể hay bắt rể có lẽ là di tích của thời kì mẫu hệ), bèn đem của cải tích luỹ được đến nhà gái để cưới vợ về nhà mình. Đó là một hình thức mua kèm theo một số nghi lễ tuỳ tục lệ mỗi nơi; tục nhà gái thách cưới và nhà trai phải đem lễ vật đến nhà gái là di tích của thời kì chuyển đổi địa vị giữa vợ và chồng như phản ảnh trong truyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh. Từ việc mua đến việc độc quyền sở hữu là điều tự nhiên. Đàn con sinh ra biết cả cha và mẹ, nhưng vì cha nhiều quyền hơn mẹ nên con theo họ cha.

(2)  Trong chương nói về thời Thượng cổ, chúng tôi đã theo chủ trương chế độ phụ hệ được xác lập từ thời Hùng Vương, mà không phài sang thời Bắc thuộc, chịu ảnh hưởng Trung Hoa ta mới có.

(3)  Một con súc vật như chó, mèo khi được chủ cho ăn hay vuốt ve, nó cũng tỏ vẻ mừng rỡ và quấn quít chủ. Ngược lại nếu chủ tỏ vẻ giận dữ, quát tháo hay đánh đập nó thì nó sợ hãi và lảng xa chủ.

(4)  Chỉ có cha mẹ đứa bé mới bảo vệ nó hết mình, đem lại cho nó cái cảm giác về sự che chở an toàn, cho nên khi cha mẹ xa rời, không bế ẵm thì nó khóc đòi theo vì mất đi cái cảm giác rất cần thiết và quen thuộc ấy; thêm vào đó cũng chỉ có cha mẹ mới cung cấp cho nó đủ thứ nó muốn, nó cần.

(5)  Không biết khoa sinh vật học ngày nay có kiểm nghiệm được sự kiện này không? Ba tháng là thời gian cha mẹ quạ phải kiếm mồi mớm con để nó đủ lông cánh tự lập. Nếu vậy sau ba tháng cha mẹ quạ tiếp tục sống trong sự già yếu thì sao?

(6)  Quân 君: vua, thân 親: cha mẹ (song thân); vi tử 爲 子: làm con, vi thần 爲臣: làm bề tôi.

(7)  Lòng ngu hiếu này chắc chắn là nguyên nhân chính đưa đến thắng lợi của phe bảo thủ dưới triều Tự Đức do bà Từ Dụ đỡ đầu, bắt nhà vua gạt bỏ hết mọi đề nghị cải cách khiến đất nước ở mãi trong tình trạng lạc hậu cho đến khi rơi vào vòng nô lệ người Pháp vào cuối thế kỉ XIX.

(8)  Xin thuật lại với sự dè dặt; nhưng nếu là chuyện có thật thì hành động bỏ di chiếu của tiên đế Dực Tông (tức vua Tự Đức), phế vua Dục Đức để lập vua Hiệp Hoà, sau đó lại giết vua Hiệp Hoà để lập vua Kiến Phúc, thì theo luân lí Nho giáo, Tôn Thất Thuyết có phải là loạn thần không?

(9)  Không kể những câu chuyện mà người thời nay cho là hoang đường, vì ta không thể bắt cổ nhân phải có tinh thần khoa học ngày nay, như chim nhặt cỏ, voi cầy ruộng (truyện vua Thuấn); tự nhiên cạnh nhà có suối nước ngọt tuôn, cá chép mỗi ngày 2 con nhẩy ra cho bắt đem về nuôi mẹ (truyện Khương Thi); cởi áo nằm trên băng cầu trời, tự nhiên lại mỗi ngày một đôi cá chép nhẩy lên cho bắt đem về dâng cha mẹ (truyện Vương Tường); ngồi gốc tre khóc cầu măng thì măng trổ ra giữa mùa đông tháng giá để cho cắt đem về nấu canh cho cha mẹ ăn (truyện Mạnh Tôn).

(10) Hờ khóc (hờ cha ơi, hờ mẹ ơi) thường là con gái hoặc con dâu. Có người mượn dịp kể lể để kể công mình đối với cha mẹ và kể tội, khích bác đối thủ. Đối thủ đây thường là chị dâu em chồng hay chị em dâu.

(11) Quan tài nhà giàu thường bằng gỗ tốt. Sau khi liệm, gắn sơn thật kĩ để mùi hôi của xác chết không thoát ra được; có đám quàn đến 100 ngày!

(12) Tối rước hồn bạch (tấm lụa trắng kết thành hình người, đã thu hồn người chết vào đó lúc tắt hơi) vào giường ngủ, sáng rước ra bàn thờ, trầu rượu cơm nước ngày mấy bữa cúng coi như lúc còn sống; thật ra mỗi bữa còn phải vái lạy rềnh ràng, lúc sống đâu có phải thế!

(13)  Có trường hợp quàn lâu là để đợi con trai từ xa về đưa đám.

(14) Minh tinh: tấm lụa, vải hay giấy đề danh hiệu, chức tước người chết giương lên lúc đưa đám. Nhà táng: nhà bằng giấy màu (đồ mã) đặt trùm ra ngoài quan tài lúc đưa đám, hạ huyệt xong thì đốt bỏ.

(15) Phướn: một thứ cờ nhỏ (Phật giáo) để chiêu hồn người chết. Phù kiều: cầu nổi, còn gọi là cầu bát nhã, làm bằng tấm vải, hai bên hai hàng người cầm trải ra, vừa đi vừa niệm cầu cho “vong” bước theo cầu từ bến mê sang bờ giác.

(16) Còn gọi là giỗ cuối hay giỗ hết tang. Nhiều nhà kĩ lưỡng còn để tang thêm 3 tháng nữa gọi là 3 tháng đờm, tổng cộng đại tang 27 tháng. (“Hai bảy tháng trời là mấy chốc, Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!”Thơ Hồ Xuân Hương khóc chồng là ông phủ Vĩnh Tường).

(17) Tín ngưỡng Phật giáo vốn không có tục đốt vàng mã, đây là một tục lệ du nhập từ Trung Hoa. Sẽ bàn thêm trong chương “Tín ngưỡng”.

(18) Tục trả nợ miệng đã nói đến trong đoạn “Một số tệ đoan nơi làng xóm”.

(19) Gọi nôm na là bốc mộ (Bắc) hay hốt cốt (Nam). “Tiểu” hình giống như quan tài nhưng nhỏ hơn, làm bằng đất nung nên không bị mục nát, giữ xương được tốt lâu. Có nhà giàu bày vẽ bên ngoài tiểu còn thêm quách; cũng như lúc mới chôn trong quan ngoài quách. Quách (bằng gỗ) lúc mới chôn dĩ nhiên lớn hơn quách lúc cải táng.

(20) Hàng năm con cháu phải đi thăm, mang theo hương hoa lễ vật ra cúng và sửa sang phần mộ (giẫy cỏ, đắp đất cao lên nếu là mộ đất; quét vôi nếu là mộ xây) vào các dịp sau đây: Tết Nguyên đán, tiết Thanh minh (khoảng cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3), rằm tháng 7 và ngày giỗ, tất cả đều là âm lịch.

(21) Tục ngữ có câu diễn tả niềm ước ao: “Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ bó gỗ vàng tâm”.

(22) Quan tài sẵn đó, chết thì chôn, thơ Nguyễn Khuyến.

(23) Theo quan niệm xưa, người sống lâu có con, cháu, chắt… đầy đàn là người có phúc đức lớn; khăn màu là để người ngoài biết được điều này. Đám tang có đông người chít khăn trắng là đám lớn, họ hàng đông. Những người con vắng mặt trong đám tang, tang gia phải treo mũ gậy (nếu là trai), hoặc khăn sô, mấn (nếu là con gái hay con dâu) bên quan tài để người ngoài biết được là người chết có bao nhiêu con trai, con gái.

(24) “Thờ người đã chết cũng phải như thờ người ấy lúc còn sống; thờ kẻ đã khuất cũng phải như thờ kẻ ấy lúc đang còn”; ý nói cái tâm của mình đối với cha mẹ lúc sống thế nào thì lúc cha mẹ mất cũng phải giữ cái tâm như thế. (Trung Dung).

(25) “Lúc (cha mẹ) còn sống, lấy lễ mà phụng sự; lúc chết, lấy lễ mà chôn cất” (Luận Ngữ, Vi chính).

(26) Đề chủ: bài vị để thờ người chết, tức tấm thẻ bằng gỗ sơn son trên đề sẵn họ tên, chức tước, phẩm hàm của người chết, cuối cùng là các chữ “… chi thần chủ” thì người viết sẵn lúc trước, khi viết chữ chủ 主 để lại không viết nét chấm trên đầu để trong một lễ tế long trọng (dành cho người có danh vọng lớn lúc còn sống), một người khác cũng có danh vọng lớn đứng chủ tế, lúc chót cầm bút chấm nét chấm cuối cùng đó vào.

(27) Trong xã hội xưa thì dù hôn nhân do tình yêu hay do cha mẹ định đoạt, ý thức về bổn phận và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái đều như nhau.

(28) Làm cho mình có tiếng thơm với đời để cha mẹ được thơm lây cũng là một cách báo hiếu, mà nhiều người còn cho là cách báo hiếu cao nhất nữa.

(29) Cho nên bộ phận sinh dục của đứa con trai còn được gọi là “cái giống” có nghĩa là cái dụng cụ để truyền giống.

(30) Tình phụ tử, tình mẫu tử tự nhiên mà có, không cần giáo dục mới có như tình yêu Tổ quốc, đồng bào chẳng hạn (ngay hai ý niệm tổ quốc, đồng bào cũng phải do giáo dục mới có được). Cho nên người vô học, người có học đều biết yêu thương con cái; chỉ có cách biểu lộ là khác nhau. Loài vật cũng biểu lộ bản năng che chở con rất mạnh: con chó cái trở nên hung dữ cắn người lạ khi người ấy đến gần ổ con nhỏ của nó; con gà mái xù lông giương cánh chống lại con quạ muốn bắt con nó.

(31) Tình phụ tử, tình mẫu tử mạnh mẽ, vô tư hơn cả tình yêu nam nữ, vì tình yêu nam nữ, trừ một vài trường hợp ngoại lệ, thường đòi hỏi sự đáp ứng hỗ tương, có khuynh hướng chiếm đoạt và độc quyền hưởng thụ. Tình cảm tôn giáo thì thiêng liêng, nhưng là khác loại, và không phải người nào cũng có.

(32) Phong tục Việt Nam có nhiều trường hợp người sinh sau vẫn được là anh chị, kẻ sinh trước vẫn phải là em: đó là con vợ cả đối với con vợ lẽ, con của anh chị đối với con của các em; tức là con (và cháu…) chú con (và cháu…) bác, con (và cháu…) cô con (và cháu…) cậu, đôi con (và cháu…) dì. Tục ngữ: “bé xác nhưng là con ông bác; lớn xác nhưng là con ông chú”.

(33) Theo tín ngưỡng xưa, giờ đưa đám tang phải nhờ thầy cúng xem ngày lành giờ tốt; nếu đám có nhiều thầy quá, mỗi ông nói một ngày một giờ khác nhau thì thây ma có thể để thối ra. Con gái muốn lấy chồng mà cha mẹ, chú bác cô dì, mỗi người ưng một chàng rể khác nhau thì con đến ế mất!

(34) Giết cả ba họ: họ cha, họ mẹ và họ vợ, vì e rằng nếu chỉ giết một mình kẻ phạm tội, những người kia có thể nổi lên báo thù. Luật này nhiều khi gây phản tác dụng như vụ nổi loạn Lê Văn Khôi và Nùng Văn Vân dưới triều Nguyễn.

(35) Nhà có con gái chửa hoang, có làng lập lệ phạt vạ nặng, nếu không nộp thì làng bắt trâu, nên con gái phải bỏ trốn trước khi bị phát hiện.

(36) Tất nhiên cũng có ngoại lệ là con nhà dòng dõi mà vẫn hư hỏng.

(37) Một số trường hợp như con nhà mắc tội phản nghịch, hoặc con nhà hát xướng (theo quan niệm “xướng ca vô loại”) không được dự thi. Trường hợp sau là của Đào Duy Từ quê ở Thanh Hoá thời Lê Trịnh, cha là kép hát, phải khai gian để được thi; sau khi đỗ, bị phát hiện và tước bỏ học vị. Ông bỏ trốn vào Nam giúp chúa Nguyễn chống nhà Trịnh.

(39) Những nhà có của, cha mẹ thường chia gia tài cho con, mỗi đứa một căn nhà, một số ruộng đất, của cải làm vốn khi dựng vợ gả chồng cho chúng. Bởi vậy thành ngữ “yên bề gia thất” vừa có nghĩa hẹp nghĩa rộng là lấy vợ lấy chồng rồi ra ở nhà riêng.

(40) Tục ngữ: “Một mẹ già bằng ba lần giậu”.