IX.

LOAN PHỤNG HÒA MINH

Tiền Vĩnh Lạc

Một bữa nọ, bà Tám đi bán về, vừa đút gióng gánh trầu cau xuống dưới bộ ván ngựa thì thằng cháu nội của bà đưa cho bà một tấm giấy đỏ chừng bằng nửa tờ giấy học trò và nói: “Nội ơi! Nội! Hồi nãy ông Ba Đời có ghé nhà mình gởi cho nội tấm giấy nầy nè!”

Bà Tám cầm tấm giấy, lại ngồi trên bộ ván ngựa, lật qua lật lại rồi nói: “Chắc nó mời đi ăn đám cưới con gái nó đây. Con rót cho nội một tô trà Huế coi. Rồi con đọc cho nội nghe.”

Thằng nhỏ chạy lại cái bàn để trong góc nhà, rót nước đem lại cho bà nội, rồi cầm tờ giấy đọc:

THIỆP MỜI
 
Nhơn dịp ngày mùng Ba tháng Chạp tới đây, vợ chồng tôi có định chữ vu quy cho ái nữ chúng tôi là Nguyễn-thị-Hạnh kết duyên với cậu Lê-văn-Rành, con trai trưởng của ông Lê-văn-Giỏi ở chợ Gò-Vắp.
 
Vậy tới ngày đó, vợ chồng tôi kính mời Bà Tám vui lòng dời gót ngọc tới nhà vợ chồng tôi, trước là dùng ly rượu để chia vui với vợ chồng tôi, sau là để chúc mừng cho đôi trẻ được bền duyên cầm sắt.
Nay kính,
Nguyễn-văn-Đời

(Nội dung tấm thiệp này, ba viết theo trí nhớ. Không còn tấm thiệp cũ nào để chép lại cho đúng.)

Bà Tám nghe rồi, đem tấm thiệp dằn dưới chưn đèn trên bàn thờ, rồi đi xuống bếp …

Tấm thiệp cưới hồi đó đơn giản như vậy: giấy cứng đỏ, in một mặt, chữ đen, đem tới mời không cần để trong bao thơ. Lời lẽ vừa văn hoa vừa mộc mạc: nào “định chữ vu quy”, nào “kết duyên”, nào “dời gót ngọc”, v.v… Không có đủ tên họ cha mẹ cô dâu, tên họ cha mẹ chú rể, có lẽ vì chi tiết này không quan trọng vì những người được mời đều là bà con, thân quyến, biết mặt nhau hết rồi. Cũng không có địa chỉ của hai gia đình sui gia: đường không tên, nhà không số thì ghi làm sao? Không ghi địa chỉ, nhưng ai cũng biết nhà ở chỗ nào mà tới.

Mời “tới ngày đó” mà không nói giờ nào. Hễ đàng gái mời, là mời “nhóm họ”. Mà nhóm họ thì phải nhóm tối hôm trước, sáng hôm sau “đưa dâu”. Cứ trời vừa sụp tối, bà con kéo tới là vừa, mấy ai có đồng hồ mà nói giờ! Vả lại, bà Tám được thiệp bữa trước thì qua bữa sau bà ra chợ thế nào cũng gặp mấy bà kia, cũng được mời, rủ nhau cùng đi một lượt cho vui.  

Còn nếu đàng trai mời, tức là mời trưa mùng Bốn, sau khi rước dâu về, làm lễ gia tiên rồi nhập tiệc.

Những người tới sớm thì ngồi chơi, nói chuyện làm ăn, mùa màng, thời tiết. Ai tới trễ thì cũng ráp vô, không sợ sót món nào trong thực đơn, vì tất cả món ăn đều dọn lên một lượt. Dĩa nào hết thì nhà bếp giội thêm, mời “ăn thiệt tình”. Khách tự do ăn uống, nói chuyện thoải mái, không có nhạc ồn ào, mở điếc tai, chát óc, “tra tấn bằng âm nhạc” như ngày nay.

Ba Đời năm nay trạc tứ tuần, ở ấp Chợ Giữa (nửa đường từ An Nhơn đi Gò Vắp). Nhà khá giả, nhờ có đất ở bên doi, trồng mía mấy năm nay trúng liên tiếp. Ba Đời ở nhà ngói ba căn hai chái của ông bà để lại. Cô Hạnh là con gái đầu lòng, năm nay mười chín tuổi. Cô Hạnh còn hai người em trai và một người em gái năm nay mới chín tuổi. Lần đầu tiên ngồi sui, hai vợ chồng Ba Đời lo dữ lắm. Phải rán làm sao coi cho được, đừng để người ta nói. Cho nên hai vợ chồng mới cậy bác Hai con Hạnh tính giùm:

– Trước tiên là lo cái bàn thờ. Lấy bộ sơn thủy xuống, rửa kiếng cho sạch. Hình thờ ông bà cũ quá, phải đem ra chợ Bà Chiểu cho thợ chụp lại, rồi thay khuông mới. Bàn thờ bằng cây trắc, đen mun, có cẩn ốc xa cừ khéo lắm, lấy vải khô mà lau lại cho bóng. Dĩa quả tử cỡ đó được rồi. Chưn để dĩa quả tử bằng gõ đỏ, đem xuống rửa cho sạch. Bình bông nầy xưa, quý lắm, mà hơi nhỏ, không xứng với dĩa quả tử. Để bác Hai cho mượn cái bình lớn hơn. Trước bữa đám cưới, cậy ông Sáu Đờn tới chưng bình bông có hình hai con phụng, nghĩa là “Loan phụng hòa minh”.

– Ông Sáu Đờn có tài chưng bông, ổng lấy mấy thứ trái cây như thơm, dừa, xoài, nhãn, ớt, mấy thứ rau như đậu đũa, đậu hoe, cà tím, ráp với cây kiểng như đinh lăng, nha đam, lưỡi cọp, mạch môn, v.v… mà ghép lại thành hình Tứ Linh, Long Hổ Hội, khéo lắm. Lần đấu xảo ở Vườn Bờ-Rô, ổng chưng cảnh Tam Tạng Thỉnh Kinh có đủ Tôn Ngộ Không, Sa Tăng, Bác Giái, được thưởng hạng nhứt. Mấy ông Tây, bà đầm tới coi, ai cũng khen quá chừng.

– Bộ lư hương, chưn đèn nầy lớn, xứng với bàn thờ lắm. Để đầu tháng Chạp lấy xuống, hái khế chua đánh cho bóng rồi phơi nắng, lấy vải khô lau lại, sáng trưng. Đừng đánh sớm quá, tới bữa đám cưới nó không còn bóng.

– Chùi lư rồi thì rửa nhà. Nhà lót gạch tàu, cũng dễ rửa. Lấy bàn chải tre chà mấy chỗ đóng rong.

– Bộ cửa lá sách phải gỡ xuống, rửa kỹ, phơi khô rồi gắn lại.

– Bà con tới đông nên phải che rạp trước sân mới đủ chỗ ngồi. Để cậy thằng Ba thợ hồ nó rủ thêm vài đứa nữa đi đốn tre làm sườn rồi mua lá buôn về lợp. Xài có một lần, không cần lợp bằng lá dừa nước chi cho tốn kém. Biểu tụi nó đốn ít tàu dừa, một mớ đủng đỉnh để che mấy cây cột coi mới được. Cửa ngõ cũng kết bằng lá dừa, đủng đỉnh, dây nho. Thằng Ba nó rành lắm, khỏi lo.

– À! Còn cặp đèn! Chà! Chưn đèn lớn quá, phải cặp đèn sáp lớn mới được. Tao nghe chú Bảy thằng Rành nói chú có lên Bà Điểm đặt cho người ta xe một đôi đèn bằng sáp ong Cà Mau. Chú có tới xin phép cho coi cặp chưn đèn nhà mình để lấy ni về gọt chưn cặp đèn sáp, tới chừng lên đèn cho đôi trẻ lạy bàn thờ thì gắn lên vừa vặn, khỏi lụp chụp.

– Còn phải tính coi thỉnh ai đi đưa dâu, đi mấy người phải cho đàng trai biết trước để người ta sắp chỗ ngồi bên đó.

– Bữa nhóm họ phải mời đủ, đừng để sót bà con người ta phiền lắm đa! Mình sơ sót, người ta nói mình ỷ nhà giàu, không mời bà con nghèo, khổ lắm! Còn đãi món gì, hai vợ chồng bây tính với nhau, rán đừng để người ta cười. Chén dĩa chắc phải đi mượn thêm. Mượn của ai phải ghi để khi rồi đám trả cho đủ.

– Rửa chén đừng làm bể, không nên. Bể của mình không sao, chớ bể của người ta khó mua giống y như vậy mà đền lắm.

– Nhà có một cái đèn măng-sông thôi hả? Phải chạy mượn thêm ít nhứt là ba cái nữa mới đủ.

– Máy hát để tao cho mượn. Tao mới mua mấy cái dĩa mới, hay lắm.”

Bao nhiêu việc phải lo, cho nên hai vợ chồng Ba Đời với bác Hai con Hạnh tính tới tính lui mấy tháng trời. Con Hạnh nghe mà phát nôn, trong bụng vừa mừng vừa lo.

Lật bật mà tới ngày mùng Ba tháng Chạp. Bữa đó bà Tám vừa ở chợ về là mở rương xe (rương lớn bằng cây danh mộc, dày, có gắn bánh xe cũng bằng cây, bên trong để quần áo, đồ đạc, ngủ trên đó luôn, khỏi sợ ăn trộm) lấy một cái quần đen bằng lụa “cẩm tự” với một cái áo dài màu cà phê sữa đem qua cô Hai lò bún nhờ cổ ủi giùm. Cô Hai có một cái bàn ủi “con gà” bằng thau. Dựng con gà lên thì mở nắp bàn ủi ra được. Bỏ ít cục than lửa vô, quạt cho cháy nóng, rồi đậy nắp, bật con gà ra sau để gài nắp lại. Trải mền, đặt đồ lên đó mà ủi. Phải xài than đước, chớ than cây tạp nó hay nổ, tàn lửa văng xuống làm cháy quần áo.

Cô Hai nói: “Bà Tám khỏi chờ. Để con ủi rồi con đem qua cho bà Tám.”

Bà Tám trở về nhà, đưa cho thằng cháu một xu, biểu nó chạy ra tiệm chạp phô mua một cái bao thơ. Bà mở tủ, lấy một tờ giấy bạc một đồng bỏ vô bao thơ. Mấy đám khác, bà đi năm cắc. Ba Đời là chỗ bà con, bà đi một đồng bạc. Trong bụng, bà tính nếu không đi đám cưới thì số tiền này đủ đi chợ ăn bảy ngày. Thôi, chẳng mấy khi gặp đám, hà tiện người ta cười. Bỏ tiền vô bao thơ rồi, bà biểu thằng cháu nội bà viết. Thằng nhỏ chạy lục cặp, lấy cây viết, chấm mực tím, le lưỡi, gò viết hai chữ “Bà Tám” lên bao thơ. Phải viết tên người đi tiền, nếu không thì vợ chồng con Hạnh không biết tiền của ai cho. Bà Tám xếp bao thơ làm hai, bỏ vô túi áo túi, lấy kim tây gài lại.

Chạng vạng thì bà Tư Khá, ở cùng xóm, qua để đi chung. Hai bà đều bận áo dài, mang guốc sơn quai da, lấy khăn rằn đỏ quấn lên vai. Tháng này hết mưa rồi, khỏi cần đem dù. Hai bà đi bộ ra tới chợ thì hai bên phố đã đỏ đèn. Hỏi giá, rồi leo lên xe thổ mộ đi xuống Chợ Giữa.

Vừa bước xuống xe, ngó vô đường chẹt thấy chỗ nhà Ba Đời sáng trưng. Nghe người ta nói chuyện lao xao, lại có tiếng máy hát văng vẳng. Bà Tư nghe kỹ, biết tiếng Út Trà Ôn  đang ca vọng cổ tuồng Tôn Tẩn giả điên. Có mấy người khác, đàn ông có, đàn bà có, cũng ăn bận đàng hoàng, ráp với bà Tư, bà Tám mà đi vô nhà Ba Đời.

Đi tới cửa ngõ làm bằng lá dừa và lá đủng đỉnh thì vợ Ba Đời chạy ra mừng rỡ đón mấy bà con vô. Mấy bà trưởng thượng ngồi chung với nhau một bàn. Dòm qua bên kia thấy có hai bàn mấy ông lớn tuổi ngồi với nhau, chăm chú nghe ông Hương Giáo nói chữ Nho hay quá. Xung quanh còn sáu bảy bàn nữa là đàn ông, đàn bà sồn sồn, và nhiều người con trai, con gái, nhóm nào theo nhóm nấy ngồi nói chuyện huyên thiên. Dưới bếp còn ồn ào hơn nữa: tiếng bằm thớt, tiếng đâm tỏi, tiếng chiên xào lẫn với tiếng mấy bà nấu bếp, vừa làm vừa nói chuyện rân. Tiếng bà Năm Chanh là rõ hơn hết. Bà Năm luôn miệng nhắc người nầy quạt lửa, nhắc người kia cắt chả cua theo “hình miếng chả” (học trò kêu là hình thoi) cho đều rồi sắp vô dĩa, nhắc người nọ lau dĩa lẹ lẹ lên, khách tới đông rồi đó! Bao nhiêu âm thanh hòa lẫn nhau ồn ào, cả xóm Chợ Giữa đều nghe.

Trong nhà, trên góc bộ ván gõ chưn quỳ để sát vách, thằng Út Nữa, con của bác Hai, đang quay máy hát. Dứt tuồng Tôn Tẩn giả điên nó hát tiếp tuồng Huê Dung Đạo, hay quá mà đâu có ai chú ý nghe, bởi mắc nói chuyện với nhau, “vui như đi ăn đám cưới”. Thằng Út Nữa là em của con Út Nhi. Chẳng bác Hai là người có ăn học trong làng. Trước khi đi học chữ Quốc ngữ bác có học chữ Nho, thuộc nằm lòng cuốn Minh tâm bửu giám. Bác đậu bằng cấp Sơ Học Yếu Lược, cho nên bác biết tiếng Tây khá lắm. Khi nói chuyện với mấy ông già trong làng, ai nói chữ Nho thì bác cũng lâu lâu chêm một câu chữ Nho. Gặp mấy thầy đi làm việc ở Sài Gòn nói tiếng mình mà hay pha tiếng Tây, bác Hai cũng hiểu và châm tiếng Tây với người ta. Cho nên nói chuyện với bác Hai vui lắm. Lúc thì bác nói “Nhơn vô viễn lự tắc hữu cận ưu” (Người không lo xa thì sẽ có điều buồn gần). Lúc thì bác nói “Vouloir c’est pouvoir” (Muốn là được – tục ngữ Pháp), hoặc “Mieux vaut tard que jamais” (Thà trễ còn hơn không), ai hiểu hay không hiểu, nghe cũng khoái lỗ nhĩ!

Vợ chồng bác Hai ăn ở với nhau sanh được chín người con: Hai Công, Ba Thành, Tư Danh, Năm Toại, Sáu Phỉ, Bảy Chí, Tám Nam, Út Nhi thứ chín. Hai vợ chồng bác Hai tưởng sanh tới con Nhi là dứt, nên kêu nó là “Út”. Không dè hai năm sau bác Hai gái lại sanh nữa, mới đặt tên đứa chót là ÚT NỮA. Bởi vì tám đứa kia đã ráp đủ câu “Công thành danh toại, phỉ chí nam nhi”, bây giờ thêm một đứa nữa, lấy tên chữ Nho đặt cho nó thì ráp vô nghe không được. Bác gái nói, thôi, đặt nó tên “Nữa” cho rồi. Ba Đời hỏi: “Nếu năm tới anh chị có đặng một đứa nữa thì đặt tên gì cho nó?” Bác trai cười chúm chím, không nói. Còn bác gái không do dự, nói liền: “Thì kêu nó là thằng hay con ÚT THÊM!” Ai nấy cười xòa.

Thằng Út Nữa nhỏ hơn cô Hạnh tới sáu tuổi, mà cô Hạnh phải kêu nó bằng anh, tại nó là con nhà bác. Bữa nay Út Nữa lãnh phần quay máy hát. Mỗi cái dĩa lớn bằng cái bánh tráng, không biết làm bằng giống gì, cứng như sừng mà không phải sừng. Trên dĩa có kẻ lằn nhỏ rí bằng sợi tóc. Cho máy hát chạy, để đầu kim lên lằn kẻ, nó phát ra tiếng giống y như tiếng người ta thiệt. Nghe quen thì biết ai ca: Út Trà Ôn, cô Tư Sạng,  cô Phùng Há, v.v… Máy hát quay một chút thì hết một mặt dĩa. Thằng Út lấy đầu kim ra, thay kim mới, rồi lật mặt dĩa bên kia để lên máy, lên dây thiều, đặt đầu kim cho máy nó hát tiếp. Tây nó chế ra cái máy hát thiệt là hay!

Vợ Ba Đời thấy bà con tới gần đủ thì biểu cô Hạnh đi thay đồ để lạy bàn thờ: “Mình phải lạy ông bà, cha mẹ mình trước, ngày mai qua bển lạy ông bà, cha mẹ của người ta.”

Ba Đời đã khăn áo chỉnh tề, ra thỉnh bà ngoại cô Hạnh, bà dì Năm, dì dượng Chín vô ngồi một bên ghế trường kỷ. Bên kia thì có bác Hai trai, bác Hai gái, cô dượng Năm, chú thím Sáu. Chú thím Tư mắc mua bán trên Nam Vang, không về được. Hai vợ chồng Ba Đời bắc ghế ngồi tiếp theo.

Trong lúc bà Năm Chanh hối mấy người phụ đám đem đồ ăn lên đãi khách ngoài rạp thì ở trong nhà bác Hai thắp nhang rồi chỉ cho cô Hạnh lạy bàn thờ bốn lạy, rồi xoay qua lạy bà ngoại, bà dì, ba má, chú, bác, cô, dì, dượng, cậu, mợ, … mỗi người hai lạy. Cô Hạnh lạy bàn thờ rồi, xoay qua tính lạy bà ngoại thì bà nói: “Thôi! Ngoại chế cho con. Con xá ngoại hai xá được rồi! Nhờ bà ngoại chế trước, cô Hạnh được miễn lạy thì ba má cổ, cùng hết thảy bà con đều chế hết, cho xá, khỏi lạy. Đó là nhờ bà ngoại dễ, chớ mấy đám khác phải lạy bà con, không sót một người. Bà Tám tính lấy bao thơ cho cô Hạnh thì bác Hai nói để ngày mai bên đàng trai qua rước dâu, bà con hãy cho, để hai bên đều thấy. Bác Hai lại biểu cô Hạnh đứng khoanh tay để nghe cha mẹ dặn dò trước khi về nhà chồng. Trước tiên, bà ngoại nhắc cô Hạnh về bên nhà chồng phải rán chiều chuộng ba má chồng và mấy đứa em chồng, phải dòm coi tánh ý của ổng bả mà làm theo, v.v… Tới phiên má cô Hạnh cũng dạy giống như lời bà ngoại đã dạy, nói thêm vài kinh nghiệm hồi mình đi làm dâu cho con gái nghe, làm cô Hạnh khóc thút thít, hai con mắt đỏ hoe. Rồi bác Hai lại nói thêm về tam tòng, tứ đức cho cô Hạnh nghe. Cô Hạnh nghe tới đâu, dạ dạ tới đó.

Kế đó, bà ngoại mời bà con qua một cái bàn dọn riêng để dùng cơm. Cô Hạnh được phép ra ngồi chung với mấy em và anh chị em cô cậu, bạn dì, chú bác, ăn uống, nói chuyện với nhau tới khuya. Trong lúc ăn tiệc, bác Hai gái kêu thằng Út Nữa, nãy giờ vừa ăn vừa coi chừng máy hát, quay máy cho nghe dĩa Mẹ Dạy Con do cô Tư Sạng ca (?). Dĩa này cô Hạnh nghe đi nghe lại hai bữa rày, muốn ngán.

Mãn tiệc, bà Tám, bà Tư, với bà con ở xóm chợ và xóm Bến Đình ra đầu hẻm thì thấy có xe thổ mộ của bác Năm Ngàn chờ sẵn để đưa bà con về. Bác Năm nói: “Tôi biết tối nay có đám nhóm họ ở nhà Ba Đời, bởi vậy tôi đem xe xuống đón mấy bà con đó.” Ai nấy đều vui vẻ lên xe mà về.