Kiều – Trương Vĩnh Ký
Nhị Linh
Trương Vĩnh Ký xưa nay vẫn được coi là người đầu tiên phiên Kiều sang quốc ngữ.
Phần khảo cứu của ông Trần Nhật Vy khiến tôi nghĩ đến một loạt vấn đề. Ở đây tôi chỉ nói rất vắn tắt. Có vẻ như ông Trần Nhật Vy nghĩ rằng Trương Vĩnh Ký đi chép lại Kiều mà người miền Nam hay đọc. Tôi cho rằng điều đó sai: đơn giản là Trương Vĩnh Ký dùng một bản Kiều Nôm rồi phiên âm ra. Ông Trần Nhật Vy nhắc đến chuyến ra Bắc của Trương Vĩnh Ký năm 1875 và đặt giả thuyết thời điểm ấy Trương Vĩnh Ký tiếp xúc với các bản Kiều Nôm. Tôi không nghĩ vậy, tôi nghĩ Trương Vĩnh Ký đã có bản Kiều Nôm từ trước đó rất lâu. Kiều là một văn bản rất phức tạp, không thể có chuyện Trương Vĩnh Ký ra Bắc, mang Kiều Nôm vào Nam rồi phiên âm rồi in ngay trong cùng năm. Ông Trần Nhật Vy nói bản Trương Vĩnh Ký này không được quan tâm suốt bao nhiêu năm. Không hẳn vậy: bản Kiều Nguyễn Thạch Giang in lần đầu năm 1972 rồi sau đó tái bản ít nhất hơn 20 lần có kiểm kê nó, nhiều người khác đã bàn về nó. Lý do khiến bản Trương Vĩnh Ký không thịnh hành rất có thể nằm ở chỗ Trương Vĩnh Ký đã phiên sai rất nhiều, điều này đã được một số người, nhất là Nguyễn Quảng Tuân, chỉ ra rất thuyết phục từ lâu. Ông Trần Nhật Vy không biết điều đó? Ông Trần Nhật Vy lại dùng ấn bản 1911 (sau khi Trương Vĩnh Ký đã qua đời) vì nói là không tìm được bản đầu 1875 và bản nhì 1898. Trong Kiều Nguyễn Thạch Giang có ảnh chụp bìa bản Trương Vĩnh Ký 1875, về nguyên tắc nếu muốn khảo bản này thì ông Trần Nhật Vy phải tìm được. Ông Trần Nhật Vy cũng nói không biết bản nhì là nhà xuất bản nào, nhưng ông Nguyễn Quảng Tuân trước đây đã khảo, và có ghi rõ bản 1898 in ở nhà xuất bản nào. Rõ ràng ông Trần Nhật Vy đã khảo cứu lịch sử vấn đề vô cùng sơ sài.
Kiều: trưng bày
Thật ra, tôi chưa bao giờ là một người “cuồng Kiều“. Giới sưu tầm chuyên ngạch Kiều chỉ cần nghe tôi thú nhận tôi không có Kiều Abel des Michels và Kiều văn họa là có thể thở phào loại ngay một đối thủ không đáng để tâm, cào cào châu chấu
Cho nên bộ sưu tập riêng của tôi, nói trước luôn là khiêm tốn lắm nhưng cũng gắng gượng đem trưng bày nhân ngày giỗ Nguyễn Du, 5 năm nữa là tròn 200 năm. Viết xong bài “Nguyễn Du chi đạo” thú thực là tôi mệt lắm rồi, chắc vài chục năm nữa mới dám quay trở lại với Kiều. Nhân tiện, đợt vừa rồi có gì thô lậu mong hải nội chư quân tử niệm tình lượng thứ
Nhân đây xin kể một câu chuyện. Thật ra trong đời, tôi rất lười đi hiệu sách, nhất là hiệu sách cũ, toàn bụi là bụi, báu bở gì. Một hôm đến một nơi xa xa, vào một hiệu, mua cũng được một ít rồi, toàn thứ đắt kinh huhu thì bỗng tôi đá chân phải một quyển thù lù, giở ra thì biết ngay là Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện tác phẩm posthumous của Tản Đà, bản Tân Dân. Nghĩ bụng phát này lại bị chặt chém rồi, tôi mang ra đưa người bán sách. Ông bán sách mở ra xem, thấy ông ấy xoay ngang xoay ngửa, tôi biết ngay hóa ra ông ấy chẳng biết đây là quyển gì, vì nó đóng bìa khác, bìa cũ đã mất, lại rách mất trang cuối. Tôi bèn tỏ vẻ hiểu biết, sờ sờ quyển sách rồi bảo, quyển này chắc in tầm sáu mấy bẩy mấy, giấy này phổ biến thời đó bác ạ. Ông ấy tặc lưỡi, đưa luôn cho tôi, với cái giá 100.000 đồng. Quyển này tôi đem tặng một nhà sưu tầm chuyên Kiều, đôi bên rất khoái chí hoan hỉ.
Đây là Kiều René Crayssac, ấn bản đầu, Lê Văn Tân 1926, bìa ghi tiếng Pháp nghĩa là “nghìn thứ sáu”:
Sách có chữ ký của ông quan thuộc địa (nhưng cũng chẳng quý mấy đâu, vì Crayssac ký rất nhiều, có thể thấy ở quyển này con số 1956 hehe):
Thật ra trong số các bản Kiều dịch sang tiếng Pháp, bản Crayssac rất quan trọng, dịch thành thơ alexandrin 12 chân. Không hiểu sao Lê Xuân Lít lại loại nó ra khỏi danh mục Kiều của mình.
Kiều tiếng Pháp mà ra văn xuôi thì có “Kiều MR” dưới đây. Niên đại là 1944. MR có vẻ là viết tắt của Marcel Robbe gì đó, nhân thân tiểu sử không rõ, có vẻ là một ông lính:
Điều oái oăm là trên bìa quyển này lại ghi “Nouvelle traduction française” nên nhiều người nghĩ nó là ấn bản mới và trước 1944 đã có ấn bản khác, nhưng theo tôi đây chính là ấn bản đầu, nếu tái bản thì phải ghi “nouvelle édition”.
Cũng trong năm 1944 và cũng Đắc Lộ thư xã, quyển này cũng được tái bản.
Điều oái oăm nữa là thư mục Trần Đình Sử ghi nhận một khảo cứu của MR cùng trong năm 1944 nhưng lại bỏ qua bản dịch này.
Nó rất là văn xuôi, như thế này:
Kiều Nguyễn Văn Vĩnh thì vô cùng phổ biến, nhất là ấn bản 1942 này (ảnh tôi đi mượn đấy, vì bộ của tôi không được long lanh đáy nước in trời như thế này):
Thời này, minh họa của Mạnh Quỳnh rất đắt khách. Để bao giờ có thời gian tôi trưng bày sách của Đắc Lộ thư xã thập niên 40 Mạnh Quỳnh minh họa, nhiều lắm, rất đa dạng:
Đến lượt “Kiều văn học”, 1951:
Quyển này nổi tiếng vì có sáu phụ bản in rời rất đẹp của các mét. Tôi có đủ, nguyên vẹn đẹp đẽ nhưng thôi không chụp (yên tâm, tôi không thuộc dạng gỡ phụ bản treo lên tường thay tranh).
Kiều là đối tượng quan trọng của Viễn Đông Bác cổ, đây là một ấn phẩm thuộc hệ thống ấy, liên quan đến tên tuổi một người rất quan trọng trong lịch sử nghiên cứu Kiều, Maurice Durand:
Bản dịch Kim Vân Kiều truyện của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, 1971:
Bộ này còn hai tập nữa, tiếng Việt, nhưng tôi chưa kiếm được hehe, nên chỉ toàn chữ loằng ngoằng thế này thôi:
Lịch sử phê bình Kiều tôi đã nói kỹ ở đây, một cách tập trung, hệ thống tác phẩm của một nhân vật lớn đặc biệt quan trọng thì ở đây, nên giờ tôi chỉ nhắc đến vài quyển ít được biết đến nữa thôi.
Nguyễn Đăng Thục:
Nhìn chung, Bùi Giáng là người nhu mì, không mấy khi nặng lời với ai, nhưng trong quyển đọc Kiều dưới đây, ổng khá là gay gắt với Nguyễn Sỹ Tế, vì ổng thấy NST nói xấu nàng Thúy Kiều của ổng :
NB. Đang suy nghĩ rất lung xem có nên thò Kiều Trương Vĩnh Ký và mấy Kiều Nôm ra không :
Thế nào mà lại quên mất quyển này:
Ấn bản 1926, in tại Paris.
Người dịch hay được gọi ở Việt Nam là “Léo Masse”, tuy nhiên theo một tài liệu đáng tin cậy thì phải là “Léo Massé”. Có vẻ cũng là một ông lính, chưa rõ tiểu sử.
Điều kỳ bí đối với bản dịch tiếng Pháp của Léo Masse/Léo Massé là không chỉ có ấn bản 1926 này, mà trước đó đã có ấn bản 1915. Có điều, ở năm 1915 ấy, tên người dịch lại ghi là “Thu Giang”. Việc này dẫn tới chuyện rất nhiều nơi ghi nhận đây là hai bản dịch khác nhau, nhưng thật ra chúng là một.
Cả hai thư mục, Trần Đình Sử và Lê Xuân Lít, hoặc ít nhất là một trong hai, cũng ghi hai bản, bản Thu Giang và bản LM hehe (trong khi không ghi nhận bản Crayssac và bỏ sót bản MR).
Con đường Nguyễn Du
Ta hãy bước vào một vùng trời khác.
Vùng trời của “trăm năm trong cõi người ta”. Câu thơ ấy tột cùng đơn giản, nhưng cứ nghĩ kỹ thêm, đến một lúc, ta nhận ra dường như đã không thực sự hiểu nó, và nghĩ thêm nữa, thêm thật nhiều nữa, có vẻ như ta hoàn toàn không hiểu câu thơ ấy nói gì. “Cõi người ta” thật ra là cõi người của chúng ta, hay là cõi của những người ta đâu đâu kia, chẳng một chút liên quan? Hiểu theo cách thứ nhất, Nguyễn Du ở trong, hiểu theo cách thứ hai, Nguyễn Du ở ngoài. Vòng tròn trăm năm ấy có Nguyễn Du ở trong hay để lọt Nguyễn Du ra bên ngoài? “Những điều trông thấy” là những điều trông thấy của sự tham dự hay những điều nhìn từ một khoảng cách?
Và đến cuối một vòng tròn khác, lần này là vòng tròn-bài thơ: khi hết bài thơ, ta có thêm một hoảng hốt nữa về cách hiểu: “Mua vui cũng được một vài trống canh”. Câu thơ khép lại này nói lên một sự thật rất giản dị, là bài thơ mà ta vừa đọc cần vài trống canh để đọc xong, một sự thật không có gì để bàn cãi. Nhưng toàn chuyện chuốc buồn mua sầu não đấy chứ, sao lại là “mua vui”? Nguyễn Du đã nhún nhường, đã mỉa mai, hay quả thật ta đã bỏ qua mất những chỗ vui trong câu chuyện? Dường như ý sau cùng rất quan trọng: quá đắm chìm trong trầm luân và đau thương, rất có thể ta quên mất rằng ở Kiều có những chỗ rất buồn cười, câu chuyện ấy có những khía cạnh hài hước rất đáng nói.
Nhất Linh từng đặc biệt chú ý đến từ “tốc” trong câu “Tú Bà tốc thẳng tới nơi”. Đó là một dáng điệu hết sức buồn cười. Kiều chứa đủ mọi thứ, nên ở trong đó có buồn nhưng cũng có vui, cái khía cạnh mà người ta thường bỏ bẵng đi mất. Kiều thuộc loại tác phẩm không bao giờ có thể khai thác được đến cạn kiệt ý nghĩa, còn quá nhiều điều nữa vẫn ở nguyên chỗ của chúng đợi những con mắt xanh mới mẻ nhìn ra; sự thể này còn áp dụng cho cả những gì từng được bàn tới rất nhiều. Ý nghĩa thứ nhất của văn chương lớn nằm ở đây. Vùng trời ấy và vòng tròn ấy mãi mãi không bị cũ đi.
Cũng Nhất Linh thời tuổi trẻ phát biểu một điều rất tinh tế: “cụ Nguyễn tuy dùng nhiều chữ như vậy, nhưng chưa hề bịa đặt ra bao giờ. Thường thường những người viết văn giỏi không mấy khi mắc phải cái tật ấy, vì cứ tiếng thường cũng đủ dùng rồi”.
Để thấy rõ điều mà Nhất Linh nói, chỉ cần đi sâu thêm một chút vào vùng trời kia.
Sáu câu mở đầu của Kiều:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
Những câu thơ này gần vô hạn với mở đầu của Chinh phụ đã diễn ra Nôm:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
Hay mở đầu của Cung oán:
Trải vách quế gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào
Lại càng gần hơn với mở đầu của Mai đình mộng ký:
Trăm năm là kiếp ở đời
Vòng trần này đã mấy người trăm năm
Cuộc phù sinh có bao lăm
Nỡ qua ngày bạc mà lầm tuổi xanh
Duyên tế ngộ hội công danh
Là hai, với nghĩa chung tình là ba
Tất cả đều tuyên bố ngay về “bọt bèo phù thế”, sự mịt mù của cuộc đời, nỗi long đong của tài năng, nhan sắc. Kiều và Mai đình chung nhau cả đến cái quãng “trăm năm”, Kiều và Chinh phụ, Cung oán chung nhau đến cả sự đối lập màu sắc giữa “má hồng” và “trời xanh” (“má hồng” của Cung oán thì đối lập với “phận bạc”). Nhưng Kiều lại cũng rất khác ba tác phẩm còn lại: đó là sự khác xuất phát từ việc sử dụng những từ như “khéo là” hay “quen thói”, những từ mà các nhà thơ khó có thể nghĩ là dùng được trong thơ.
Đặc điểm thứ hai của văn chương lớn chính là ở chỗ ngôn từ bình thường bỗng trở nên ảo diệu. Trong cuốn khảo luận về Marcel Proust mang tên Proust entre deux siècles (Proust giữa hai thế kỷ), Antoine Compagnon từng có một phân tích xuất chúng về việc Proust đưa câu thơ cực kỳ đơn giản của Baudelaire vào bộ À la recherche du temps perdu nhưng thật ra đó là một đỉnh cao của thẩm mỹ thi ca: “Ne me vaut le soleil rayonnant sur la mer”. Thiên tài luôn luôn đơn giản đến đáng kinh ngạc.
Trong Kiều, những câu hay nhất đều gồm toàn những từ không thể bình thường hơn:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
Nách tường bông liễu bay ngang trước mành
Gương nga chênh chếch dòm song
Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân
Lần lần ngày gió đêm trăng
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua
Ngày vui ngắn chẳng đầy gang
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài
Thợ khéo không làm nên văn chương lớn, mà chỉ xảo, thợ trời thì trông vụng về nhưng lại làm ra những điều tuyệt diệu, vốn dĩ người ta hiểu điều đó từ lâu, nhưng hiểu là một chuyện, làm được hay không lại là một chuyện khác. Những tinh xảo của từ ngữ Nguyễn Du có thể nằm rất nhỏ bé ở một trật tự từ; ví dụ sau đây do Nguyễn Tuân chỉ ra:
Ở hai câu thơ miêu tả trong thư phòng Kim Trọng thì:
Trên yên bút giá thi đồng
Đạm thanh một bức tranh tùng treo trên
Còn khi Thúy Kiều lần đầu tiên cập bến thanh lâu, vẫn có hai từ ấy, “treo” và “trên”, nhưng thứ tự đảo lại, và ta có:
Giữa thì hương án hẳn hoi
Trên treo một tượng trắng đôi lông mày
Một đổi thay rất nhỏ đã biến cải toàn bộ phong vị, sắc thái, đến mức độ không thể hình dung được. Nhất Linh từng nêu lên ao ước được xem bản thảo của Nguyễn Du, theo ông: “câu thơ hình như gọt giũa từng li từng tí, đổi một chữ cũng không được, không biết cụ Nguyễn Du làm văn có phải khó nhọc không, hay cụ chỉ đặt bút là câu nào ra câu ấy rồi?” Đinh Hùng thì hạ một nhận xét: “Xét về phương diện kỹ thuật, thì Nguyễn Du là một tay phù thủy dùng chữ như sai âm binh” (ở chỗ này, Đinh Hùng đang bàn về văn chương của Thập loại chúng sinh, nhưng điều ấy hoàn toàn có thể áp dụng cả cho Kiều).
Tôi sẽ chỉ nêu lên thêm nốt hai ví dụ nhỏ về tài dùng từ của Nguyễn Du trong Kiều. Cái tài vi diệu này đã được phân tích suốt bao nhiêu năm, bởi biết bao bậc tài danh, có cố gắng cũng sẽ chẳng thể góp được gì nhiều, vả lại mục đích của bài viết này gần như hoàn toàn nằm bên ngoài địa hạt ngôn từ.
Từ “dấu giày” xuất hiện ở hai lần phân ly cách biệt, đều gợi lên sự xa vắng, trống trải. Nhưng trong mối quan hệ Kim-Kiều thì:
Xập xè én liệng lầu không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày
(lúc này Kim Trọng trở lại vườn Thúy)
Tình đầu trong trẻo để lại dư vị đậm sâu, nên lớp rêu buộc phải phong dấu giày ngày xưa, dẫu cho đó chỉ là dấu vết trong tưởng tượng, hoàn toàn không có thực. Còn khi Thúy Kiều và Từ Hải,
Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Rồi Từ Hải đã ra đi, thì:
Sân rêu chẳng vẽ dấu giày
Cỏ cao hơn thước liễu gầy vài phân
Cũng buồn bã lắm, nhưng tình này là tình khác hẳn, nên trên nền rêu đâu có vết tích nào để lại.
Trong Kiều lại có “hoa lê” danh từ và “hoa lê” không phải danh từ. “Hoa lê” thứ nhất, chẳng hạn, ta gặp trong hai câu:
Cớ sao trằn trọc canh khuya
Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa
“Hoa lê” thứ hai nằm trong hai câu tuyệt tác:
Tiếng sen sẽ động giấc hòe
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần
“Lê” ở đây là động từ. Ta sẽ gần như không bao giờ gặp được trong thơ cổ một động từ thuộc dạng như thế lại được dùng cho chủ thể cao quý như “hoa”. Nguyễn Du cách biệt muôn trùng với các nhà thơ cùng thời và trước ông. Tài năng của Ôn Như Nguyễn Gia Thiều ở mức tuyệt diệu, cuộc đời ban đầu của Ôn Như lại cũng phú quý vinh hiển như xuất thân của Nguyễn Du (chỉ khác một điểm là trước triều đình mới, dựa vào tuổi tác, Nguyễn Gia Thiều có thể chống gậy đến để nói lời từ chối). Nhưng Nguyễn Gia Thiều loại bỏ mọi từ ngữ bình thường ra khỏi thế giới thơ ca của ông. Những gì hay nhất của Cung oán nằm ở chỗ trang nghiêm đáng kính ngưỡng:
Cầu Thệ Thủy ngồi trơ cổ độ
Quán Thu Phong đứng rũ tà huy
Phong trần đến cả sơn khê
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này
Nguyễn Gia Thiều đẩy mọi thứ trong thơ lên cực điểm, nàng cung nữ của ông xứng đáng là một tiên nữ nằm ngoài mọi tưởng tượng của phàm nhân:
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa
Hương trời đắm nguyệt say hoa
Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình
Câu cẩm tú đàn anh họ Lý
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương
Thế giới của Nguyễn Gia Thiều, vòng tròn Nguyễn Gia Thiều, giống như “Chút thiêng liêng sót lại của thiên đường” (Vũ Hoàng Chương), không phải chốn này.
Nguyễn Du thì khác, cũng sinh ra trong thế giới quý tộc học vấn tinh diệu nhưng ông đi vào những đối tượng khác hẳn, sử dụng những ngôn từ hoàn toàn khác. Thật ra một phần lớn con người Nguyễn Du trượt ra khỏi thế giới xuất thân của ông, thậm chí ta có thể nói ông đi xuống thật thấp; một sự hạ mình rất đặc biệt của nhà nho quý tộc Việt Nam.
Nhịp điệu thơ của Nguyễn Du cũng rất khác. Dẫu hoàn toàn tin lời của Bùi Giáng, rằng “lục bát Việt Nam là cõi thi ca hoằng viễn nhất”, tôi vẫn luôn luôn thấy nhịp điệu của thơ lục bát hiền lành quá, những nhịp đôi của nó quá thường xuyên mang tới cảm giác đơn điệu. Phân tích Nguyễn Du trong Thập loại chúng sinh, Đàm Quang Thiện chỉ ra ba bút pháp phổ biến, mà ông gọi tên là “lưỡng long song phụng” (ví dụ “hồn đơn phách chiếc” hay “góc bể chân trời”), “uyên ương phượng hoàng” (ví dụ “vào sông ra bể”, “điếm cỏ bóng cây”) và “long phụng song phi” (thực chất là “tiểu đối” của các câu bát, ví dụ “Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời”). Những phân tích này đặc biệt hay, nhưng đều nhấn mạnh vào sự đăng đối, cân bằng, dễ che mờ đi một sự thật là Nguyễn Du giàu tính sáng tạo về nhịp điệu hơn nhiều. Với tôi, lục bát của Nguyễn Du có nhịp rất riêng, điều này phụ thuộc rất nhiều vào từ thứ ba trong các câu thơ.
Ở các câu lục, nhịp ba lại tạo ra tiểu đối, đã có sự phá vỡ nhịp hai quen thuộc nhưng sự phá vỡ này còn chưa thực sự mãnh liệt. Vài ví dụ:
Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao
Mặt mơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng
Người quen thuộc kẻ chung quanh
Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi
Kéo cờ lũy phát súng thành
Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài
Ma đưa lối quỷ đem đường
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi
Hết nạn ấy đến nạn kia
Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần
Nhịp ba đưa vào các câu bát mới tạo ra hiệu quả thẩm mỹ lớn lao:
Kiếp hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương
(riêng ở hai câu này ta có thể thấy cả câu lục lẫn câu bát đều đi theo nhịp ba)
Rút trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần
Chung quanh vẫn đất nước nhà
Với Vương Quan trước vốn là đồng thân
Người mà đến thế thì thôi
Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi
Sinh rằng: Gió mát trăng trong
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam
Mối tình đòi đoạn vò tơ
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng
Tất nhiên, hiện tượng đảo nhịp phổ biến hơn (thường cũng đưa về nhịp lẻ) nằm ở các câu (chủ yếu là câu lục) trong đối thoại, mở đầu bằng “rằng” và tiếp theo là dấu hai chấm.
Giờ, ta quay trở lại với vấn đề đã nêu thoáng qua nhưng còn chưa được giải thích: Nguyễn Du ở cách xa các nhà thơ cùng thời, vậy thì Kiều gần với cái gì? (Thật ra ở đây đã có thêm một ý nghĩa của văn chương lớn: văn chương lớn bao trùm thời đại của nó nhưng cũng lại đồng thời ở cách rất xa thời đại ấy). Tất nhiên, Kiều không gần với Kim Vân Kiều truyệncủa Thanh Tâm Tài Nhân. Kiều gần nhất với Thập loại chúng sinh.
Thanh Tâm Tuyền cho Kiều là sự phóng to của Thập loại chúng sinh, với Đinh Hùng thì: “Cả Truyện Kiều cùng Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh đều giúp cho ta tìm hiểu con người toàn vẹn của Nguyễn Du. Và phải có cả hai, Nguyễn Du mới thực là Nguyễn Du”.
Điều Đinh Hùng nói rất chính xác, nhưng tôi còn muốn nói hơn thế: Kiềuvà Thập loại chúng sinh thực chất chỉ là một.
Kiều và Thập loại chúng sinh dùng thông nhau nhiều cụm từ, chẳng hạn:
Đau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu
(Thập loại chúng sinh)
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
(Kiều)
Trong Thập loại chúng sinh có hai câu:
Trên lầu cao, dưới dòng nước chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi
Còn trong Kiều có những câu:
Hàn gia ở mé tây thiên
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu
và:
Thuyền tình vừa ghé tới nơ
/Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ
Nhưng không chỉ có vậy. “Trăm năm trong cõi người ta” không gần với “trăm năm” của Mai đình mộng ký, mà gần nhất, mà chính là “Trong trường dạ tối tăm trời đất”. Theo tôi, Nguyễn Du đã viết Kiều và Thập loại chúng sinh cùng một lúc, không có chuyện tác phẩm nào trước tác phẩm nào sau. Một mình Kiều thì không đủ, một mình Thập loại chúng sinhcũng sẽ không đủ. Điều này đặc biệt quan trọng, ta sẽ thấy rõ hơn ở đoạn sau.
Ta hãy thử làm một việc: tưởng tượng câu chuyện cho đối tượng dưới đây:
Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cất gánh non sông
Chắc hẳn ta sẽ có một mảnh của Kiều, thậm chí có một Kiều thứ hai. Tưởng tượng câu chuyện cho đối tượng dưới đây:
Cũng có kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế phòng hoa
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao
Chắc hẳn ta sẽ lại có thêm một mảnh nữa của Kiều, thậm chí có một Kiềuthứ ba. Còn với đối tượng này:
Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai
Thì đương nhiên chính là Kiều mà ta đã biết.
Hoặc ngược lại, nếu bỏ đi các câu chuyện của Kiều, thì khi đã không còn câu chuyện, Kiều lại trở thành Thập loại chúng sinh:
Nghĩ mình mặt nước cánh bèo
Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân
rất gần với “Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao”
Hoặc nữa:
Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi
Những là oan khổ lưu ly
Chờ cho hết kiếp còn gì là thân
hay:
Xót thay chiếc lá bơ vơ
Kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong
Hoa trôi nước chảy xuôi dòng
Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan
đặc biệt là:
Xót mình cửa các buồng khuê
Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay
Khéo là mặt dạn mày dày
Kiếp người đã đến thế này thì thôi
Thương thay thân phận lạc loài
Dẫu sao cũng ở tay người biết sao
hoặc:
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Những câu thơ ấy dễ dàng lẩn vào trong Thập loại chúng sinh, giữa những câu như:
Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh
Nghìn vàng khôn đổi được mình
Lân đài phụng các tan tành còn đâu
hoặc:
Mênh mông góc bể bên trời
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào
Xét cho cùng, tất tật đều lâm vào cảnh:
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Đinh Hùng viết: “đối với tác giả Chiêu Hồn, cái chết mới chỉ là khởi điểm của cuộc sống miên trường”. Và Đinh Hùng cũng nêu lên một nghịch lý: “Tất cả cái thi vị ghê rợn đến não nùng đó, không hiểu sao truyền tới những người sống như chúng ta, liền bên cạnh giây phút rùng mình, vẫn phơn phớt gợn nhẹ một cảm giác vô cùng khoái sảng”.
Có như vậy là bởi Thập loại chúng sinh là tiếng nói từ cõi chết nhưng vọng lên cho cõi sống. Còn Kiều? Ta hoàn toàn có thể coi đó là câu chuyện của cõi sống, nhưng là để chuẩn bị cho cõi chết. Hai cõi này trong vòng tròn của Nguyễn Du thông với nhau. Nguyễn Du là người hạ mình xuống thấp đến cỏ cây, âm hồn, với một tình thương không phân biệt,
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu
Với tôi, Nguyễn Du không gần Phật bằng gần Jesus Christ, người từ bỏ thế giới của mình để xuống thật thấp, gánh đỡ nỗi điêu linh của tất cả. Văn chương Nguyễn Du là lớn vì văn chương ấy hiểu bản chất của xứ sở, cái xứ sở đau thương chết chóc quá nhiều, người sống người chết chen nhau không đường ranh giới, phải chuẩn bị cho người sống đón nhận cái chết của mình, nhưng đồng thời cũng phải hướng đến siêu sinh tịnh độ cho hồn ma, cho chúng sinh bơ vơ không người hương khói. Đạm Tiên có thể coi là một điểm nối quan trọng giữa Kiều và Thập loại chúng sinh, một trong “chúng sinh” của thảm cảnh “Kẻ thân thích vắng sau vắng trước/Biết lấy ai bát nước nén nhang”, phải nằm nơi nấm “mồ vô chủ ai mà viếng thăm”.
Đinh Hùng, mà tôi coi như một tâm hồn gần gũi hơn cả với Nguyễn Du, một nhà thơ cũng ở ranh giới giữa sống và chết, người và ma, hiểu sâu sắc ý nghĩa thơ ca Nguyễn Du: “Ngay trong lòng tác giả “Chiêu Hồn” đã có sẵn cả một đàn chay cứu khổ. Giọt nước cảm xúc của nhà thơ chính là hạt nước cành dương màu nhiệm, có cái hiệu quả siêu sinh tịnh độ đối với những vong hồn còn nặng chướng căn”. Với Đinh Hùng, thơ Nguyễn Du có yếu tố thần chú và tạo ra phép lạ. Khi phân tích thơ của Đinh Hùng, tôi cũng từng nói đến yếu tố thần chú ở trong chính các tập Mê hồn ca, Đường vào tình sử và Tiếng ca bộ lạc.
Cũng khi phân tích thơ Đinh Hùng, tôi nhắc đến Nguyễn Du và Dante (xem ở đây, đoạn cuối cùng). Dante là một gợi ý rất lớn về “con đường” của cuộc đời và của thơ ca. La Divina Commedia mở đầu bằng cái ý đến giữa đường đời, con người ta sẽ có biến chuyển kỳ lạ. Với Dante là cuộc đối đầu với địa ngục. Đinh Hùng ở tuổi ba mươi lăm mới cho in tập Mê hồn ca, đó cũng chính là năm 1954 điêu tàn. Cùng ở độ tuổi ấy, Nguyễn Du phải kinh qua đoạn cuối của cuộc biến loạn khủng khiếp, ngay trước khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế Gia Long, một phen thay đổi sơn hà.
Con đường Nguyễn Du với tôi là một vòng tròn, cái vòng tròn mà tôi đã hơn một lần nhắc đến kể từ đầu bài này. Đó là một vòng tròn tưởng chừng như rõ ràng, nhưng thật ra không phải: ta biết gì về cuộc đời Nguyễn Du? Gần như không hề có gì chắc chắn. Tại cuộc hội thảo về Nguyễn Du và Kiều gần đây nhất, vẫn có nhà nghiên cứu cố tìm cách xác định xem Nguyễn Du có từng qua Lâm An trên đường đi sứ Trung Quốc hay không. Ta tưởng đã biết về Nguyễn Du, nhưng thật ra ta không biết gì hết. Hoặc là rất ít. Nguyễn Du lại chọn “lam bản” để viết Kiều là một câu chuyện bí ẩn không kém, khiến cho mất rất nhiều năm người ta mới tạm gọi là xác định được. Nhưng xác định được rồi thì ta vẫn không mấy hay biết về Từ Vị tức Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du tự tạo ra cho mình một bức màn rất bí ẩn bao quanh. Rồi, văn bản Kiều gần như không thể có một điều gì thực sự chắc chắn, gần như câu nào cũng gây tranh cãi lâu dài. Vậy thì cuối cùng, Nguyễn Du vẫn cứ mãi mãi là một bí ẩn, một câu đố lớn không mong gì giải đáp thấu đáo cho nổi. Đinh Hùng từng tìm cách biết về Nguyễn Du qua các câu hỏi: “bản thể Nguyễn Du đã mấy lần tự hủy để rồi lại tái sinh qua bao nhiêu hình tướng, bao nhiêu duyên nghiệp?”, hoặc: “thần phách Nguyễn Du đã có lần nào lẩn vào xác bướm, hồn hoa? hoặc có lần nào con người siêu phàm trong Nguyễn Du biến hình thành Tiên, thành Phật, thành Quỷ, thành Ma?” Thật ra, tôi nghĩ Đinh Hùng biết nhiều về Nguyễn Du hơn là ông tỏ ra: “Trong cô độc, Nguyễn Du đã từng sống lẫn với thần tiên, ma quỷ, bởi vì ma quỷ với thần tiên cũng chỉ là hình ảnh “phản hồn” của chính con người Nguyễn Du”, nhưng trong hành xử của thiên tài đối với thiên tài, lúc nào cũng có cái phần tôn trọng sự bí mật của nhau.
Đây là một chuyện lặp lại. Có những vòng tròn giao cắt với nhau rất lạ lùng. Đinh Hùng có nhiều điểm chung với Nguyễn Du, đó cũng là một người có rất nhiều bí mật, và bản thân con đường Nguyễn Du đã đi, cái vòng tròn ấy, lặp lại con đường, vòng tròn của Nguyễn Trãi, ở không ít điểm. Không chỉ Nguyễn Du mới có “thập tải phong trần” mà ta gần như không biết được các chi tiết, Nguyễn Trãi cũng có “thập niên phiêu chuyển”, mà ta cũng lại không biết chi tiết nốt. Rốt cuộc thì quãng “giam lỏng Đông Quan” đối với Nguyễn Trãi, những gì Nguyễn Du làm và nhìn thấy ở dãy núi Hồng Lĩnh đã chìm hẳn vào sâu thẳm thời gian không cách gì có thể khơi lại.
Một khả năng rất rõ ràng là văn chương lớn còn bao hàm cả những bí ẩn tồn tại vĩnh viễn. Thật ra Marcel Proust đã làm những gì trong căn phòng kín bưng chia cách hẳn với thế giới bên ngoài? Chắc chủ yếu là Proust chỉ ngủ, nhưng những giấc ngủ ấy hẳn kỳ quái lắm.
Và Nguyễn Trãi cũng có một tác phẩm được người Việt Nam biết đến không kém gì Kiều, đó là Bình Ngô đại cáo. Thêm một câu hỏi: Nguyễn Trãi có tác phẩm nào có thể so sánh với Thập loại chúng sinh không? Nhà thơ lớn của Việt Nam không thể lờ đi cái sự thể là xứ sở này quá nhiều ma quái quỷ dị được.
Với tôi, những bài thơ về cửa Thần Phù của Nguyễn Trãi nằm ở phía ấy. Kể cả bài “Cây chuối” nữa (bài này thì làm bằng chữ Nôm, cũng như Kiềuhay Thập loại chúng sinh: lựa chọn Nôm ở Nguyễn Trãi và Nguyễn Du đều rất ý nghĩa). Thật ra bài thơ “Cây chuối” định nói gì? Đây là một bài thơ cực kỳ khó hiểu tuy có vẻ bên ngoài giản dị đến não lòng; tôi chỉ biết rằng thân cây chuối vào những kỳ tháng Bảy âm vô cùng độc địa, là nơi trú ngụ của những hồn ma được hưởng vong nhân xá tội nhưng đến hạn không chịu trở về ngục tối mà trốn ở lại. Ở điểm này, ta chỉ thấy được phảng phất chứ không rõ ràng và cũng không mong rõ ràng hơn được.
Nguyễn Trãi sống ở đoạn mấy triều tranh giành quyền lực, lại thêm giặc Tàu, Nguyễn Trãi cũng có xuất thân cao quý không khác gì Nguyễn Du. Mà lịch sử là sự lặp lại. Những vòng tròn cứ quay trở lại mỗi khi hội đủ điều kiện.
Sau Nguyễn Du, đã có một vòng tròn nào giống như thế hay chưa? Câu hỏi này động đến một điểm cốt yếu của “con đường văn chương Việt Nam”, ở những sự lặp lại. Thời loạn lạc nhất về sau này của lịch sử Việt Nam chính là thời điểm 1945; cũng như vào thời của Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, nhiều phe phái tranh giành quyền lực và cũng có cả sự can thiệp từ bên ngoài. Nếu “con đường văn chương Việt Nam” như vừa nêu là có tồn tại thật, thì quanh thời điểm 1945 ấy phải có một nhân vật vẽ lại vòng tròn Nguyễn Trãi và vòng tròn Nguyễn Du.
Tôi tin là có một nhân vật như vậy. Ta hãy thử tiếp cận câu chuyện này bằng một câu hỏi rất thận trọng: ngoài Bình Ngô đại cáo và Kiều, mọi người Việt Nam đều thuộc lòng một tác phẩm nào nữa?












