Gọi Nắng Bên Sông
Lâm Thụy Phong
Lần đầu tiên chúng tôi về Bình Hàng Trung, xe vừa rời Quốc Lộ 30, rẻ vô con đường nhỏ, trước mặt là Ủy Ban Nhân Dân, một cảm xúc thật nhẹ nhàng trong lòng, xa lạ mà gần gũi, chưa quen mà như đã từng quen.
Xe qua những con đường nhỏ, chạy chậm để nhường các xe gắn máy ngược chiều. Một bên là sông Cái Bèo, nhà cửa san sát, bề ngoài có vẻ tươm tất, sạch sẽ. Bên này là hàng rào, trồng nhiều loại bông khác nhau, đủ màu, bình dị của bông trang đỏ, vàng tươi vui như hoàng yến khoe sắc trong nắng. Trước sân, nhà nào hầu như đều có mái hiên, lớn hoặc nhỏ, đồng bộ thiết kế bằng các vật liệu giống nhau.
Tiếp tục đi theo những con đường quê nhỏ hơn, không trải nhựa, gồ ghề gạch sỏi đất cát, leo lên những cây cầu xi măng, cong gồ lên cao, bắt qua các con rạch nước vàng đục màu phù sa, chỉ vừa đủ cho xe hai bánh qua lại, an toàn né nhau trong vùng sâu vùng xa.
Sau này tôi mới biết, căn cứ kháng chiến chỉ đạo chiến lược Xẻo Mít nằm trên địa bàn nơi đây. Chúng tôi đang ở vùng mà ngày xưa gọi là “Oanh Kích Tự Do”, trực thăng từng đoàn, đơn phương hay từng nhóm nhiều chiếc bay trên đầu, không cần hẹn giờ như xe “trung chuyển” đến rước.
Đền thờ thần làng, kế bên là bảng tên các “anh hùng liệt sĩ” được “ghi công” với “bên thắng cuộc”, khắc trên tấm bia mộ, đã hy sinh tại Bình Hàng Trung.
Qua cầu Thầy Nhượng cao nhổng đít, chúi mũi đầu xe, chúng tôi đến nơi cần đến. Mặt trời lên cao trên miếng đất rộng, phía sau xa xa, là vườn mít, sầu riêng, đu đủ, xoài, mận, ổi chen bên các ngôi mộ, nhà mồ có nóc đỏ nổi bật giữa màu xanh tươi của lá.
Phía trước đất bùn đã được “Ku-Be” móc lên ngổn ngang lúc đào các mương chứa và rút nước, thông với con sông trước mặt bằng cái “bọng”. Thiết kế này ngoài việc giúp nước sông thông thương với hệ thống rạch trong vườn, còn có mục đích “gài” tôm cá từ sông vào mương để chài bắt.
Tôi ngắm bè lục bình bơi theo giòng nước dày đặc, tải theo đủ loại phế liệu gia dụng, vật dụng, bao bì ny-lông, thùng “sốp” polystyrene. Tất cả đều ra sông ra biển, vô tư, vô tội vạ!
Chúng tôi đã bắt đầu từng bước ở đây như thế. Bao nhiêu khó khăn được cân đo, giải quyết để vượt qua. Tôi chỉ là “dám đốc công chình”, không mần vì không có khả năng cơ bắp, nhưng được hưởng theo nhu cầu làm tư vấn, có dịch vụ cà phê sữa đá cái nồi ngồi trên cái cốc do vợ mần. Sáng kính thưa, trưa kính gởi, tối kính mời. TV tháo vát, đảm đang hầu như mọi chuyện cần thiết một cách khéo léo.
Nhìn lại con đường đã đi qua, suốt ba năm liên tiếp, chúng tôi đã sánh bước bên nhau, ghi vô số kỷ niệm trên ba miền đất nước . Tôi đã học được rất nhiều điều mà từ trẻ tôi không có cơ hội để biết, do thời thế và cuộc sống xa đất nước.
Hôm nay, từ Bình Hàng Trung làm điểm nối kết giữa ngày đã qua và ngày mai, những hình ảnh xưa lại hiện về thật rõ trong đầu như một cuốn phim quay lại. Trong đó, trên quê hương sông nước, tôi tìm về một vùng quê mà ngày xưa tôi muốn biết.
TV đưa cho tôi bàn tay, kéo tôi lên từ một cái hố thật sâu, hiểu từng cái nhìn, câu nói của tôi. Gọi nắng khi cần, che gió và che mưa cho tôi, bên này hay bên kia trên hai bờ bồi lỡ, lúc nước ròng cũng như nước nổi.
Trân quí yêu thương xin mãi mãi dành riêng cho vùng trời luôn là nắng, mây trắng, mưa bay.
Lâm Thụy Phong
Petrus Ký 1964-1971
Gọi nắng Paris 24-1-2026