Điệp viên Phạm Xuân Ẩn, xin đừng chôn tôi gần người cộng sản
Vưu Văn Tâm
“Nhắc đến Phạm Xuân Ẩn, người ta nhớ đến một phóng viên thông mình, lỗi lạc, ban ngày cần mẫn làm việc cho Time, ban đêm làm gián điệp với nhiều bí danh như ‘X6’, ‘Trần Văn Trung’ hoặc ‘Hai Trung’ và âm thầm gởi mật mã, tài liệu cho Việt Cộng đang quanh quẩn ở các khu rừng ngoại thành Sài-Gòn. Ông cúc cung phục vụ và hết lòng cung cấp bí mật quân sự cho chế độ cộng sản, khiến họ ‘như đang ngồi trong phòng tham mưu quân sự Mỹ’ và sau ngày non sông gom về một mối thì nhận được cái kết quả đắng chát”
(Tám Vạn)
Phạm Xuân Ẩn tên thật là Phạm Văn Thành (12.09.1927-20.09.2006), sinh quán ở Biên-Hòa nhưng quê quán ở Hải-Dương. Gia đình ông chuyển vào Huế khi nội tổ của ông là nghệ nhân kim hoàn được triệu vào kinh đô để làm đồ trang sức cho triều đình. Ông nội là hiệu trưởng một trường nữ sinh ở Huế và cha là kỹ sư công chánh cao cấp đi khắp vùng trên địa bàn miền Nam nước Việt.
Thời niên thiếu, ông sống tại Sài-Gòn rồi chuyển về Cần-Thơ. Năm 1945, ông tham gia tổ chức Thanh niên tiền phong và theo học một khóa huấn luyện của Việt Minh về công tác tuyên truyền. Năm 1947, ông trở lại Sài-Gòn để chăm sóc cha đang bệnh nặng và dấy lên các cuộc biểu tình của sinh viên, đầu tiên là chống Pháp rồi chống Mỹ. Ông làm thư ký cho công ty dầu lửa Caltex và ở sở thuế quan Sài-Gòn. Thời gian này, ông được Việt Minh giao nhiệm vụ tìm hiểu tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự và quân đội từ Pháp sang Việt-Nam và từ Việt-Nam về Pháp. Năm 1952, ông ra chiến khu D nhận nhiệm vụ tình báo chiến lược và một năm sau được kết nạp vào đảng cộng sản Việt-Nam.
Năm 1954, Phạm Xuân Ẩn nhập ngũ và giữ chức bí thư phòng Chiến tranh tâm lý trong bộ Tổng hành dinh quân đội liên hiệp Pháp tại Camp Aux Mares (thành Ô-Ma). Năm 1955, khi Mỹ đã chính thức thay Pháp huấn luyện và xây dựng quân lực Việt-Nam Cộng Hòa, Phạm Xuân Ẩn tham gia soạn thảo các tài liệu về tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần cho quân đội và nhất là tham gia thành lập 6 sư đoàn bộ binh đầu tiên của quân lực Việt-Nam Cộng Hòa mà nồng cốt là sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính người Việt phục vụ trong quân đội Pháp trước đây. Ông hợp tác với Mỹ để chọn lựa những sĩ quan trẻ có triển vọng đưa sang Mỹ đào tạo (trong số này có Nguyễn Văn Thiệu, sau này trở thành tổng thống nền đệ nhị Việt-Nam Cộng Hòa).
Tháng 10 năm 1957, Phạm Xuân Ẩn qua Mỹ học ngành báo chí tại Orange County, tiểu bang California trong hai năm. Ông về nước năm 1959 và được Trần Kim Tuyến, giám đốc cơ quan mật vụ trực thuộc phủ Tổng thống, biệt phái sang làm việc tại Việt Tấn Xã và coi sóc những phóng viên ngoại quốc làm việc tại đây. Từ năm 1960, ông làm cho hãng thông tấn Reuters, tuần báo Time và báo New York Herald Tribune.
Là người phong lưu, tánh tình vui vẻ và thường xuyên có mặt ở quán Givral cùng với con chó King trên đường Tự Do nên Phạm Xuân Ẩn thường được gọi là “Tướng Givral”. Ông tạo được niềm tin từ nhiều giới dù không khí ngờ vực luôn phủ kín lên bầu trời Sài-Gòn thuở đó. Là phóng viên nên được quen biết nhiều với các sĩ quan cao cấp, các nhân viên tình báo, an ninh quân đội và người của CIA, Phạm Xuân Ẩn dễ dàng thu thập nhiều tin tức, tài liệu chiến lược quan trọng rồi chuyển cho bộ chỉ huy quân sự ở miền Bắc thông qua trung ương cục miền Nam hầu giúp cho sự xâm lăng, thôn tính miền Nam Việt-Nam mau chóng thành công.
Tháng tư năm 1975, gia đình ông cùng các nhân viên của tạp chí Time được di tản ra nước ngoài trong khi ông chọn ở lại vì lý do còn mẹ già và tiếp tục làm việc cho Time tại Sài-Gòn.
Sau ngày Sài-Gòn sụp đổ, Phạm Xuân Ẩn được phong danh hiệu “anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” và thăng lên hàm tướng. Một năm sau, vợ con ông từ Hoa-Kỳ trở về Việt-Nam theo lời kêu gọi của chồng dù trong lòng đầy lo âu và nghi ngại. Dù có nhiều công trạng nhưng ông thường bị thẩm vấn, theo dõi và quản thúc tại gia vì có mối liên quan rộng rãi với người Mỹ và phương Tây. Dù mang quân hàm “thiếu tướng” nhưng ông không được trao quyền lực chính trị thực sự và được đưa ra Hà-Nội để “học tập cải tạo” 10 tháng tại viện chính trị thuộc bộ quốc phòng. Có lẽ việc ông giúp Trần Kim Tuyến rời khỏi Sài-Gòn trong giờ phút cuối vì tình bằng hữu và chút ơn nghĩa từ trước đã khiến ông ít nhiều mất đi sự tin cậy của Hà-Nội. Thì ra, cái chế độ mà ông cúc cung phục vụ bấy lâu nay, hết lòng cung cấp bí mật quân sự khiến họ “như đang ngồi trong phòng tham mưu quân sự Mỹ” cũng không bao giờ đặt niềm tin tưởng nơi ông.
Do vậy, ông thường bày tỏ nỗi buồn thất chí trước hoàn cảnh đất nước cũng như bản thân không được trọng dụng. Ông thất vọng nhiều điều từ phương cách dẫn dắt nền kinh tế miền Nam Việt-Nam đến khốn cùng hay sự trả thù đối với người thua cuộc (binh lính và sĩ quan thuộc chế độ cũ bị bắt đi lưu đày trong nhiều năm trời) cho đến hàng loạt người dân trốn chạy ra khỏi nước bằng nhiều hình thức. Ông sống khép kín và làm bạn với cây kiểng, chim chóc. Mỗi khi có bạn bè phóng viên thời trước ghé thăm, ông ít khi nhắc đến chuyện cũ và nhất là chính trị. Có lần với một người bạn thân, ông chỉ thở dài và nói “Tại sao tham gia cả cuộc chiến chỉ để thay người Mỹ bằng người Nga?”.
Sự tuyệt vọng trong chế độ mà ông tôn thờ cả cuộc đời dẫn đến việc ông hai lần đưa gia đình vượt biển, đi trốn và thất bại. Lần đầu, tàu bị hư máy. Lần thứ hai, người lái tàu không đến dù máy tàu tốt và đủ sức vượt biển khơi. Ông cầu cứu người thân ở Singapore cũng như các phóng viên của Time đã một thời quen biết nhưng vô vọng vì tình hình kiểm soát ngày một chặt chẽ hơn. Ông tiếp tục một cuộc sống thầm lặng, bất mãn và đau bệnh khi tuổi già ập đến rồi lặng lẽ qua đời ở tuổi 80. Theo lời kể từ một đồng nghiệp thân thiết, ông Ẩn trước khi ra đi đã thốt lên lời yêu cầu sau cùng: “đừng chôn tôi gần người cộng sản”.
TV, 16.03.2026

