Kỷ niệm làm báo Xuân trường Petrus Trương Vĩnh Ký

Các giai phẩm Xuân trường Petrus Trương Vĩnh Ký đã được sao chụp thành ebook trên trang mạng của Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu (https://petruskyaus.net/dac-san/), và mới đây đầu năm 2026, các bạn ở trong nước đã tìm lại được Giai phẩm Xuân Mậu Thân 1968 là đặc san còn thiếu  – xin gởi lời cảm ơn chân thành đến anh Nguyễn Đại Hùng Lộc đã mua và scan tặng Hội toàn tập Giai phẩm Xuân Mậu Thân 1968 với chủ đề “Tuổi trẻ và Mùa Xuân Quê hương”.

Tôi rời trường sau kỳ thi Tú tài II năm 1969 và khi ngưng chiến năm 1975, tôi rời nước nên đã mất hết sách báo, kể cả những giai phẩm học đường trân quí. 58 năm sau, nhờ Nguyễn Đại Hùng Lộc và anh em đồng môn, tôi được nhìn lại và đọc lại truyện ngắn và hai bài thơ góp mặt trong giai phẩm Xuân Mậu Thân 1968, lòng vui và bồi hồi nhớ lại một thời học sinh thật đẹp đã qua.

Những năm đầu trung học, tôi thi đậu vào trường Võ Trường Toản năm 1962, đến 1966, lên đệ nhị cấp, tôi theo ban C Pháp văn nên chuyển trường, được nhận vào học ở trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký ba niên khóa – 1966-67, 1967-68 và 1968-69. Năm cuối ở Võ Trường Toản, tôi cùng một số bạn bè đã bắt đầu làm báo – giai phẩm Đôi Mươi và các tờ “Nội san”. Sang Petrus Trương Vĩnh Ký, chúng tôi tham gia biên tập và bài vở cho các Giai phẩm Xuân.

Giai phẩm Xuân Đinh Mùi 1967, tôi và Lê Đình (Tam) Đại trong Ban duyệt bài. Lớp đệ Tam C chúng tôi có bài của Nguyễn Thanh Tùng (“Hiện sinh vô thần và Người thanh niên”) và tôi góp mặt các đoạn thơ trích trong Hội Thơ cùng truyện ngắn, bút ký của các bạn khác. Trưởng Khối Báo chí hai năm liền là Nguyễn Luyện (ban B) có truyện ngắn và thơ, anh cũng là thành viên của nhóm Cỏ Non.

Năm sau, với Giai phẩm Xuân Mậu Thân 1968, tôi “nhập cuộc” báo Xuân hơn nữa với truyện ngắn Khung Suy Tư và hai bài thơ Về Non và Tình Khúc. Nay được đọc lại, cả một khung trời ký ức ùa về. Thời ấy, chiến tranh ngày một khốc liệt hơn, đám trẻ như chúng tôi sống gần như yên ổn ở thủ đô miền Nam, ngày học nửa buổi, phần còn lại nếu không học thêm thì la cà các quán cà-phê nghe nhạc Trịnh vừa nổi như hiện tượng ca nhạc và tranh luận về … thân phận làm người. Ngày mai thì không dễ gì đoán trước, còn cuộc sống “hiện sinh” hôm nay thì có bế tắc và tương lai thì mù mịt nhất là khi không đậu được Tú tài I và Tú tài II. Những suy tư, khắc khoải đó đã được Lê Đình Đại và tôi cùng các bạn khác ghi lại qua các tiều luận “Tuổi trẻ và Mùa Xuân quê hương” và thơ văn trong đặc san này (cũng như Nguyễn Thanh Tùng với “Hiện sinh vô thần và Người thanh niên” trong đặc san năm trước, 1967). Lê Đình Đại cho biết bài viết “để trả món nợ Tư-Duy và cũng là để trả nợ cho chủ đề của tờ báo chúng ta : …tuổi trẻ trong một quê hương nhân loại và Việt nam trong thời loạn: [x]ụp đổ và tuyệt vọng…” . Các sáng tác và phóng sự cũng ghi nhận những ưu tư của tuổi trẻ chúng tôi về đời sống cùng những công tác học đường, văn nghệ và xã hội.

Giai phẩm Xuân Mậu Thân sau khi phát hành, cả miền Nam đã bị bom đạn tiến vào thành phố. Ngày đi học lại sau Tết, lớp đệ Nhị C chúng tôi vắng mặt trên 10 bạn. Có bạn mất sinh mạng trong khói lửa – trong đó có Vũ Chinh có thơ trong Giai phẩm, có bạn phải bỏ học vì gia cảnh khó khăn hơn, có bạn (tình nguyện) đi lính, v.v. Nhóm “viễn mơ” của chúng tôi không còn những buổi cà-phê như trước và gần như tất cả chỉ biết và nhắm học và thi đậu cho đến khi ra trường.

Đó là phần nào lý do Giai phẩm Xuân Kỷ Dậu 1969 bài vở trở lại đời thường và thực tế hơn. Ngay trong lời mở đã kêu gọi “tuổi trẻ hôm nay cần hành động”, “kêu gọi thức tỉnh khi tiếp nhận tia le lói đầu tiên, trong cơ hội mới”, “những tiếng hét hò của một thế hệ đã bị mê ngủ từ khi chưa sinh ra đời…”, v.v.. Biến cố Mậu Thân đã gây nên những thay đổi tâm trí cũng như sinh hoạt. Có bài viết về những công tác xã hội như tại trung tâm tạm cư Petrus Trương Vĩnh Ký hoặc lập Ủy ban Liên lạc Học sinh, v.v.

Với chúng tôi, ba năm đệ nhị cấp trung học đã là những năm đẹp và đầy biến động, đã giúp chúng tôi thành người hữu ích cho đất nước trong những ngành nghề khác nhau. 58 năm sau, Giai phẩm Xuân Mậu Thân 1968, đã như một gia tài quí hiếm tìm lại được, làm ấm lòng những học sinh một thời luôn biết ơn ngôi trường thân yêu và các Thầy Cô tận tụy.

Nguyễn Vy Khanh (P. Ký, 1966-1969)



Các Đặc san Xuân Petrus Ký từ năm 1963 đến 1975 đã được sưu tập trên website Petrus Ký Úc Châu: