Có Thực Mới Vực Được Đạo – PHẦN II: Ngôn Ngữ Tên Gọi Các Món Ăn
Nguyên Nguyên
LTG: Bài viết nầy viết tiếp một bài viết cũ, thực hiện vào năm 2013 nhân kỳ Họp Mặt Toàn Cầu của (cựu) Giáo Sư và Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, tổ chức tại Sydney, Australia. Chuyện có thật là người viết hoàn toàn quên mất bài viết cũ (Có Thực Mới Vực Được Đạo), và cũng không giữ được một bản sao của bài viết. Thành ra khi đọc được bài nầy vào khoảng cuối năm 2024, với đoạn văn mở đầu có ghi bài viết chỉ là PHẦN I, và BBT của trang mạng trường nhà sẽ cho đăng ngay Phần II, khi người viết viết xong. Như vậy bắt buộc phải có Phần II, dù trễ còn hơn không. Và đây là PHẦN II của bài Có Thực Mới Vực Được Đạo, viết sau PHẦN I đúng 12 năm. Dự tính là sau PHẦN II sẽ là PHẦN III bàn về lí thuyết (mới) dùng để hỗ trợ cho truy tầm từ nguyên của tên gọi các món ăn.
***
Xin tóm tắt vài điểm chính của Phần I của Có Thực Mới Vực Được Đạo. Chữ Thực trong câu nói có tính ngụ ngôn có thể bao gồm 3 nghĩa. Nghĩa thứ nhất, thực là thực hành, là kinh nghiệm trải qua, và ý nghĩa câu nói sẽ gần giống với Có Học Phải Có Hành. Thứ hai, thực là thực tế, thực tại, tức có áp dụng hay tiếp cận trực tiếp với đời sống thực tế hằng ngày. Thứ ba, thực tức là ăn, là sống, là ăn nhập với chuyện ăn uống và sinh sống hằng ngày. Nghĩa nầy có vẻ như phàm phu, nhưng lại có thể bao gồm hai nghĩa thứ nhất và thứ hai. Còn lại chữ Đạo, thì chữ nầy mang rất nhiều nghĩa, nhưng chính yếu là đạo liên hệ đến chân lí, tức cái gì đúng nhất, mà nếu theo sát thì cuộc sống sẽ được thoải mái, suôn sẻ và hạnh phúc.
Thực là ăn sẽ dẫn ngay đến chuyện các món ăn cũng như ngôn ngữ của tên gọi các món ăn, và Phần II của bài viết do đó sẽ thử phân tích từ nguyên của tên gọi một số các món ăn quen thuộc.
Một chuyện có vẻ như chắc chắn 100% là bài viết về ngôn ngữ từ nguyên của tên gọi các món ăn không thể nào thực hiện trước thế kỉ 21. Với lí do chính là trước đây, không có tiếp cận dễ dàng với dữ liệu về từ vựng và những âm vị khác nhau chung quanh một số từ vựng mang cùng một ngữ nghĩa, hay từ vựng giống nhau nhưng thuộc những thứ tiếng xa cách nhau về địa lí lẫn lịch sử, hoặc từ vựng có những ngữ nghĩa khác nhau bề ngoài, nhưng lại có chung một thứ nghĩa bản thể, phỏng theo ý niệm về noumenon (bản thể) của Immanuel Kant. Thêm vào đó, những tiền đề hoặc nguyên lí cơ bản thuộc các ngành khoa học về ngôn ngữ, kể cả Hán Nôm Học, đã tạo nên những khó khăn chung quanh việc truy tầm từ nguyên, nhất là từ nguyên của tên gọi các món ăn, một ngành nghiên cứu không mấy hấp dẫn đối với những chuyên gia về ngôn ngữ. Có nghĩa, không có hoặc rất khó tìm, tài liệu sách vở hay các bài viết có trước, để có thể dựa vào đó mà thay đổi, suy diễn thêm.
Việc thu thập tài liện về từ nguyên của tên gọi các món ăn bắt đầu cách đây trên 10 năm, và chỉ được thực hiện cấp tốc trong thời gian gần đây, dựa vào một lí thuyết khá mới về ngôn ngữ chú trọng đến ảnh hưởng của các tiền đề ẩn tàng trong học thuật xưa nay. Bài viết như vậy được chia ra 2 phần, phần đầu về phân tích từ nguyên, và phần tiếp theo, giới thiệu một số chi tiết về mô hình cây và đất áp dụng trong phân tích ngôn ngữ cho truy tầm từ nguyên.
Bánh Canh, Bánh Nậm, Bánh Bột Lọc, Bánh Gai, Bánh Khoái, Bánh Khọt
Đồng âm dị nghĩa trong tiếng Việt rất khó nhận diện bởi tính độc thể của kí âm quốc ngữ theo tiếng La Mã a-b-c. Thí dụ, chữ canh có thể mang nghĩa canh, món nước ăn với cơm, canh trong bánh canh, canh trong canh một, canh hai, canh ba, hoặc canh trong 10 Thiên Can (Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí), v.v.. So với chữ Hán, canh (súp) có thể đọc là [gang] (羹) tiếng Hẹ, rất giống từ 梗 [gang], cũng phát âm [gang] trong tiếng Hẹ và Quảng Đông [3]. Âm [gang] 羹 nầy ở đây xem như tương đương với phát âm quốc ngữ canh, có nghĩa thức ăn lỏng nấu với nước, thường mang lí giải là nghĩa của chữ canh trong bánh canh. Cả hai từ 羹 và 梗 mang phát âm [geng] và [ɡěnɡ], theo thứ tự, trong tiếng phổ thông, nhưng cùng một âm [kan] trong tiếng Thượng Hải hay Tô Châu (thuộc nhóm ngữ Ngô), hoặc [gang] tiếng Hẹ, rất gần âm [canh] tiếng Việt. Bánh canh thường được giải thích theo từ nguyên là bánh làm bằng bột gạo ăn với nước canh. Kiểu giải thích nầy đưa từ canh (súp) thành từ chính yếu trong bánh canh, bánh với canh (羹), bánh với nước súp, hay bánh trong nước canh. Chữ canh nếu xem như viết bằng từ 梗 [ɡěnɡ], có âm [kan] tiếng Ngô, âm [gang] tiếng Hẹ gần với âm [canh] trong bánh canh, sẽ mang nghĩa cọng, hay sợi to, rất giống như sợi mỳ (hay bún) udon (Nhật). Âm [don] trong udon (饂飩) của Nhật chính là đồn 饨 trong hồn đồn (wonton, hoành thánh), với 饨 [đồn], ứng với [ton] trong wonton, là một chữ viết dùng để phiên âm, chứ không có ngữ nghĩa riêng biệt rõ rệt, xem wonton ở phía sau. Trong khi, phát âm Hán Việt của canh (梗) trong bánh canh là ngạnh khá tối nghĩa, và xa lìa với âm bình dân canh trong bánh canh, tức bánh gạo sợi to, bánh cọng gạo, bánh cọng, …bánh canh. Âm [ngạnh] (梗) thật ra gần âm Nam Kinh [gen] hay âm Mân Nam [ging] cho chữ 梗 [geng] [3]. Âm tiếng Thái mang nghĩa cọng/que là [gaan] rất gần với âm [canh] trong bánh canh. Nếu xem âm của từ canh và cành, khác nhau bằng thinh (tone), thinh ngang và thinh huyền, có thể thấy kích cỡ bình quân của cành cây hay nhánh cây và cọng bánh canh gần bằng với nhau. Canh trong bánh canh mang nghĩa gốc rất gần với cành hay cọng. Và bánh canh mang nghĩa là bánh cọng gạo, bánh cọng hay bánh canh.
Bánh Nậm là bánh hấp nhân thịt và tôm, làm bằng bột gạo pha với chút ít bột năng (tapioca). Giống như món Tré (xem phía sau), người thích ăn bánh Nậm thường chỉ cần biết bánh nậm là bánh nậm, tức A là A, theo nghĩa trơ. Với tin liệu tràn đầy trên mạng ở thế kỉ 21, người ta có thể truy tìm từ nguyên của chữ nậm trong bánh Nậm khá dễ dàng, từ chuyện tìm hiểu cách làm bánh nậm qua những trang mạng video về nấu ăn làm bếp. Nếu xem về kích thước, thì bánh nậm có dáng bánh dẹp mỏng với kích thước chừng 1 gang tay. Chữ gang tay ứng với một từ thuộc tiếng Quảng Đông là 揇 [naam] có phát âm tiếng Hẹ là [nam] rất gần với nậm. Đặc tính của cách làm bánh nậm là pha bột với nước và để qua đêm (soak through) rồi mới hấp. Động tác cho bột thấm nước qua đêm tương ứng với âm [nam] 淰 tiếng Quảng Đông [5], mang nghĩa soak through, có âm gần với [nậm] trong bánh nậm.
Bánh bột lọc có bao bánh làm bằng bột lọc (bột sắn, tapioca flour). Tên gọi bột lọc nhằm vào nhấn mạnh quy trình chế biến ra bột lọc không giống với kiểu xay gạo hay mì làm thành bột gạo hay bột mì, là xay hay nghiền khô. Bột lọc được chế biến bằng cách bằng cách xay sắn thành một dung dịch bột với nước. Sau đó, dung dịch được để yên để chất hồ tinh bột (starch) hay bột nhão lắng dưới đáy rồi gạn lọc và làm khô, làm thành bột lọc, dùng làm bánh bột lọc. Do đó bánh bột lọc là bánh làm bằng bột gạn lọc lại từ một dung dịch gồm bột nghiền nhỏ và nước. Trong khi, bánh gai làm với lá gai tạo ra mùi vị và hương thơm cho bánh.
Riêng chữ lọc thoạt xem có vẻ như một từ thuần Nôm, nhất là khi xem tương đương với chữ 滤 [lu] (lự) (lọc chất lỏng), không có âm ở phía Bắc gần với [lọc]. Tuy vậy, nhiều tự điển trực tuyến ở thế kỉ 21 cho biết các từ như 漉 [lu] [lộc] có âm Thượng Hải [loq] gần lộc, và âm Phúc Kiến [lok] gần lọc, mang nghĩa như lọc. Hoặc như chữ 渌 [lu] [lục], có nghĩa trong vắt hay nước đã lọc, có âm Quảng Đông [luk] rất gần lục, và âm Phúc Kiến [lok] gần với lọc.
Tìm từ nguyên của bánh khoái có vẻ rất khó khăn, bởi bánh khoái trong nguyên liệu và hương vị rất giống bánh xèo, và bánh xèo có chữ xèo là một từ nhại thanh (onomatopoeia), nhại theo âm xèo xèo, khi chiên bột hòa với nước, hay chiên thịt cá ở nhiệt độ cao. Tiếng Khmer có ngữ âm nhại âm Việt là [baɲ cʰaev] mang nghĩa như pancake [6] tức bánh xèo, với âm [baɲ] đứng riêng ra không có nghĩa là bánh, mà là bắn (bắn súng), trong khi âm [cʰaev] lại có thể giống như [xèo] là một ngữ âm nhại thanh, tương đương với sizzle tiếng Anh, hay 啫啫 [zoe-zoe] tiếng Quảng Đông, hoặc 炒 [chǎo] tiếng Trung, chuyển sang Việt ngữ là xào. Khó khăn của việc tìm từ nguyên của khoái trong bánh khoái, do đó là ở chỗ âm [khoái] rất khó là một thứ ngữ âm nhại thanh, như [xèo] trong bánh xèo. Mặt khác, âm [khoái] rất gần với âm phổ thông [kuài], ứng với các chữ: – 哙 [kuai] có nghĩa như khoái (khẩu), ngon tuyệt (ăn bánh khoái sẽ thấy khoái ngay); – 快 [kuai] có nghĩa nhanh, ăn nhanh được; và 膾 [kuai] mang nghĩa thịt bằm (minced meat). Riêng chữ 膾 [kuai] (khoái) lại rất thích hợp với khoái trong bánh khoái, bởi tin liệu từ trên mạng cho biết bánh khoái khác với bánh xèo ở nhiều chỗ, mà quan trọng là nước chấm, tức nước lèo theo từ ngữ địa phương, thường phải pha chế với thịt bầm, tức khoái (膾). Nói đơn giản, bánh khoái là thứ bánh xèo với nước chấm có thịt bằm (khoái).
Bánh khọt lại khác. Theo tin liệu trên mạng, bánh khọt có tên khọt bắt nguồn từ âm thanh khi khơi dậy bánh từ khuôn nấu. Lí giải ngôn ngữ ngày nay cho biết bánh khọt có tên cùng gốc với bánh Thái Lan gọi là โก๋ [go:h] [7], có phát âm rất gần [khọt], định nghĩa như một loại bánh làm bằng bột gạo nếp, đúc nướng trong khuôn với nhiều hình dáng khác nhau. Có nghĩa, bánh khọt và bánh Thai โก๋ [go:h] có âm gần nhau, và có cùng chung ngữ nghĩa bản thể (noumenon). Tự điển tiếng Thái [7] cũng cho biết tên bánh có cùng gốc với tên bánh tiếng Hoa, và một AI Chatbot có trên mạng cho biết đó là 糕 [gao], tên gọi cho một thứ bánh đúc nấu từ khuôn như bánh bò (白米糕 [bai mi gao], bánh gạo trắng). Trong đó chữ 糕 [gao] chỉ bánh, có âm Mân Nam là [ko] và âm Thượng Hải [ko] rất gần âm [khọt] tiếng Việt. Âm [khọt] cũng gần âm [kʰɔ̏ːp] tiếng Lao, có nghĩa frame (sườn, khung), giống như khuôn, trong khi âm [khuôn] lại gần các âm [kʰóːŋ] và [khân] tiếng Lao, chỉ cái khuôn (mold), và [khong] tiếng Phúc Kiến, hay [khuaon] tiếng Tô Châu, Thượng Hải, cho chữ 框 [kuang], mang nghĩa như frame (khuôn, khung, khuông, vành, gọng, sườn). Âm Phúc Kiến [khong] (框) gần [khung] tiếng Việt, âm Ngô Việt [khuaon] hay âm phổ thông [kuang] (框), và âm Lao [kʰóːŋ] [khân] gần với [khuôn] tiếng Việt, hay [khuông] Hán Việt.
Tự điển Hán Việt cũng cho âm Việt và ngữ nghĩa của [kuang] 框 là vành, và có thể thấy âm [vành] ứng với âm Quảng Đông [kwaang] cho chữ 框 [kuang] tức khuông. Để ý tiếng Anh, tiếng Trung có phân biệt chút ít giữa chữ mold (khuôn đúc) (模) và frame (vành, gọng, khung, khuôn// gọng kính, khung cửa sổ) (框) nhưng tiếng Việt dân dã có vẻ như không. Tức khuôn để làm bánh ứng với chữ Hán 框 [kuang] tức khuông (frame) hơn là khuôn đúc (mold). Ớ lí giải nầy có thể thấy bánh căn, rất giống bánh khọt, được gọi là bánh căn, với âm [căn] rất gần âm [khuang] tiếng Nam Kinh [3] cho chữ 框 [khuông]. Ngoài ra, nước chấm của bánh căn thường là nước cá kho, và chữ cá trong tiếng Chàm là ikan, có khả năng cho ra âm [căn] trong bánh căn, bánh ăn với nước chấm là nước cá kho.
Một loại bánh khác là bánh bột chiên tôm trong một cái khuôn hay vành hình tròn, gọi là bánh cống, tương đương với tên tiếng Hoa 虾圈饼 [xia quan bing], có nghĩa bánh tôm vành tròn, với chữ 圈 [quan] (vành tròn), có âm Mân Nam [kuan] rất gần âm [cống] trong bánh cống. Bánh cống theo một Chatbot có trên mạng là một “phát minh“ ở Việt Nam, giống như bánh pâté chaud, có tên Pháp nhưng Made in Vietnam.
Chả Giò, Nem Rán và Bò Bía
Chữ chả giò thường xem như tương đương trong tên gọi với Spring roll ở Úc và Egg roll ở Mỹ, cả hai ứng với chữ xuân cuốn (春卷) tiếng Hoa. (Thật ra egg roll (Mỹ) thiên về kiểu “chả giò” của người Hoa tại Mỹ, có bắp cải, thịt (bò) bầm bọc cuốn trong tấm bột dày hơn bánh tráng.) Nhưng nghĩa bên trong của chả giò khác với 春卷 [chun juan] [xuân cuốn], và cũng khác với Spring Roll. Trước hết, chữ chả trong chả giò có âm và nghĩa, có khả năng, giống với 紮 [zha] với âm các phương ngữ gần như âm Việt [chả], với nghĩa như cuốn, bó chặt, gói chặt.
Âm [chả] trong chả giò cũng gần âm [cho], đọc giống [chỏa], trong tiếng Triều Châu [bhat cho] (肉脞) mang nghĩa thịt bầm. (Chữ 脞 [cuǒ][chỏa] có âm Việt là [thỏa] còn mang một nghĩa là giòn.) Âm [chả] trong chả giò cũng gần âm [chaa] tiếng Khmer, mang nghĩa như chiên (煎) trong dầu mỡ, giống như [ciən] hay [chiěn] cũng tiếng Khmer [6]. Cũng cần để ý, tiếng Việt thường gọi cơm chiên hay cơm rang (煎 [jian]), trong khi tiếng Hoa gọi cơm xào (炒饭 [chǎofàn]).
Âm [chả] cũng gần với âm [zhá] 炸, tiếng Trung, mang nghĩa chiên, rán trong dầu mỡ. Âm [chả] trong chả cá cũng mang nghĩa giống như grill (nướng / chả / chá / rán), có khả năng liên hệ với [zhá] 炸 (fry) hay [zhi] 炙 có âm Hakka [zia] rất gần chả. Chả trong chả cá, cũng có khả năng, liên hệ với chữ 鮓 [zhǎ] mang nghĩa là cá ướp với muối, rượu,…, trước khi nấu nướng, viết với chữ cá (魚 [yu]) bên trái.
Chả giò đọc ngược là giò chả, tức chả lụa, với âm [lụa] rất gần ngữ âm [leuua] tiếng Thái hay [lɨ̏aː] tiếng Lao, mang nghĩa còn thừa lại, có thể diễn dịch là giữ được lâu, hoặc âm [lȗaː] tiếng Lao mang nghĩa hàng tơ lụa, có âm gần như âm Việt [lụa] (trong chả lụa), và giống âm Ngô Việt [lioe] (溜) mang nghĩa trơn mịn, láng mịn giống như hàng tơ lụa, giống như chả lụa. Chữ chả trong chả giò hay chả lụa cũng có thể mang nghĩa và âm giống chữ 紮 [zha], mang nghĩa như cuốn lại, gói chặt, và ăn khớp với chả giò lẫn chả lụa.
Lộn xộn giữa chả giò và giò chả, rất có khả năng, đã đưa đến việc thay thế tên gọi chả giò bằng nem rán. Chữ rán trong nem rán liên hệ mật thiết với 煎 [jian] hay [zian] tiếng Nam Kinh, rất gần [rán], thường đọc như chiên tiếng Việt, giống như [zien] tiếng Hẹ và [ziêng]tiếng Triều Châu (煎), hay [chiěn] tiếng Khmer. Trong khi chữ nem mang rất nhiều nghĩa, chung quanh món thịt lợn bầm nhỏ. Cùng gốc với nem là ngữ âm [naaem] tiếng Thai, mang nghĩa chính là thịt lợn bầm nhỏ trộn với gạo xay nhỏ gói chặt trong lá chuối, trước khi nấu chín. Gần với naaem (Thai) hay nɛ̆ːm muu (Lao [26]) (muu= thịt lợn), hoặc naem (Khmer), là nem chua, dùng thịt bầm và gia vị gói lá chuối cho lên men vài ngày, rồi ăn tươi. Nem trong nem rán ứng với chữ giò (meat patties) trong chả giò, và chả trong chả giò ứng với rán trong nem rán. Nói về từ nguyên, do đó, nem rán hay chả giò, từ 2 âm, có 1 âm cùng gốc với từ bản địa, giò và nem, và 1 âm cùng gốc với từ của những thứ tiếng phía Bắc, chả và rán.
Chữ giò trong chả giò hay giò lụa, nếu ứng với chả mang nghĩa rán hay chiên, thì giò có thể mang nghĩa như patties (thịt bầm), tương đương với 肉饼 [rou bing] (meat patties), với chữ 肉 [rou] có phát âm [jiok] tiếng Mân Nam, [n’yo] tiếng Ôn Châu, [nioh] tiếng Vô Tích (thuộc nhóm ngữ Ngô Việt), rất gần âm [giò] trong chả giò hay giò lụa. Chữ giò nếu mang nghĩa như meat patties cũng có thể ứng với chữ 错 [cuo] có phát âm Hẹ [coo] gần với [giò], mang nghĩa nghiền nát vụn. Âm [giò] nếu mang nghĩa thịt bầm nhỏ (meat patties) cũng sẽ ứng với giò trong bánh giò. Âm [giò] do đó ngoài liên hệ với các âm bản địa còn có liên hệ với ngữ âm các tiếng phía Bắc.
Chữ giò trong giò lụa, thịt giò, bánh giò, chả giò đều có chung một nghĩa là thịt bó chặt hoặc dính chặt như có chất keo. Ngữ nghĩa nầy ứng với chữ 胶 [jiao], có nghĩa và âm Việt là [keo] ứng với âm [gao] Phúc Kiến hoặc [jao] Nam Kinh, và âm [cio] Thượng Hải rất gần âm [giò] tiếng Việt. Chữ 胶 [jiao] (thịt bó chặt) nầy, đặc biệt viết ở bên trái với ngữ căn số 130, 月 [rou], mang nghĩa thịt tức nhục (肉 [rou]).
Tóm tắt:
- chả giò ứng với nem rán, chả (炸) với rán (煎), và giò với nem;
- giò với nghĩa thịt bầm (patties) (肉饼 [rou bing], với 肉 [rou] có âm [n’yo] tiếng Ôn Châu) hay thịt giã nhuyễn (bằng cái chày) (杵 [chu] có âm Nhật [sho] và âm Hàn [jeo], rất gần giò), sẽ cho ra giò=nem và giò trong giò chả (chả lụa / giò lụa), với chả có nghĩa cuốn, bó chặt (紮 [zha]). Chả với nghĩa quấn chặt, bó chặt, sẽ giống với giò (胶) giải thích ở trên;
- chả trong chả lụa cũng mang nghĩa (thịt bầm nhuyễn) bó chặt, và láng mịn như lụa.
- Chả trong chả cá Lã Vọng lại mang nghĩa chiên, rán, nướng (炸 hoặc 炙), hoặc món cá ướp gia vị rồi mới rán (鮓 [chả]).
Thật ra, nguyên chữ tiếng Anh tương ứng với nem rán hay chả giò là fried spring roll, có chữ fried trong đó, mà âm Thai là [thaawt] (fried) và [bpaaw bpia thaawt] [7] chính là chả giò, trong đó [bpaaw bpia] tương đương với ngữ âm bò bía tiếng Việt, và [thaawt] có nghĩa là rán.
Nguyên nghĩa của bò bía (bpaaw bpia (Thai)) là bánh có vỏ bao trơn tru, mịn màng, giống như da (薄皮卷 [bạc bì cuốn] (bò bía cuốn), bạc=mỏng, bì=da, cuốn=quyển, quấn), tức giống như gỏi cuốn hay bò bía, hoặc nem rán (chả giò). Ở Philippines hay Indonesia, người ta thường gọi nem rán là lumpia, và chữ nầy xuất từ ngữ âm Phúc Kiến [lunpia] viết bằng 潤餅 [runbing], với 潤 [run] mang nghĩa như ướt, thấm ướt,trơn, mịn và 餅 [bing] tức bánh (gần âm [beng] tiếng Quảng và [biang] tiếng Hẹ, và có âm Phúc Kiến là [bía] trong bò bía hay bánh pía. Với ngữ nghĩa bánh có vỏ bao mịn như da, chữ 潤 [lum] trong lumpia (chả giò) có thể thay bằng chữ 皮 [pi] (da), và chữ nầy có phát âm là [pôe] tiếng Phúc Kiến, thay chuyển lumpia thành popiah, tức bò bía hay bpaaw bpia (Thái), xem như đồng nghĩa với bò bía, gỏi cuốn, chả giò hoặc nem rán.
Âm [bò] trong bò bía cũng có thể ứng với chữ 薄 [bo] giống âm Phúc Kiến [poh] [bou] hay âm Triều Châu [boh] thích hợp với popiah (bò bía), mang nghĩa như (vỏ bọc) mỏng, bò bía=薄饼 [popiah], với 薄 [po] (bạc), 饼 [pia]=bía=bánh. Trong tiếng Thai âm [bpaaw bpia] cũng có ngữ nghĩa riêng miêu tả chất liệu dùng làm ra bò bía, bao gồm lạp xưởng, tôm khô và những sợi củ đậu / củ sắn, cà-rốt, đậu phộng, cuốn với bánh tráng thấm ướt. Do ở âm [bpaaw] có thể mang nghĩa sợi và [bpia] chỉ chùm sợi bó lại nhau [7]. (Trong tiếng Việt, củ đậu có chung gốc với 豆薯 [dòushǔ] (đậu thư), tức khoai đậu, và củ sắn chung gốc với âm Lao [mak san-naam] [26], tức quả sắn nước.)
Món gỏi cuốn tuy có thể dịch theo tiếng Anh là spring roll, có chữ gỏi mang nghĩa hơi khác với nem (nem rán) hay giò (chả giò), hoặc bò bía (có củ sắn, lạp xưởng, tôm khô). Gỏi trong gỏi cuốn, có nghĩa giống như món sà-lát với rau trộn thịt hay tôm. Với nghĩa nầy âm chữ gỏi rất gần, và có khả năng, cùng gốc với ngữ âm đọc nhanh [kəwɔik] tiếng Mon [8], mang nghĩa như món rau trộn thịt, tôm hay cá. Hoặc rất gần âm [guo] trong [guoshu] (果蔬), mang nghĩa món rau trộn trái cây, hay “rau trộn“, với âm Hẹ [goo], hay âm Triều Châu [guê] rất gần gỏi, ứng với âm [guo] trong [guoshu] 果蔬. Còn cuốn trong gỏi cuốn, rất gần âm Phúc Kiến [kuàn] hay [kòan] cho chữ 卷 [juan][quan], với 3 âm ‘Hán Việt‘ [quyển][quyến][quyền] gần các âm [guêng] Triều Châu, [gien] Hẹ, [gyun] Quảng Đông, hoặc [guan] Mân Nam.
Tré & Dưa Hấu
Món tré theo nghĩa trơ là một món ăn dân dã và bình dân, cách thức làm có thể tìm thấy trên mạng. Theo thiển ý, tên tré có thể dẫn xuất từ nguyên liệu thường dùng nhất là tai heo. Và như vậy âm quốc ngữ [tré] ứng với các âm Ngô Việt [tze], hay âm Triều Châu [ze], cho chữ 仔 [zai] trong nguyên chữ 耳仔 [gnij tze], [re ze], và [ji zai] theo âm tiếng Quảng, mang nghĩa tai, lỗ tai. Âm Quảng Đông / Quan Thoại [zai] (仔) sẽ ứng với âm [tai] (ear) tiếng Việt. Trong món tré, thường có gạo rang rồi xay nhỏ, gọi là thính. Gạo thính tương đương với អង្ករចៀន [ăngkôr chiĕn] tiếng Khmer, với [ăngkôr] có nghĩa gạo và [chiĕn] nghĩa chiên, rang. Chữ chiên (煎 [jian]) nầy có âm Nam Quảng Đông [zing] có khả năng gần âm và nghĩa với thính. Nếu người xưa thường làm thính bằng cơm gạo dư thừa thì thính sẽ ứng với âm Quảng Đông hay Phúc Kiến [sing] (剩) trong chữ 剩飯 [sing faan] mang nghĩa gạo còn dư thừa.
Chữ dưa hấu, mang nghĩa trơ, và chuyển ngữ như watermelon, với nghĩa dưa nước, dưa có nhiều nước. Dưa nầy ngày trước cũng có tên là dưa đỏ dựa vào mầu đỏ trong lòng quả dưa hấu. Tra cứu từ Google hay Wikipedia, sẽ thấy “cây” dưa hấu là một loại cây bò hay leo, với cấu trúc sinh hữu có họ hàng gần với cây cho ra dưa leo (cucumber). Chữ bò (crawl / creep) ứng với chữ 匐 [fu] có âm Phúc Kiến [hok] và âm ON tiếng Nhật là ホク [hoku] [9] có thể xem như gần [hấu]. Âm [hấu] cũng rất gần các âm [ha:w] [hơu] tiếng Bahnar (leo) [10], hoặc [həu] tiếng Mon mang nghĩa cây leo (xem [8]). Như vậy, dưa hấu và dưa leo mang hai chữ hấu và leo có ý nghĩa tương tự nhau, dùng để miêu tả cấu trúc của cây chứ không phải mầu sắc của quả. Nhớ là tiếng Triều Châu gọi dưa leo (cucumber) là 吊瓜 [diaogue] (điếu qua) với 吊 [điếu] mang nghĩa là treo. Trong khi, miêu tả dựa vào mầu sắc của quả sẽ gọi dưa hấu là dưa đỏ và dưa leo là dưa xanh, như kiểu gọi thanh qua (青瓜) [ceng gwaa] của tiếng Quảng Đông, cho dưa leo. Nếu dùng tên gọi để chỉ xuất xứ thì dưa hấu (watermelon) có tên gọi là dưa tây, tức có gốc ở phương Tây, gọi Tây qua (西瓜) [xigua] tiếng Trung.
Chè
Riêng chữ ăn chè, thì ăn mang nghĩa ăn (eat) và chè là chè, có khả năng, mang quan hệ với chữ chè tiếng Hán là 甜食 [tian shi] [điềm thực], thức ăn ngọt, với [shi] có phát âm Wu (Ngô Việt) là [zheh] rất gần [chè]. Ăn chè lại mang nghĩa bóng là tư tình vụng trộm ở “ngoài”, tương ứng với食糖水 [sik tong seoi] (thực đường thủy) hay 飲糖水 [jam tong seoi] (nhẩm/ẩm đường thủy, đường thủy= nước đường= chè) tiếng Quảng, nghĩa ăn chè, và ăn chè do đó đã có, trong tiếng Việt, trước cụm từ ăn chè Nhà Bè rất, rất lâu.
Chữ chè tiếng Việt cũng có khả năng cùng gốc với chữ saa (沙) trong luk dau saa (綠豆沙), tức chè đậu xanh, với chữ 沙 [saa] có nghĩa nguyên thủy là cát, với nghĩa ví phỏng của đường cát (trắng) hay ngọt. Âm [saa] (沙) tiếng Quảng Đông ứng với âm [se] tiếng Mân Nam / Phúc Kiến, có khả năng, ứng với và gần với âm Việt [chè].
Chữ chè tiếng Phúc Kiến cũng thường gọi là [tin-thng] 甜湯 (điềm thang/ canh ngọt), trong đó âm Phúc Kiến [tin] (甜) (ngọt), có khả năng, được thay bằng âm Phúc Kiến [chìa] hay âm Bắc Kinh, Nam Kinh [zhe] hoặc âm Quảng Đông [ze], rất gần chè, của chữ 蔗 [zhe], cũng mang nghĩa ngọt, ngoài nghĩa chính là mía. Món chạo tôm (tôm bọc mía) ứng với tiếng Quảng Đông 蔗蝦 [ze haa], mía tôm, với chữ 蔗 [ze] (mía) có âm Thượng Hải (địa bàn Ngô Việt) là [tzau] [tso] rất gần chạo tiếng Việt, có nghĩa mía, trong chạo tôm.
Chữ chè thường dính liền với chữ ngọt, bởi đôi khi tiếng Việt có dùng đồ ngọt, hay 甜食 [tian shi] [điềm thực], thức ăn ngọt,để chỉ chè. Để ý nếu ngữ nghĩa ngọt trong 甜 [tin] của chữ 甜湯 [tin-thng] dùng để chỉ món chè, được thay bằng chữ 蔗 [chè] (ngọt, mía), thì chữ 甜湯 (canh ngọt) sẽ được thay bằng 蔗湯 [zia thng] (Phúc Kiến) gần với âm Việt chè thưng, chỉ món chè thưng. Giống như âm [tao suan] tiếng Thái, dùng để chỉ chè đậu xanh lột vỏ, chuyển âm sang tiếng Việt thành chè táo soạn, với táo=đậu và táo soạn=chè đậu xanh.
Theo học thuật xưa nay, chè mang nghĩa đồ ngọt, đồ tráng miệng, và chè mang nghĩa như trà (tea) được xem như từ đồng âm dị nghĩa. Nhưng theo lí giải trình bày ở đây, chè (đường thủy / nước đường) và chè (trà) là hai từ khác nhau, có từ nguyên khác nhau.
Chữ đường (sugar) ghi trong tự điển Alexandre de Rhodes [1] là đàng, gần với âm [daon] tiếng Ngô (Chiết Giang / Giang Tô), hay âm [tang] Nam Kinh, cho chữ 糖 [tang] (sugar). Chữ đàng (sugar) nầy ghi trong tự điển Bá Đa Lộc/ Pigneau de Béhaine & Taberd [2] như tương đương với đường, viết 糖 [tang]. Chữ đường 糖 [táng] có âm và chữ viết giống như 唐 [táng], chỉ triều đại nhà Đường (618-907), bởi ở thời nhà Đường, kỹ thuật và kỹ nghệ chế biến ra đường (sugar) được phát triển mạnh mẽ.
Tự điển tiếng Chàm [21] cho biết đường (cát) tiếng Chàm gọi là saradang, với âm [dang] giống như đàng [1] hay đường, còn sara có nghĩa muối, có âm giống [sarr] (muối) tiếng Myanmar. Tiếng Chăm saradang do đó có nghĩa cơ bản là muối ngọt, tức chữ muối có trước chữ dùng để chỉ đường (sugar) hay ngọt trong tiếng Chăm. Chữ đường sáng tác sau, và dựa vào, chữ muối, trong tiếng Chăm.
Chữ chè trong tiếng Việt, là một từ đồng âm có 2 ngữ nghĩa khác nhau. Một là đồ ngọt, như chè đậu xanh, chè khoai môn, chè táo soạn, và hai, chè tức là trà (tea), xem chi tiết phía sau.
Một trong những thứ chè có tên gọi hơi tối nghĩa là chè xôi nước hay chè trôi nước. Chè nầytương ứng và giống một thứ chè (hay bánh) ở phía Bắc, gọi là tangyuan (汤圆 – thang viên (súp vò viên)), có dáng rất giống bánh mochi của Nhật. Chè tangyuan thường rất phổ biến vào dịp Tiết Nguyên Tiêu (元宵節) nhằm vào rằm tháng Giêng, cử hành như ngày lễ hội lồng đèn (灯笼 [denglong]). Chữ xôi trong chè xôi nước, có vẻ có từ nguyên từ hai gốc. Thứ nhất, xôi liên hệ đến chất liệu làm ra xôi, tức gạo nếp, ứng với một từ là 粢 [ci] có âm Thượng Hải (địa bàn Ngô Việt) là [tsy] rất gần âm [xôi]. Thứ hai, âm [xôi] trong chè xôi nước, cũng gần âm [sio] tiếng Hẹ hay [siau] tiếng Phúc Kiến cho chữ 宵 [xiao] trong 元宵 [yuan xiao], tức lễ Nguyên Tiêu, tức nghĩa như chè hay bánh làm trong dịp Tiết Nguyên Tiêu. Chè xôi nước còn gọi là chè trôi nước, với chữ trôi có thể là một biến âm của xôi, ứng với âm [zoih] (節) tiếng Triều Châu, trong 燈節 [deng jie] đăng tiết, tức lễ hội lồng đèn, một tên khác chỉ Tiết Nguyên Tiêu. Chữ trôi nước trong chè trôi nước còn có thể chỉ lồng đèn được thả trôi trên nước, như một tập tục thường thấy trong những dịp lễ hội lồng đèn.
Phở và Hủ Tiếu
Muốn biết từ nguyên của phở, có lẽ phải tìm gốc gác của chữ hủ tiếu trước, và chữ nầy, nhất là chữ hủ và ngữ âm [hủ]thật ra rất phức tạp. Theo âm Quảng Đông, hủ tíu đọc là [gwo tiu] 粿條, còn được xem như bánh saa hor fan (sa hà phấn), cắt thành từng sợi. Tiếng Quảng saa hor fan viết bằng 沙河粉 mang nghĩa thường dùng là loại bánh làm hủ tiếu xuất phát từ thị trấn Saa Hor (Sa Hà / cát – sông) ở Quảng Đông, có lẽ giống như kiểu giải thích bánh giầy xuất phát từ Phủ Giầy (Nam Định), hoặc chợ Bà Chiểu là chợ do một bà tên Chiểu thiết lập. Âm tiếng Việt của 粿條 [kue tiâu] (âm Phúc Kiến), tức củ tiếu / hủ tiếu, là quả điều, quả điêu, hay quả thiêu, cũng không mở thêm ra được một chìa khóa nào khác về ngữ nghĩa. Trong khi trên ngữ âm, rất khó móc nối chữ hủ trong hủ tíu, tức kway teow (粿條) tiếng Triều Châu,với âm quan thoại粿 [guo] hoặc Phúc Kiến [kue] hay Triều Châu [kway] và Quảng Đông [gwo]. Những ngữ âm nầy, nhất là [kue] Phúc Kiến, gần với củ (củ tíu) hơn là hủ (hủ tiếu), giống tiếng Khmer gọi hủ tiếu là kuy tiev. Trong chữ saa hor fan (沙河粉 [sha he fen]), 沙 [saa] mang nghĩa cát mịn, 河 [hor], sông, và 粉 [fan], nghĩa bún hay miến, với các nghĩa khác là trắng, hay bột tán nhỏ, v.v. Còn quả trong quả điêu (粿條), tức hủ tíu hay củ tiếu, mang nghĩa như bánh làm bằng bột gạo, và tíu (tiếu) 條 [tiao], có nghĩa là sợi nhỏ và dài. Như vậy, hủ tiếu có thể mang nghĩa khá đầy đủ nếu tra chữ Hán, từ các quyển tự điển, với, xin lập lại, hủ (粿) trong hủ tiếu, mang nghĩa bánh làm bằng bột gạo, và tiếu (條) nghĩa sợi nhỏ và dài. Nhưng bánh hủ tiếu saa hor fan giải thích bằng thứ bánh bột gạo rất mịn xuất phát từ thị trấn Sa Hà thì ngữ từ chỉ lộ ra được ngữ nghĩa qua chỗ xuất xứ của thức ăn, chứ không có chất cốt lõi của ngữ nghĩa.
Từ đồng âm cho chữ sa hà (沙河) trong 沙河粉 (saa ho fan), theo nguyên tắc ăn khớp, có thể là hai từ 紗 [saa] và 哈 [haa] phát âm theo tiếng Quảng Đông. Từ 紗 哈 [sa hà] mới nầy có phát âm y hệt như 沙河 [sa hà] cũ, dùng trong 沙河粉 [sa hà phấn] tức bánh hủ tiếu, tuy có khác chút ít trong các tiếng phía Bắc. Nếu đưa hai từ 紗 [saa] và哈 [haa] nầy vào thay chỗ cho 沙 [saa] và 河 [hor] trong saa hor fan 沙河粉, tức bánh hủ tíu, âm mới sẽ là [saa haa fan] viết như 紗哈粉. Hai chữ sa hà (紗哈) ở đây mang nghĩa khác với sa hà (沙河) thường ghi trong sách báo, hay bao bì để chỉ bánh củ tiếu sa hà phấn (沙河粉).
Từ 紗 [saa] mới nầy mang nghĩa thích hợp với bánh sa hà là lớp lụa mỏng và mịn, rất hợp với 哈 [haa], cũng mang nghĩa gần giống là vật uốn cong, hoặc đồ dệt bằng da thú, như dạ, nỉ, nhung. Có thể, bởi hai từ 紗 [saa] và 哈 [haa] mang nghĩa vật thể giông giống với nhau nên thường khi người ta vẫn dùng chỉ một từ thứ hai là 哈 [hà] để ghép với 粉 [phấn], thành ra 哈粉 [hor fan] ([haa fan]), dùng để chỉ bánh hủ tiếu (saa hor fan). Và nếu tra Wikipedia sẽ thấy từ 3 âm sar hor fun rất thường có thể gọi tắt là hor fun, đủ nghĩa với ngữ âm [hor] ứng với chữ 哈 [haa] có nghĩa như vật uốn cong, hoặc đồ dệt bằng da thú, như dạ, nỉ, nhung. Xin nhấn mạnh là chỉ dùng âm mà thôi, chứ khi viết lại viết với chữ 河 [hà] mang nghĩa sông, 河粉 (hà phẩn). Như vậy điểm chính yếu là Bánh hủ tiếu trước khi cắt thành sợi sẽ có hình dáng giống như một xấp vải lụa hay nhung. Hình ảnh đính kèm cho thấy bánh hủ tíu hay trong dạng vừa mới làm, trước khi cắt nhỏ thành sợi trông rất giống một xấp vải trắng.


Hình 1: Sa hà phẩn [A] giống xấp vải trắng mịn, lúc chưa thái thành từng sợi (hủ tíu) [B]
Quan trọng là bánh saa har fan có thể viết tắt là har fan mặc dù viết với chữ Hán 河粉 trên các bao bì, nhưng theo ngữ nghĩa thì có thể viết như 哈粉 [haa fan] hay [hor fun] (Quảng Đông) mới lột được ý nghĩa bánh trắng mịn như xấp vải nhung lụa trắng tinh, Hình 1. Có nghĩa, khi bánh hủ tiếu chưa cắt thành từng sợi, gọi bánh là sa hà phấn, và sau khi cắt thành từng sợi thì đó mới là hủ tiếu.
Nếu triển khai ý niệm hủ tiếu trong dạng bánh vừa mới làm sa hà phẩn (tiếng Quảng saa hor fan viết bằng 沙河粉), chưa cắt thành sợi nhỏ,sang qua tới bánh phở sẽ thấy ngay bánh phở trước khi thái thành cọng, thành sợi, cũng giống y như bánh hủ tíu, tức sa hà phấn, hay hà phấn, viết theo hai từ 哈粉, chứ không phải 河粉 như trên các bao bì chứa bánh hủ tiếu. Như vậy trong tiếng Việt bánh phở vừa tương đương với bánh sa hà (sa hà phẩn) vừa tương đương với hủ tiếu hay sợi bánh phở, và chữ Phở vừa có nghĩa bát phở và cũng có nghĩa bánh phở.
Như thế, nhìn vào chữ phở từ khía cạnh cận vị trong ngữ từ và ngữ nghĩa sẽ thấy phở không liên can trực tiếp đến thịt bò, thịt gà, hay thịt tái hoặc cả nước dùng, mà chỉ là bánh phở. Bởi từ phở đứng riêng ra khỏi phở bò, phở đặc biệt, phở gà, phở tái nạm, có thể hợp với những từ khác thành: phở sốt vang, phở áp chảo, phở chua (dùng bao tử và gan lợn), phở xào đồ biển, bánh phở, phở xào mềm, phở vò viên, phở tái lăn, v.v.. Tức phở có thể xem như tương đương với hủ tiếu, độc lập với bò hay gà, nhưng thường tránh thịt heo, tức hai chữ phở và thịt lợn không mang tính cận vị với nhau.
Ngược lại, đôi khi có thể nghe chữ phở tiếu thay cho hủ tiếu. Món hủ tiếu bò kho, theo kiểu gọi Việt, người Hoa gọi là ngầu nạm phẩn (牛腩粉), hay theo tiếng Quảng Đông [ngau naam min] 牛腩麵 (ngầu nạm miến),tức phở thịt bò nạm, với thịt nạm thường dùng để chỉ thịt ở bụng (brisket), và như thế phở có thể xem như tương đương hay chiếm vị trí của 粉 [fen], tức phẩn hay phấn, và âm của phở có thể gần một thứ phát âm phương ngữ, như tiếng Wuxi ở Giang Tô, của từ 粉 đọc [feN] với âm cuối [N], nhẹ hơn [fen] quan thoại, và như thế rất gần âm [phở].(Wuxi (无锡) đọc theo tiếng Việt là Vô Tích, thuộc nhóm ngữ Ngô (吳語 [Wuyu]) nằm ở địa bàn của nước Ngô và Việt, thời Việt Vương Câu Tiễn (496-465 TCN) vào khoảng cuối thời Xuân Thu (770-476 TCN), xem [20].) Nhưng kiểu đọ âm này cũng không thể đưa đến một thứ ngữ nghĩa trọn vẹn khi nói bánh phở (bánh phẩn), bởi bánh phở, trong ngữ nghĩa của từ phẩn, không có miêu tả của xấp vải nhung mịn như trong chữ sa hà phẩn hay hà phẩn, viết theo kiểu khác là 哈粉, phát âm như [hor fun] theo tiếng Quảng Đông. Dù vậy, rất có khả năng, theo mô hình ngôn ngữ cây và đất [11], âm [phở] giống âm [feN] (粉) theo giọng tiếng Ngô Việt, dùng với món hủ tiếu bò kho (ngầu nạm phẩn), có thể cho ra ngữ âm tiếng Việt [phở], với ngữ nghĩa chính là bánh phở, và những ngữ nghĩa hỗn hợp dùng để chỉ những món ăn dùng đến bánh phở là nguyên liệu chính.
Du khách đi tham quan các tỉnh miền Trung hay Tây Bắc nước Trung Hoa như Hồ Nam (Hunan), Thiễm Tây (Shaanxi), Hồ Bắc (Hubei), Cam Túc (Gansu), sẽ thấy người ta có thể gọi một thứ hủ tíu không phải làm bằng bột gạo là 肤 [fở], với phát âm rất giống phở tiếng Việt, nhất là phát âm tiếng Hẹ [fu]. Âm [phở] đó dùng để chỉ loại mỳ có thiết diện hình dẹp chứ không phải tròn và có màu sắc không phải màu trắng của bột gạo, gọi nguyên chữ là 膚麵 [fu mien]. Trước khi thái thành sợi, đó là một thứ bánh phở trông giống như xấp da. Và da tiếng Hán gọi là [fu] 膚 (hoặc肤), phát âm gần như y hệt với phở tiếng Việt, trên vài phương ngữ kể cả tiếng phổ thông. Âm tiếng Hẹ cho 膚 hay 肤 [fu] giống như feu tiếng Pháp thêm vào dấu hỏi [fẻu], tức gần như phở. Nhiều phương ngữ khác có âm [fu] hay [phu] giống y như phiên âm Hán Việt phu cho từ 膚 [fu] mang nghĩa da. Âm KUN tiếng Nhật (âm bản địa) của từ 膚 [fu] (da) nầy là はだ [hada] có [da] rất giống da, và da có lẽ cùng gốc với âm cuối [bya] của chữ [ə-yei-bya] tiếng Myanmar mang nghĩa da.
Có nhiều từ trong tiếng Trung dùng để chỉ da: 皮 [pi], 膚 hay肤 [fu] và 肌 [ji], thường xuất hiện từng cặp như 皮膚 [pi-fu] hay 肌膚 [ji-fu]. Đặc biệt âm tiếng Thai dùng để chỉ da là [piw] hay [phiu], rất giống [pi] 皮 (tức bì) hay [phu] 膚. Tiếng Pháp peau, tiếng Tây Ban Nha (Spanish) piel, cũng hao hao giống âm [pi] 皮. Cả hai chữ膚 [fu] và 肌 [ji] ngoài nghĩa da còn mang nghĩa thịt. Để ý nhiều thế hệ trước học tiếng Hán bằng Tam Thiên Tự có thể được cho biết và chỉ dẫn rằng từ “Hán Việt” chính thức và chuẩn để chỉ da là bì (皮 [pi]), và chỉ một chữ bì mà thôi. Có thể vì lí do nầy tất cả tự điển chữ Nôm cho từ phở không thấy xử dụng Hán tự 膚 (hoặc肤) [fu], mang phát âm rất gần với [phở] trong nhiều phương ngữ. Một lí do khác nữa là món phở theo nhiều tin liệu trên mạng chỉ xuất hiện vào cuối thế kỉ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, đúng vào thời điểm bắt đầu việc xuống dốc của chữ Nôm, một thứ chữ viết chỉ có giới ê-lít mới thông thạo, dù rằng giới ê-lít nước Nam từ ngàn xưa ít khi để ý đến mối liên hệ giữa chữ nghĩa, nhất là chữ Nôm, và ẩm thực cũng như các món ăn, nhất là những món ăn dân dã.
Bánh phở với phở tức là膚 [phu], mang nghĩa thứ bánh trông giống như xấp da (trừ đi màu sắc), tương ứng với xấp vải trắng, tượng hình cho bánh hủ tiếu. Thử quan sát các chiều hướng khác nhau có thể đồng qui ở chỗ bánh phở chính là bánh trông giống xấp da mịn. Lối làm bánh phở từ việc thái thành từng sợi một xấp bánh cũng khá giống cách làm pasta tức mỳ Ý sau khi cán bột nhồi thành một tấm giống như tấm da. Cũng cần để ý là khi nói tới bánh phở hay hủ tíu, hoặc ngay cả mỳ, tiếng Hoa thường muốn chỉ đó là [mien] 麵 (viết kiểu đơn giản: 面) mà tiếng Việt thường dịch là mì và miến, với ngữ nghĩa khác nhau. Trong tiếng Việt, Mì liên hệ đến chữ 麵 [mi] phát âm theo tiếng Triều Châu, mang nghĩa mì làm với trứng, và miến, mang nghĩa bún sợi nhỏ, thường làm bằng đậu, tức bún tàu. Chữ tàu ở đây là một âm của chữ đậu, giống như đậu phụ / tàu hũ. Để ý hũ trong tàu hũ chính là phụ trong đậu phụ, và tương tự, theo biến chuyển giữa âm [h] và [ph] thì hủ trong hủ tiếu có thể ứng với phở. Nhưng khi dùng tiếng Hoa, phải hiểu mien (麵) dùng để chỉ chung cả mì, bún, hủ tiếu, phở, tức giống y như chữ noodle tiếng Anh. Người sành ăn mì, tức mien, thường phân biệt mì ở cách làm, và có hai thứ chính. Một thứ là làm thành một xấp bánh rồi thái nhỏ, như kiểu bánh phở, bánh sa hà (hủ tiếu), hay ngay cả pasta, và cách thứ hai là làm thành một cuộn bột nhão rồi từ đó kéo ra, rồi kéo đi kéo lại, thành chùm sợi nhỏ trước khi trụn nấu trong nước sôi.
Thử xem lại chữ hủ trong hủ tíu. Trong tiếng Việt, có vẻ chữ hủ nầy khó có liên hệ đến củ trong củ tiếu ráp vần theo phát âm [go diao] hay [kue diao] 粿條, tiếng Phúc Kiến, hay [gue dieu]/[kway teow] Triều Châu, [kwo tiau] hay [go tiau] Hẹ, [ku diau] Ngô, và [guo tiao] hoặc [hua tiao] Quan Thoại, và ngay cả tiếng Hán Việt [quả điêu] hay [quả điều] (mang liên hệ rất nhiều với âm tiếng Hẹ và Tiều) (xem [2][3]). Chữ hủ nầy tương ứng với âm [quả] 粿 (bánh bột gạo) phiên thiết từ chữ [quả] 果 (trái) có nghĩa chính là trái, trái cây. Có ghi trên mạng là tiếng Việt có âm [hủ] tương đương với âm [quả]. Chuyện nầy có lẽ bắt nguồn từ vị trí tương ứng giữa hủ tiếu và quả điều, cả hai đều viết 粿條 [guo tiao], và hủ tương ứng với quả.
Trong nhiều ngôn ngữ, chữ fruit (quả/trái) thường mang tính chùm ngữ nghĩa dính nghĩa với nhau qua mô phỏng trường (metaphorical field). Những ngữ nghĩa của từ quả ưa tập trung ở mô phỏng trường chung quanh việc trồng cây ăn trái rất dễ dẫn đến nguyên nhân và hậu quả (nhân quả), v.v. Chữ 粿 [quả] tức hủ trong [hủ tiếu] (để ý thinh khác nhau giữa [tiếu] và [điều] (quả điều)) mang nghĩa chính là bánh làm bằng bột gạo, có âm tương đương trong các phương ngữ là [gu] hay [ku] đọc theo âm Việt là [củ], như củ tiếu (粿條), và dựa âm trên chữ quả đơn thuần 果 [guo] nghĩa trái cây. Chữ củ trong tiếng Việt, như củ dền, củ năng, củ đậu, củ sen, củ khoai, tương đương với root tiếng Anh rất có khả năng chính là chữ 果 [guo], phát âm theo các phương ngữ là [ku] hay [gu], tức một loại quả mọc tại rễ, hay củ là rễ cây ăn được. Chữ củ nầy cũng có thể cùng gốc với chữ 厚 [gao] phát âm tiếng Triều Châu, mang nghĩa tiếng Tiều là củ, có phát âm ON tiếng Nhật (phiên âm tiếng nước ngoài) làコウ [kō], cũng gần với củ.
Chữ quả hay củ (粿) nầy, mang nghĩa thường dùng là noodle, tức mien, khác với một chữ khác thường dùng trong tiếng Triều Châu là 餜 [gue], mang nghĩa là bánh (thường dùng bột gạo), và nổi tiếng là món bánh xếp Triều Châu (Chaozhou fen guo粉餜), dùng chữ 餜 [guo] nầy, thường có ở các tiệm Yum-Cha hay Dim-Sum. Trong tiếng Hoa có nhiều chữ khác nhau dùng để chỉ bánh, trong đó có 餅 [beng] đọc theo tiếng Quảng, rất gần với phát âm quốc ngữ bánh. Chữ 餅 [beng] (bánh) nầy đọc theo tiếng Phúc Kiến là [pía], chính là chữ pía trong bánh pía rất phổ thông bốn mùa, và rẻ hơn bánh trung thu. Chữ quả trong quả điều tức hủ tiếu mang nhiều dấu vết tiếng Tiều chỉ bánh, và như vậy hủ tiếu (củ tiếu/quả tiếu) mang nghĩa cốt lõi là bánh cắt ra sợi ([tiếu]= [tiao] 條= sợi). Như vậy chữ tiếu sẽ tương ứng với chữ mien trong fu mien (膚麵), mì làm từ bánh da, trong khi hủ tương đương với fu (膚), tức bánh da. Liên kết hủ tiếu (粿條) với hà phẩn (河粉 hay 哈粉), sẽ thấy hủ (粿) liên hệ với hà (哈), trong ngữ nghĩa lẫn ngữ âm qua trung gian của chữ fu (膚) tức phở. Tra các tự điển về phương ngữ có trên mạng, sẽ thấy âm [phu] tức phở của chữ 膚 [fu], có phát âm [hu] tức hủ trong các tiếng Triều Châu và Phúc Kiến. Cũng giống như đậu phụ (豆腐) tức [dau fu] tiếng Quảng, có phát âm [tao hu] (tàu hũ) theo tiếng Tiều. Cũng ở lí do nầy, thi thoảng người ta có thể nghe phở tiếu thay vì hủ tiếu. Từ đó, có thể thấy bánh phở tương đương với hà phẩn, và bánh hủ, trong khi hủ tiếu chính là bánh hủ hay bánh phở cắt thành từng cọng nhỏ,
Nếu bánh phở không cắt ra thành những cọng nhỏ và dẹp, mà lại cắt thành những ô vuông, chừng 2-3 phân (1 inch) thì sẽ có bánh đa, với âm chữ đa có thể biến chuyển qua lại với âm chữ da, theo kiểu qua lại giữa tiếng Mường và Việt, như đăm pa (Mường)= dăm ba (Việt), đẩu chẩm (Mường)= dấu chấm (Việt) [12], hoặc ngay trong tiếng Việt: cây đa = cây da. Món bánh đa tôm cua là một món ăn giống như bánh canh, tức có nước dùng. Trong khi chữ bánh đa có thể dùng như bánh tráng, và cả hai chữ đa và tráng, trong bánh đa / bánh tráng, đều mang nghĩa như tấm mỏng, trang mỏng, giống như trang giấy. Bánh đa thường đồng nghĩa với bánh tráng, với chữ đa có âm gần âm Triều Châu [dua] ứng với chữ 单 [dan] mang một nghĩa là sheet (tấm mỏng), nguyên chữ là 被單 [puedua], giống như tráng (trang 张: sheet). Rất có khả năng, có nhiều nơi phải gọi bánh đa thay cho bánh tráng, để kị tên húy của Chúa Trịnh Tráng (1577-1657) ở Bắc Hà.
Tóm tắt, có 3 thứ ngữ âm mang liên hệ với âm [phở] tiếng Việt. Thứ nhất là âm [fen] (粉) trong ngầu nạm phẩn (牛腩粉), tức hủ tiếu bò kho, với [fen] (粉) phát âm theo giọng Wuxi (tiếng Ngô Việt, tỉnh Giang Tô) với âm cuối [N] rất nhẹ, [feN], cho ra âm [fe] rất gần [phở]. Thứ hai là âm [fu] ứng với 膚麵 [fu mien] mang nghĩa mì làm từ bánh da, tức những sợi bánh phở cắt từ bánh da, với膚 [fu], có âm rất gần [phở], mang nghĩa là da. Và thứ ba là biến chuyển qua lại giữa âm [hủ] trong hủ tiếu, với âm [phở] theo kiểu biến chuyển giữa âm [hủ] và [phụ], giữa tàu hủ và đậu phụ (豆腐). Cần để ý đậu phụ cũng có thể viết như 豆脯 [đậu phủ], với chữ 脯 [fu][pu] cho ra các âm [phủ][bô] tiếng Việt, và [phu][bo] hay [hu] tiếng Hẹ [3], nhưng mang ngữ nghĩa rất khác với 腐 [phụ] trong đậu phụ (豆腐), mang nghĩa lên men, thối nát, mục rữa, và như thế chữ 脯 [fu] viết cho [đậu phụ] 豆脯, chỉ viết cho ra âm, chứ không kèm theo ngữ nghĩa, như đậu phụ (豆腐). Giống như kiểu viết sa hà phẩn (沙河粉) với sa hà (沙河) chỉ cho ra âm, chứ không kèm ngữ nghĩa như sa hà viết như 紗哈 [sha ha], như trình bày ở trên.
Như vậy, hủ tiếu có thể mang nghĩa khá đầy đủ về miêu tả, với hủ (粿) trong hủ tiếu, mang nghĩa bánh làm bằng bột gạo, và tiếu (條) nghĩa sợi nhỏ và dài.
Cần nhấn mạnh là âm [hủ] trong [hủ tiếu] (粿條) không có âm đầu [h] giống như vậy trong nhiều phương ngữ phía Bắc, ứng với từ 粿 [gwo] (quả), nhất là trong tiếng Ngô Việt ở khu Thượng Hải, Chiết Giang [3]. Nhưng ngược lại âm [hủ] có biến chuyển qua lại với [phụ] có âm đầu [ph] như: tàu hủ <=> đậu phụ (豆腐 hay 豆脯), và như vậy, hủ tiếu (粿條) trong âm tố, có khả năng biến chuyển qua lại với phở tiếu, trong biến chuyển giữa âm [h] và [ph]. Chữ hủ tiếu viết theo 粿條 [guo tiao] không có âm tương ứng với [hủ] (粿), trong các tiếng ở khu vực Thượng Hải / Chiết Giang [3], nhưng có tương đương với [kou], tức củ, tiếng Tô Châu, có lẽ với lí do là những nơi nầy, vào ngày xưa, không có dùng hay biết đến thứ mì sợi dẹp làm bằng bột gạo, gọi là hủ tiếu, thường gọi như tương đương với củ tiếu (粿條) tiếng Việt.
Ngoài ra, theo giả thuyết mới trình bày ở đây, âm [hủ] trong hủ tiếu (* 條) cũng có thể tương ứng với chữ 皓 [hao][gou] có âm Quảng Đông [hou] và âm Hẹ là [hoo], có một nghĩa là trắng, ăn khớp khi đứng chung với tiếu thành từ 2 âm hủ tiếu (皓條) với nghĩa như bánh sợi (dùng bột gạo) (條 tiếu) màu trắng (皓 hủ).
Bún Riêu, Bún Thang, Bún Mọc
Thử tra tìm từ nguyên theo ngữ âm của chữ bún riêu. Trước hết chữ bún có âm gần như chữ bihun tiếng Indonesia hay Mã Lai, đọc thật nhanh. Chữ bihun nầy ứng với âm tiếng Khmer [miihun], âm tiếng Lao [mi:pȗn] [26], hay tiếng Thái [khaaoF bpoonF] [7], với âm đầu [mi:] hay [khaaoF] mang nghĩa là gạo / cơm và âm tiếp [pȗn] hay [bpoonF] cùng gốc với bún tiếng Việt, giống tiếng Anh vermicelli, có nghĩa như mì Ý sợi nhỏ. Âm [bihun] thật ra là phát âm Phúc Kiến của chữ 米粉 [mi fen], với 米 [mi] nghĩa gạo và 粉 [fen] (đọc [hun] theo Phúc Kiến, Khmer, và [pȗn] tiếng Lao hay [bpoon] tiếng Thai), nghĩa chính bột, bún, (màu) trắng. Âm chữ bún cũng rất gần [puŋ] tiếng Mon (~ búng (Việt)), mang nghĩa gạo / cơm, giống âm Triều Châu [beung] hay âm Mân Nam [beng] cho chữ 飯 [fan] (cơm).
Chữ riêu trong bún riêu có vẻ theo tương quan giữa âm chữ rang / rán tiếng Việt ứng với âm [jiian] tiếng Thai, hoặc [nyaang] tiếng Lao, tức biến chuyển qua lại giữa âm đầu [r] và [y]. Chìa khóa của ngữ âm [riêu] tương ứng với [yiêu], như giữa âm đầu [r] và [y], sẽ dẫn đến tương ứng giữa âm [riêu] (trong bún riêu) và âm [jiu] tiếng Quảng Đông cho chữ 么 hay 幺 [yao] mang nghĩa nhỏ tí ti, nhỏ xíu, chỉ thịt, tôm, cua bầm nhỏ, một chất liệu chủ yếu của bún riêu, ngoài mắm tôm và cà chua trong nước dùng. Âm [jiu] (幺) tiếng Quảng ứng với các âm [riu] [rau] [ziu] [zau] [jiu] [jau] tiếng Hakka (Hẹ). Những điểm ngôn ngữ chính yếu dùng để hỗ trợ cho luận cứ nầy bao gồm:
- Âm Việt yêu [iêu] (么/麼/幺) ứng với âm [io] hay [iu] tiếng Phúc Kiến;
- Đặc tính của bún riêu là gồm bún với nước dùng có những chất liệu xay hay bầm nhỏ;
- Tương ứng âm [iu]-[au] giữa từng cặp ngôn ngữ: cầu – kiều, hiu hiu – hau hau (Rapanui) (gió thoảng), riêu – yao (么/麼/幺);
- Tương ứng giữa âm đầu [r]-[y] => rang/yaang;
- Ngữ nghĩa của riêu (么 hay 幺 [yao]) là chất liệu bé nhỏ, thịt cua bầm nhỏ tí ti;
- Tương ứng giữa âm đầu [y] và [z] trong nhiều tiếng, nhất là tiếng Hẹ;
- Trong tiếng Việt, tương ứng [y] – [z] phản ánh trong chữ D / d quốc ngữ, cho ra 2 âm là [y] và [dz], như: dòng sông (river) có thể phát âm là giòng sông hay [dzòng sông].
Thang trong bún thang có vẻ không phải là cái thang dùng để bước lên cao, và rất có khả năng dùng để chỉ chất liệu tiêu biểu của món bún nầy. Có 2 ngữ âm tiếng Hoa gần với âm [thang] trong bún thang. Âm thứ nhất là [dan] (蛋) có âm Hẹ là [tan] rất gần [thang], mang nghĩa là trứng (gà). Âm thứ hai là [xian] 線, ứng với âm Phúc Kiến [suann], gần [thang] mang nghĩa sợi, dây. Và âm [thang] trong bún thang gần âm và gần nghĩa với ngữ âm [thaawngMlaaengF] tiếng Thái, mang nghĩa vàng sợi, ý chỉ bún thang có trứng chiên ô-mơ-lết thái mỏng giống như vàng sợi. Âm [thang] trong bún thang còn gần âm [thang] tiếng Nam Kinh hay [taon] tiếng Thượng Hải cho chữ 湯 [tang] mang nghĩa canh, súp.
Chữ thang trong nghĩa cái thang, có âm và nghĩa giống như chữ thuộc tiếng Quảng Đông 揗 [tang] dùng để chỉ động tác bước lên cao hay xuống thấp, như leo thang / xuống thang. Ngữ từ tiếng Hoa dùng để chỉ cái thang (stepladder) là 梯 [ti] có âm quốc ngữ [thê] giống âm Phúc Kiến [the].
Hơi khác với Bún Thang, bún mọc có chữ mọc dùng để nói lên ý nghĩa của chất liệu chính dùng để nấu bún mọc. Trước hết âm [mọc] rất gần với âm [moo] tiếng Thái mang nghĩa thịt lợn, trong nguyên chữ Luk Chin Moo (ลูกชิ้นหมู) một món ăn Thai tương đương với bún mọc, dùng thịt lợn vò viên, rất giống với hủ tiếu vò viên, với Luk Chin có nghĩa như thịt vò viên. Ngữ âm [mọc] tiếng Việt còn gần âm [mok] tiếng Lao, có nghĩa như thịt cuốn hay gói trong lá chuối rồi nướng hay đút lò. Hoặc giống món haa mok (Khmer) chỉ món thịt (lợn) bầm gói lá rồi hấp. Bún mọc có thể viết như bún mộc, và do đó có thể có liên hệ đến mộc nhĩ, chất liệu không thể thiếu khi nấu bún mọc. Nếu dùng chữ mọc với nghĩa thịt xay, thịt nghiền, thịt quết, thì âm [mọc] sẽ rất gần với âm [mo] của rất nhiều tiếng phía Bắc ứng với chữ 磨 [mo], có nghĩa như xay, nghiền. Để ý, ngày xưa người ta xay hay nghiền thịt trong một cối đá, và chữ 磨 [mo] (mọc) có chữ thạch (石) tức đá (stone/ rock) trong đó. Và chữ đá (石) tiếng Ôn Châu gọi là [ta], rất gần [đá], tiếng Mon gọi đá (stone, rock) là [mo?], rất gần [mọc].
Thịt Kho Tàu & Cá Kho Tộ
Chữ chìa khóa của Thịt Kho Tàu và Cá Kho Tộ là Tàu hay Tộ. Tương quan của hai chữ nầy giống như tương quan giữa âm [ô] và [dù], dùng để chỉ đồ vật che mưa, và cùng là âm của hai phương ngữ khác nhau. Theo kiểu lí giải đó, tàu và tộ sẽ dùng để chỉ cách nấu món ăn đó, tức cách nấu thịt kho hay cá kho trong một cái tộ và nấu thật lâu với lửa nhỏ. Chữ thứ nhất làm ứng viên cho âm [tàu] [tộ] là 豆 [dou], mang nghĩa chính là đậu / đỗ, như đậu xanh, đậu nành. Chữ 豆 [dou] nầy còn mang một nghĩa nữa là cái bát to bằng gỗ hay đất sét nung, để chứa hay nấu đồ ăn (claypot). Chữ 豆 [dou] có âm Mân Nam (Phúc Kiến) là [tau] giống như tàu và âm các tiếng Ngô Việt (khu Chiết Giang / Giang Tô) là [doe] rất gần [tô] hay [tộ]. Âm [tô] hay [tộ] cũng cùng gốc với ngữ âm [tʰǒː] tiếng Lao, chỉ cái bát to, có thể giống như cái niêu dùng để nấu ăn. (Chữ nồi hay niêu có thể dính dáng đến âm Quảng Đông [nai] ứng với chữ 泥 [nie] (giống âm [niêu]) chỉ đất sét ngày xưa dùng để làm ra nồi / niêu. Âm [nồi] hay [niêu] cũng gần với một số âm bản địa như [din niau] tiếng Thái (đất sét), [noq] tiếng Pacoh (đất sét dùng làm nồi), [nah] tiếng Bahnar (nồi), và [no’l] hay [no:j] tiếng Mường (nồi).)
Ứng viên thứ hai là chữ 投 [tou] trong 投手 [toushou], có nghĩa ngày nay như bình chứa rượu (pitcher), nhưng ngày xưa (ChatGPT) có làm bằng đồng hoặc đồ sứ, dùng trong nhà bếp của vua chúa. Có thể chuyển ngữ sang tiếng Việt xưa dùng để chỉ cái nồi nhỏ hay cái niêu dùng để nấu ăn, và âm [tou] 投 ứng với âm [tau] tiếng Phúc Kiến / Quảng Đông (giống [tàu]) và [doe] tiếng Thượng Hải, giống [tô] hay [tộ].
Ứng viên thứ ba là chữ tàu hay tộ trong thịt kho tàu / cá kho tộ dẫn từ chữ 斗 [dou] (đấu) trong 刁斗 [diaodou], có nghĩa như một cái nồi cá nhân, có dung lượng bằng 1 đấu (斗), khoảng 5-10 lít, làm bằng đồng hay sắt cho binh lính để nấu cơm, và ban đêm dùng làm chiêng để báo hiệu thay phiên canh. Chữ đấu (斗 [dou]) có âm Mân Nam [tau] rất gần [tàu] và âm Thượng Hải [toe], Nam Kinh [dou] rất gần [tô] hay [tộ]. Âm [dou] 斗 hay [tau] cũng gần âm [tʰao] tiếng Khmer chỉ cái bình to để chứa cơm nếp.
Ứng viên thứ ba là chữ tàu hay tộ trong thịt kho tàu / cá kho tộ dẫn từ chữ 斗 [dou] (đấu) trong 刁斗 [diaodou], có nghĩa như một cái nồi cá nhân, có dung lượng bằng 1 đấu (斗), khoảng 5-10 lít, làm bằng đồng hay sắt cho binh lính để nấu cơm, và ban đêm dùng làm chiêng để báo hiệu thay phiên canh. Chữ đấu (斗 [dou]) có âm Mân Nam [tau] rất gần [tàu] và âm Thượng Hải [toe], Nam Kinh [dou] rất gần [tô] hay [tộ]. Âm [dou] 斗 hay [tau] cũng gần âm [tʰao] tiếng Khmer chỉ cái bình to để chứa cơm nếp.
Ứng viên thứ tư cho âm [tàu] hay [tộ] là chữ 头 [tou] trong 石头火锅 [shitouhuoguo] có nghĩa như claypot, tức cái nồi hay niêu làm bằng đất nung, với chữ 头 [tou] có âm Quảng Đông [tau] rất gần tàu và âm Nam Kinh [tou], âm Thượng Hải [doe] rất gần tô hay tộ.
Nói chung, lí giải chung quanh chữ tàu hay tộ, để chỉ bát to hay tô dùng để chứa thức ăn khi nấu, giống chữ claypot, ứng với ngữ âm tiếng Quảng Đông [bou] (煲) trong 煲仔飯 [bou zai faan], chỉ loại cơm niêu nấu chung với thịt, cá và rau cải. Có nghĩa, tên món ăn bou (煲) là tên gọi của cái niêu dùng để chứa thức ăn khi nấu. Cần nhớ là chữ bát (bowl) có cùng gốc với ngữ âm Khmer [baat], âm Lao [ba:t], âm Quảng Đông [but] hay Phúc Kiến [buat] (鉢), hoặc ngữ âm Sanskrit [pātra], chỉ bình bát của các nhà sư dùng để khất thực.
Âm [tàu] cũng có thể ứng với chữ thấu (透 [tou]) trong nghĩa thấu đáo, nấu lâu, chín nhừ, và chữ 透 [thấu] có âm Quảng Đông [tau] giống tàu và âm quan thoại [tou] giống thấu hay tộ.
Chữ kho trong thịt kho, mang nghĩa như stew (hầm hay nấu lâu, thích hợp với âm tàu mang nghĩa thấu) có âm gần âm Thai [khiaao] (simmer), và rất gần với âm Triều Châu [ko] trong [ko bhat] 炣肉, có nghĩa thịt kho, trong khi âm Hakka (Hẹ) [k’o] 鍋 (âm Thượng Hải [ku], âm Mân Nam [ko]), chỉ nồi, thường bằng đồng, dùng để nấu thịt kho, thịt hầm lâu. Âm [kho] cũng gần như âm [kha] hay [kho] tiếng Khmer chỉ món giống như món thịt kho hay cá kho.
Chữ thịt (meat) có âm gần âm Hẹ [t’it] 剔, mang nghĩa như thịt đã lóc xương, gần âm Mân Nam [thik] hay âm Ngô Việt [thih] [thiq]. Âm [thịt] cũng gần âm [ti‘] tiếng Burmese chỉ thịt đã thái nhỏ. Còn cá có vẻ như cùng gốc với ikan tiếng Mã Lai, sakana tiếng Nhật, Ka tiếng Lao, Mon-Khmer, Mường.
Ô Mai và Xí Mụi
Chữ thanh mai (青梅) trong thanh mai trúc mã dùng trong bài thơ của Lí Bạch [13] mang một nghĩa tương đương với tên gọi bình dân và quen thuộc là ô mai hay xí mụi. Chữ nầy có thể gây khó khăn nếu dịch theo kiểu từng chữ từng âm, như có chỗ dịch thanh mai là mơ xanh, và cũng có chỗ dịch thành cành cây mơ xanh. Nhìn kiểu tổng thể và ăn khớp, hai kiểu chuyển ngữ này có thể gặp lấn cấn. Nếu truy tìm ý nghĩa của thanh mai như một món ăn quà vặt, hãy xem qua chuyện tên gọi thanh mai (青梅) có phát âm Phúc Kiến là [ci mui] tức xí mụi, hiểu theo tiếng Anh là preserved plum hay preserved prune hoặc tiếng Quảng hiện đại là [chan pei mui] 陳皮梅 tức quả mơ khô, giữ lâu. Giống xí mụi, và để ăn với cơm trong ẩm thực của Nhật là umeboshi (梅干) tức mơ khô tẩm muối. Cả hai chữ 陳 [chan] và 皮 [pei] trong [chan pei mui] đều có ngữ nghĩa liên hệ đến giữ lâu, bao bọc, tẩm. Phải để ý chữ thanh (青) trong thanh mai, ngoài nghĩa thông thường là xanh (green) còn mang một nghĩa ít xử dụng trong tiếng Việt, và đó là xanh đen (greenish black) hay đen. Với ngữ nghĩa là xanh đen hay đen, mơ xanh (thanh mai) có thể thay thế bằng ô mai, tức ô (đen – 烏 [o] Phúc-Kiến) thay cho thanh (đen), và ô mai có thể xem như đồng nghĩa với thanh mai, nhưng giống như xí mụi, ô mai không phải là mơ xanh mới hái từ cây, mà là một thứ mận hay mơ được tẩm muối, đường, cam thảo, v.v., rồi làm khô để giữ được lâu. Ô mai hay xí mụi là thứ xì-nắc (snack) được trẻ con ưa thích chứ không phải mơ xanh, mặc dù xuyên qua Hán tự, cả ba đều dựa vào một thứ chữ viết là 青梅 [qing mei], tức thanh mai.
Wonton & Mằn Thắn (Vằn Thắn, Hoành Thánh)
Tra chữ wonton (hoàTra chữ wonton (hoành thánh) trên mạng, sẽ thấy âm [wonton] tiếng Anh tương đương với rất nhiều lý giải khác nhau mà hai cụm từ chính là馄饨 [hun tun] gọi theo tiếng Hán Việt là hồn đồn, hay云吞 [yun tun], tức vân thôn. Cả hai hồn đồn và vân thôn đều có vẻ tách xa âm với hoành thánh, wonton hay vằn thắn. Âm [hun tun] chỉ là tiếng nói chỉ đến món hoành thánh chứ không mang nghĩa nào đặc biệt, tức rất có khả năng [hun tun] chỉ là lối phiên âm một ngoại ngữ hay phương ngữ. Còn [tun] trong [yun tun] mang nghĩa nuốt (thôn), tức hoành thánh hay vằn thắn có nghĩa là nuốt mây. Âm quan thoại [yun] tương đương với Quảng [wan] và [tun] với [tan] (云吞 [yun tun], [wan tan], [vân thôn]) đọc nôm na là hoành thánh, vằn thắn hay mằn thắn. Nếu nhìn kỹ bát súp hoành thánh và dẹp hết các hiểu biết tiền kiến về chữ nghĩa có thể thấy các viên hoành thánh trôi nổi trong bát súp nước trong, giống như những cụm mây trôi.
Từ đó có thế đưa thêm một giả thuyết về ngữ nghĩa là [wonton] có âm vận giống như miêu tả về một loại súp giống mây trôi [wonton], với âm Quảng Đông là [wan tong] 云汤, [yun tang] quan-thoại, với âm [wan] 云 tiếng Quảng Đông mang nghĩa mây (vân), và [tong] 汤: súp (thang/sương/thãng viết theo lối “Hán-Việt”). Có thể thấy âm quốc ngữ vân mang nghĩa Nôm mây chỉ là tương ứng với một trong những dạng chữ viết theo a-b-c có khả năng kí âm một âm của tiếng nước khác có nhiều biến chuyển khác nhau: vân/ hoành/ vằn/ mằn, nhất là theo kiểu phát âm bình dân. Trong các “phương ngữ” ở nước Trung, âm [wan] (vân) 云 tiếng Quảng lại tương đương với [hun] hay [un] Phúc Kiến, [hung] hay [ung] tiếng Tiều (để ý ngữ âm tiếng Tiều (Triều Châu) [hung] và [ung] có [g] so với [hun] và [un] Phúc Kiến, không có [g] ở cuối, trong kí âm dùng a-b-c). Từ quan thoại [yun] 云 tương ứng với âm [wäng] tiếng Weitou nói ở khu Hongkong/Thẩm Quyến (Shenzhen), rất gần âm [vân] tiếng Việt, và quan trọng nhất âm [hun] 汤 Phúc Kiến (tức Mân Việt theo kiểu gọi thời nhà Trần) ráp với [tun] 吞 (thôn=nuốt), sẽ cho trở lại âm [hun tun] 馄饨 (hồn đồn), tức một thứ viết và phát âm khác cho món wonton, mang nghĩa nôm na là nuốt mây.
Âm [hun tun] dùng để chỉ món wonton do đó có thể chỉ là kí âm, chứ không mang theo ngữ nghĩa gì đặc biệt ngoài tính định để, mang tính phiên âm.Biến chuyển trong tiếng Quảng giữa [wan] 云 [hoành/vằn/vân] và [mằn] (mằn thắn) lại nằm trong tương đương giữa âm đầu [w] và [m]. Thí dụ: tên của sư phụ Ip Man của phái võ Vĩnh Xuân còn gọi là Diệp Vấn, âm đầu M chuyển thành V, chữ vạn (10000) tương đương với muôn / mặc (万), tức hai âm Quan Thoại [wan] / [mo] (万), ứng với [maan] / [mak] tiếng Quảng Đông, âm MóV (hay W). Giải thích nầy cho biết âm mằn thắn khác với vằn thắn hay hoành thánh, cũng được phản ánh giữa các phương ngữ ở phía Bắc, dưới dạng âm tương ứng.
Tóm tắt, lí giải ở đây đưa ra một giả thuyết mới, là âm chỉ món vằn thắn tức wonton là chuyển âm qua các phương ngữ cho chữ 云汤 [wan tong] mang nghĩa món súp mây trôi.
Bánh Chưng, Bánh Tét, Bánh Ú, Bánh Giầy
Thử xem qua từ nguyên của hai thứ bánh người Việt thường dùng trong dịp Tết, là bánh chưng và bánh tét. Chữ bánh tiếng Việt có cùng gốc với hai từ 饼 [bing] và 粄 [ban], với 饼 [bing] có âm Quảng Đông [beng] và âm Thượng Hải [pin] rất gần [bánh], và 粄 [ban], 粄粿 [ban guo] bánh làm bằng bột gạo, có âm Phúc Kiến và Hẹ là [ban] rất gần [bánh]. Hai chữ bánh chưng và bánh tét, đều có thể móc nối với chữ đất, bánh tế đất, bánh tạ ơn đất, tạ ơn thần đất, trong một quá khứ rất xa xưa. Theo lí giải thông thường, âm [tét] hay [tết] có lẻ có trước thời chữ Hán hay chữ Nôm cho kí âm 節 [jie], tức tiết, giống âm Hẹ [tziet], mang nghĩa ngày lễ hội, thí dụ tiết nguyên đán. Theo kiến thức thông thường Tết và Tiết trong Tiết Nguyên Đán xem như tương đương và viết chung một chữ Nôm (節), nhưng, theo giải thích ở đây, có thể mang ngữ nghĩa nguyên thủy khác nhau.
Theo quyển tự vị của Lê Ngọc Trụ [14] bánh tét còn có tên gọi là bánh tày, và tét có đồng nghĩa hoặc âm gần là tết. Âm [tày] trong bánh tày tức bánh tét rất gần với [ti:] hay [đây] trong tiếng Khmer, mang nghĩa đất. Âm [tày] cũng rất giống tiếng Hàng Châu [tay] cho chữ Hán 地 [di], tức địa (đất), ứng với phát âm [tuē] hay [tè] trong tiếng Phúc Kiến (Mân Việt). Âm tày trong Tiếng Mường của Tết là Thết, thật ra gần với từ tiếng Thái [thaat] mang nghĩa đất, dùng trong thuyết Ngũ Hành, tức [thaat] thay cho Thổ (đất) trong Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong đa phần các ngôn ngữ dựa vào a-b-c âm [d] gọi là tắc âm tỏ (voiced stop) và [t], tắc âm không tỏ (unvoiced stop). Nhưng trong nhiều tiếng không dựa vào kí âm theo kiểu Latin a-b-c, như tiếng Thái và tiếng Trung, hai âm đầu [d] (tức đtiếng Việt) và [t] ưa biến chuyển qua lại với nhau. Chính Haudricourt [4] cũng cho là gạch ngang trong chữ Đ quốc ngữ có lẻ dùng để nhắc nhở là âm Đ rất giống âm chữ T. Lối viết chữ Đ tiếng Việt giống với chữ cái Đ (hay ð hoặc đ) trong các tiếng như Iceland và Croatia, hay ð trong phiên âm quốc tế IPA. Nhưng chữ đ / Đ tiếng Việt, có phát âm như âm chữ d trong các tiếng Âu Tây như Anh, Pháp, Ý, …, tuy có cách viết giống với chữ Đ (hay ð hoặc đ) trong các tiếng như Iceland (Băng Đảo) và Croatia, nhưng có phát âm khác nhau giữa 3 thứ tiếng nầy, xem Wikipedia hay các AI Chatbot.
Biến chuyển giữa âm [t] và [đ] trong tiếng Việt cũng phản ánh biến chuyển giữa 2 con chữ nầy trong phiên âm theo a-b-c giữa các thứ tiếng ở phương Bắc. Thí dụ: ca sỹ đoản mệnh Teresa Teng (tức 邓丽君 Đặng Lệ Quân) có phát âm quan thoại là [Dèng Lìjūn] và âm Taiwan là [Teng Li-yun]; hoặc hướng Đông 東 [dong] ngày xưa đọc theo phiên âm Wade Giles là [tung]. [Deng] và [Teng], [dong] hay [tung], có nghĩa âm đầu [d] và [t] biến chuyển qua lại với nhau, trong những ngôn ngữ có chữ viết không dựa vào a-b-c. Từ đó có thể thấy khả năng, thời chưa có chữ viết, có thể kéo dài hằng nghìn hay hằng chục ngàn năm, chữ tét trong bánh tét có thể có nơi phát âm như đét. Tức đét tương đương với đất. Chuyện này thật ra rất khả thi khi nhớ tới Trời và Đất là hai thực thể linh thiêng nhất trong sinh tồn, xưa cũng như nay. Và Trời-Đất có thể gọi bằng Chèng Đét theo tiếng Việt “cổ”: trời đất ơi tức là chèng đét ơi hay mèn đét ơi.
Đét là tét (tết), là đất, nhưng móc nối giữa chèng với trời thì ra sao? Chèng cho ấn tượng là một thứ từ bản địa nhưng có thể có liên kết với các ngôn ngữ chung quanh bởi nhân loại đều có chung một bầu trời và một Ông Trời. Theo kiểu chồng=trượng (phu), chèng có thể mang âm gần với [zhong][chong] (trùng/trọng) 重 trong cửu trùng (九重 – chin tầng mây), hay [tian] (thiên) 天 trong cửu thiên (九天 – trên trời cao), hoặc mang nghĩa trực tiếp với Trời qua 天上 [tian shang], bao gồm các ngữ nghĩa: bầu trời, thượng đế, ông trời, trời. Âm chữ 天 [tian] (trời) chuyển qua phương ngữ có thể đọc gần như chèng, như [ti-êng] tiếng Tiều hay [ti-ên] tiếng Hẹ.
Thường thấy trong các từ liên quan đến tư tưởng hay tâm linh, một hay hai ngữ từ có thể liên kết đến cả chùm ngữ nghĩa, như kiểu ngũ hành (thí dụ: hành Mộc chỉ hướng Đông, màu xanh, gỗ và cây cối, mùa xuân, v.v.), hoặc những từ như dukkha, dharma, v.v.. Ở khía cạnh này, Chèng đét có thể là âm quốc ngữ “dính líu” tới tiếng Thái [chaawng khlaawt] (tức chèng hay yoni), và [gra daaw] [7] (tức đét hay linga), nằm trong văn hóa phồn thực. Chèng đét do đó đồng nghĩa với nõn nường hay nõ nường (nường=chèng; nõn=đét), trong lễ hội nõ nường. (Để ý lễ hội nõn nường của văn hóa phồn thực có liên hệ ít nhiều đến tín ngưỡng cộng đồng, vào thời đại chưa có sự cạnh tranh của các đạo giáo khác như Khổng giáo.) Trong ngữ bản thời phồn thực, đét tức đất có thể tiêu biểu bằng nõn hay nõ (linga – bộ phận sinh dục nam) và do đó mang hình dáng giống hình trụ, giống như bánh tét, giống cái nêm có hình lăng trụ, và đất do đó mang giống đực (dương). Tương tự, chèng (yoni) mang giống cái (âm), chỉ mặt trời, hình tròn, nang, mo nang, tương đương với nường (yoni).
Chèng đét (trời đất) trong ngữ nghĩa của phồn thực sẽ ứng với yoni (âm hộ) và linga (dương vật). Yoni (Chèng) chỉ Trời mang âm tính, đồng nghĩa với âm hộ (陰戶) hay âm đạo khẩu (陰道口), gọi tắt với chữ âm (陰), và chữ nầy có âm Ôn Châu, thuộc địa bàn nước Việt xưa của Câu Tiễn 勾踐 (520?-465 TCN), là [ʼjiaŋ] [3] rất gần âm [chèng]. Trong khi linga (Đét) chỉ đất mang dương tính, ứng với dương vật, còn gọi là đệ đệ (弟弟) hay tiểu đệ (小弟), tức em trai, gọi tắt bằng chữ đệ (弟), và chữ nầy có âm [te] [de] [di] tiếng Mân Nam, [de] [dij] tiếng Thượng Hải, [dei] tiếng Ôn Châu, [te] [ti] tiếng Hẹ, tất cả rất gần âm [đét] (đất), hay [di] (地) chỉ đất hey đét hoặc tét. Chữ đất (地) có âm phương ngữ [te] [ti] [di] [de] [dei] [dij] giống y như các âm của chữ đệ (弟), từ tiếng lóng chỉ dương vật, tức Linga, biểu tượng cho đất.
Thứ tự trước sau của chèng đét (trời đất) khác với thứ tự của chữ tương đương nõn nường (đất trời) có lẽ do ở liên hệ đến vai trò quan trọng của dương khí hay âm khí tùy với cộng đồng và/hay thời đại. Nếu mặt trời là biểu tượng âm khí thì thần mặt trời phải là nữ phái, như Amaterasu tức Thái Dương thần nữ (Ōhirume-no-muchi-no-kami (大日孁貴神)), hay Thiên Mẫu. Tại rất nhiều cộng đồng trên thế giới, đấng linh thiêng biểu tượng bằng mặt trời từ lâu vẫn được xem là phái nam, như Ông Trời, Thượng Đế hay Trời Cao (Le Ciel). Nhưng cũng có nơi, từ chỉ mặt trời thuộc giống cái, như [ka bneng] (ka= giống cái) tiếng Khasi [11], hoặc Die Sonne tiếng Đức, nghĩa mặt trời, cũng giống cái.
Kiểm chứng bằng lối thay chữ hay ăn khớp sẽ thấy mèn tương đương với chèng, bởi mèn đét ơi có thể thay cho chèng đét ơi. Và mèn mang nghĩa trời có thể móc nối với một từ tiếng Hán là旻 [mín], mang nghĩa trời, bầu trời, và hiện thường dùng chỉ mùa thu, trời mùa thu. Trong tiếng Cua (Mon-Khmer) có từ kí âm là [mɨŋ] (phát âm gần với [miiuung]) mang nghĩa vươn lên trời. Âm [mɛ́ːn] tiếng Lao, rất gần mèn, mang nghĩa thượng đế, ông trời, thiên đàng. Con dế mèn theo sinh vật học cùng giống với châu chấu, cũng gọi là ngựa trời. Dế mèn tức dế nhũi (mole cricket) có thể gọi theo tiếng Hoa là 天蝼 [tianlóu], với [tian] (thiên) mang nghĩa Trời. Do đó mèn hay chèng là những âm “xưa” có thể thay nhau với Trời, và Trời đất ơi tương đương với Mèn đét ơi hay Chèng đét ơi.
Có thể bánh chưng không liên hệ đến văn hóa phồn thực như bánh tét, tức được phát minh không cùng thời hay cùng chỗ với bánh tét, nhưng bánh chưng vẫn có thể mang biểu tượng của đất, mặt đất, bằng dáng hình vuông. Âm [chưng] gần với âm [zhĕn] (轸), mang nghĩa vuông, cũng như với âm [chén] 尘, mang nghĩa đất. Nghĩa nôm của bánh chưng dính đến cách nấu (hoặc hấp) trong nước sôi trong một thời gian thật dài, chưng, tương đương với Hán tự 蒸 [zhēnɡ], mang nhiều phát âm giống như [chưng] trong các phương ngữ tiếng Trung. Bánh Zongzi(粽子) ở Trung Quốc và bánh Bah-Chang (肉粽) ở Malay và Indonesia đều làm bằng bột nếp và có âm giống như [chưng] trong bánh chưng. Chữ [bah] trong Bah-chang (肉粽) là âm Phúc Kiến ở Mãlai và Indonesia cho chữ 肉 [rou] tức nhục [nyục] hay dục [yục], theo các âm Việt, Hakka và Quảng Đông, mang nghĩa thịt, và bah-chang có nghĩa bánh nếp nhưn thịt, tức bánh chưng (mặn). Món ăn nổi tiếng Mã-Lai Bah-kut-teh (肉骨茶) có chữ [bah] mang nghĩa thịt, chữ [kut] mang nghĩa xương (cốt), tức bah-kut nghĩa thịt sườn, và [teh] mang âm giống thé tiếng Pháp có nghĩa trà.
Có thể thấy, bằng lối nhìn tổng thể văn hóa phồn thực không chỉ đơn thuần chung quanh yoni và linga, tức bộ phận sinh dục của nữ và nam, mà mang ý nghĩa yoni / linga biểu tượng cho hai đấng thiêng liêng và tối cao định đoạt được sinh tồn và hạnh phúc cho loài người và thế gian. Hai đấng tối cao này lại có hình thể mà cộng đồng thời tiến sử có thể thấy và cảm nhận được là Trời và Đất. Và chuyện khá rõ là văn hóa phồn thực thịnh hành trong nhiều cộng đồng vào thời ngôn ngữ hãy còn trong trạng thái phôi thai, chưa dính liền với phát triển văn minh, có hay không có chữ viết, và nhất là xã hội chưa có dẫn dắt và tổ chức bởi một chính quyền. Do đó ý nghĩa của gạch nối giữa yoni/linga với trời/đất dễ đánh mất. Cái còn lại cho đến ngày nay là lễ phồn thực là một lễ hội lớn của cộng đồng vui tưởng đến ý nghĩa về giao hợp giữa yoni và linga để nhân gian mãi mãi tồn tại trên thế gian.
Nhưng ý nghĩa chính của Tết vẫn là đất, và cũng ở lí do nầy, có thể thấy việc nấu bánh chưng, bánh tét cho ngày Tết quan trọng hơn việc là làm bánh dày (giầy) hay bánh ú, cả hai thứ nầy thiên về biểu tượng cho Trời. Mặc dù, ở nhiều nơi người ta cúng với bánh tét và bánh ú vào ngày Tết, tức cúng Trời và Đất, cúng Trời Đất một lượt với nhau. Bành giầy (dày) mang ngữ âm gần với giời (trời), và cần nhớ là giời không phải là lối đọc trại hay nói ngọng, hoặc không chuẩn của trời, bởi trời và giời có liên hệ từ nguyên khác nhau ở các tiếng khác. Chữ giầy trong bánh giầy ứng với nhiều ngữ nghĩa, nhưng chính yếu, ngữ âm [giầy] rất gần với âm [giời], tức trời. Trước hết, bánh giầy là thứ bánh làm bằng bột gạo nếp, hình tròn và dẹp biểu tượng cho mặt trời, và ngữ âm [giầy] hay [dày] rất gần với âm tiếng Thai [jee] mang nghĩa một thứ bánh làm bằng bột gạo, cũng như chữ 糍 [ci] (âm Ngô Việt [dzy]). mang nghĩa bánh nhân cũng làm bằng bột gạo xay nhuyễn, hoặc gần âm của từ 粢 [ci] [zi], mang nghĩa gạo nếp (dùng làm bánh dầy), có âm Triều Châu [zê] rất gần [giầy]. Ngữ âm [giầy] cũng rất gần với âm [zai] (霁) tiếng Quảng Đông, gần [giời], mang nghĩa chính là bầu trời, bầu trời quang đãng, hay [ji:s] tiếng Phong [10] mang nghĩa mặt trời. Và [giời] cũng mang âm gần với [jo:l] tiếng Pear, hay [ju:j] tiếng Chong (phía Tây nước Khmer), cả hai mang nghĩa bầu trời. Nhớ là trong nhiều ngôn ngữ, những ngữ nghĩa bầu trời, mặt trời, ông Trời, Thiên Mẫu, trên trời (thiên đường), thường hoán chuyển với nhau.
Chữ trời, trong lối ráp chữ quốc ngữ,thật ra là một sáng tác của Taberd [1][2], khi thay thế toàn bộ các âm đầu có trong tiếng Việt và Mường, như tl hay bl thành ra tr, như blăng / tlăng=> trăng; blời / tlời=> trời; tlứng=> trứng, tlốc=> trốc (đầu), tlai / blai => trai, v.v. Âm đầu [bl] như trong blời (trời) có thể ứng với [pl] như [pləːj] tiếng Pong [10]. Âm theo dạng [bl] hay [tl] hoàn toàn không hợp với “khầu vị” hay khẩu âm của tiếng Trung hay tiếng Pháp, hoặc ngược lại có thể âm đầu [bl] hay [tl] là âm rất hợp với khẩu vị người bản địa và do đó ứng với các từ lân cận mang âm đầu là âm chữ l. Theo [15], người Hoa vào khoảng thế kỉ 15 (An Nam Dịch Ngữ [16]) đã dùng chữ 雷 [lei], mang nghĩa sấm sét (từ trên trời) để kí âm cho blời hay tlời.
Trong khi tự điển Nôm trực tuyến [17] kí âm chữ blời như 𫶸, bao gồm chữ 巴 [baa] (thay cho [b]) viết trên chữ 俐 [lei] ([lị][lợi], gần âm quốc ngữ [lời]), [baa] và [lei] là âm Quảng Đông, ứng với hai âm Việt là [ba] và [lị], tức viết theo Nôm, blời=b+lời, 𫶸 [blời]= 巴 [b] + 俐 [lời], có vẻ như một sáng tác mới sau khi chữ Nôm được viết trên máy điện toán dùng kỹ thuật số, tức rất khó dùng trong “khảo cổ”. Nhưng kí âm Nôm chỉ được biết nhiều sau nầy, qua kí âm viết theo ráp chữ của quốc ngữ, chứ không nói lên ngữ nghĩa, nhất là nghĩa ví phỏng, hay nghĩa xa xưa, nghĩa ban đầu, như kiểu nói mớ khi nằm mơ, hoặc dù / ô là âm tương đương với vũ (mưa) trong vũ tản 雨傘.Chữ 雷 [lei] hay [lôi] dùng ở thế kỉ 15-16 (xem [15]), mang ý nghĩa ví phỏng là sấm xuất phát từ trên trời, rất có khả năng là một trong những ngữ âm ban đầu liên hệ đến ngữ âm blời hay tlời, mang ngữ nghĩa của trời theo phép ráp chữ của Taberd.Ngữ âm [lei] 雷có thể mang liên hệ với 雷公 [leoi gung] (Lôi Công) tiếng Quảng Đông, hiểu như Ông Thiên Lôi.
Một ứng viên khác về ngữ âm đưa đến ngữ âm [lời] trong blời là âm [luo] của chữ 落 [luo] trong 日落 [ri luo], mang nghĩa mặt trời lặn. Âm [luo] 落 nầy ứng với các phát âm [laai] Quảng, [loh] Tô Châu, Triều Châu, [lou] Mân Việt, [lo] hay [la] Ôn Châu, tất cả có thể tương đương với âm quốc ngữ [lời] dẫn đến blời. Còn một ứng viên khác là chữ 日 [rì][mì] (mặt trời), có âm tương đương trong tiếng Mân là [lit] theo biến chuyển qua lại giữa âm nứu (alveolar) [r] và [l], và [lit] gần với [lị], hay [lih] tiếng Palaung (mặt trời mọc), và [li] 利 ứng với âm quốc ngữ [lợi], tương ứng với [lời] trong blời. Chữ 日 [rì][mì] có phát âm như [nieh] Vô Tích (Ngô), [yäk] Nam Quảng Đông, rất gần với âm quốc ngữ [nhật], trong khi 日 [nyit] Tô Châu, [gnit] Hẹ lại gần với [nhựt]. Âm chữ 日 [rì][mì] (mặt trời) trong tiếng Ôn Châu (Chiết Giang) chính là [zai], giống âm [dày] trong bánh giầy, và âm Ngô Việt là [zeq] hay [zheh], tiến đến [zời] hay [giời] rất dễ. Đối với người Pháp, âm đầu [bl] và [tl] hoàn toàn xa lạ, nên có thể hiểu, rất có khả năng, đó là lí do đưa Taberd đến thay thế toàn bộ các âm đầu [bl] và [tl] trong tiếng Việt ra [tr]. Cũng cần nhớ là trong một quyển sách xuất bản năm 1920-24 (Les Origines de la Langue Annamite (Variétés Tonkinoises – Bắc Kỳ Tạp Lục)) [22], chữ mặt trời được viết là mặt lời, giống một kí âm chữ Nôm cho [lợi] hay [lệ] (例), và trăng trong mặt trăng viết như lăng, với âm [lăng] gần chữ tlăng tiếng Mường hay blăng tiếng Việt kí âm theo Alexandre de Rhodes [1]. Thay đổi từ blời sang trời, tlăng hay blăng hoặc lăng thành trăng như vậy, rất có khả năng, là một phát kiến của Pigneau de Béhaine và Taberd [2], hoàn toàn hủy bỏ các phụ âm [bl] hay [tl], hoặc [kl], của tiếng Việt bản địa, mà tiếng Pháp không có, hoặc người Pháp sẽ thấy khó khăn khi phát âm những phụ âm kép nầy.
Trở lại chuyện bánh dày và bánh ú là hai thứ bánh tượng trưng cho mặt trời. Bành dày (bánh giầy) hình tròn biểu tượng hình dáng của mặt trời, nhưng bánh ú có hình dáng bên ngoài, hình khối bốn góc (tetrahedron), giống như bánh ít, và cùng tượng trưng cho bầu trời, hay 4 chân của bầu trời, hay vòm trời, hoặc tượng trưng cho trời, cho mặt trời. Trong huyền thoại xa xưa có bà Nữ Oa (女娲 [Nüwa]), đã bỏ công sửa chữa 4 chân trời đã xập, thay thế bằng 4 chân con rùa lớn khủng. Hình bốn góc của bánh ú có 4 góc biểu tượng cho 4 chân của vòm trời. Ngữ âm [ú] rất gần với với âm Nam Kinh hoặc Ngô Việt [u] hay [oh] cho chữ 屋 [ốc], mang nghĩa mái nhà, căn nhà hay vòm che (vòm trời, dome). Chữ 屋 [u] nầy tương đương với ngữ âm [u] trong tiếng Akha trong cùng khu vực, mang nghĩa bầu trời. Xa xa, ngữ âm [ú] cũng có thể có liên hệ với âm [u] hay [ud] chỉ mặt trời, trong tiếng Sumer [18] ở khu Lưỡng Hà (Mesopotamia) cách đây khoảng 7 thiên niên kỉ. Tiếng Sumer, cũng có âm [mu] mang nghĩa đàn bà giống chữ Mụ tiếng Việt, hay ngữ âm [ne] (respect) mang nghĩa rất giống nể (nể nang / kính nể) tiếng Việt.
Còn chữ ít trong bánh ít mang ngữ âm gần với chữ East tiếng Anh, mang nghĩa nơi mặt trời mọc, hay Ất (hướng Đông) trong Ất Giáp (cũng có nghĩa là một hai, 1-2), hay [aad] trong [aadityaa] tiếng Sanskrit, mang nghĩa mặt trời, hay ngữ âm [is], rất giống East (Đông), trong tiếng Aslian ở khu vực Malay, mang nghĩa ban ngày. (Chữ ngày tiếng Việt, có ngữ âm rất gần các âm Mon / Khmer như [tngaj] hay [thngay], hoặc Khasi như [sngi] mang hai nghĩa ví phỏng nhau là mặt trời và ban ngày. (Để ý trong tiếng Pháp mặt trời là le soleil, trong khi ngày là le jour, nhưng ngữ âm [jua] (gần jour) ứng với mặt trời trong tiếng Swahili). Tóm lại, hai chữ ú và ít mang ngữ âm quốc ngữ ứng với bầu trời, vòm trời hay mặt trời và có hình dáng tetrahedron (khối 4 mặt) với bốn góc tượng trưng cho bốn cột trụ của bầu trời.
Theo lí giải dùng nhiều chiều hướng khác nhau, chữ Tết có ngữ âm “thuần Việt”, chỉ dính dáng với tiết trong cách dùng tương đương với tết nguyên đán và tết trung thu. Ở những ngữ nghĩa bên trong, tết liên hệ đến tét, đét, và đất, hay thần đất, trong khi tiết nguyên đán mang nghĩa trực tiếp là ngày đầu năm (âm lịch). Chuyện Tết ta (xưa) dính liền với lễ tế thần đất cũng phù hợp với lễ hội lớn về vụ mùa Gạo (Rice Harvest Festival) ở Bali thuộc Indonesia. Lễ Mùa Lúa nầy cũng có mục đích chính là khấn xin thần ra tay bài trừ ma quỷ ra khỏi đất canh tác, tổ chức vào đầu năm, trước mùa gặt (xem Wikipedia).Ý nghĩa cổ thời của Tết ta, chú trọng đến cúng kiến thần đất, nhằm vào tạ ơn vụ mùa, rất có khả năng, giống lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) ở Mỹ, và giống lễ Thesmophoria, tạ ơn thần vụ mùa Demeter, xảy ra vào tháng âm lịch Pyanopsion (ứng với tháng 10-11 Dương Lịch) tại nước Hy Lạp (Greece) ngày xưa. Thần vụ mùa Demeter cũng là thần coi về sinh sản, nên lễ Thesmophoria chỉ dành cho nữ giới, ở nước Hy Lạp xưa.
Khoảng thời gian người xưa ăn Tết (ta), rất có khả năng, ứng với khoảng tháng 3 âm lịch, trước tiết Thanh Minh, và trong khoảng tiết Xuân Phân. Tháng 3 chính là tháng 5 kể từ tháng Tí xem như tháng đầu tiên, tức tháng 1, của một thứ lịch cổ thời, tức lịch nhà Châu. Tháng 5 ăn Tết ứng với việc tái tân (renewal) cho một chu kì 12 tháng, sau mùa gặt, và do đó đánh dấu năm mới bằng chữ năm (tháng thứ 5 của lịch nhà Châu). Tháng 5 nầy thật ra ứng với tháng 3 kể tháng Giêng (Dần) là tháng 1, theo lịch nhà Hạ và nhà Tây Hán (xem [23]). Tháng 3 ứng với ngữ âm [bpee] tiếng Thái và [pi:] tiếng Lao, mang nghĩa số 3 trong các tiếng láng giềng, tức, rất có khả năng là tháng thứ 3 kể tháng Giêng là tháng 1, và cũng mang nghĩa là năm (year) trong tiếng Thai / Lao. Lễ hội lớn vào khoảng tháng 3 âm lịch cũng thấy trong cộng đồng Thai / Lao, Dai (Tai), Lahu, Miao, Zhuang (Tráng / Choang). Trong khi tiết nguyên đán đơn thuần là ngày đầu năm của âm lịch nhà Hạ và Tây Hán, tức ngày mồng 1 tháng chính (zhèngyué 正月), tức mồng 1 tháng Giêng hay tháng Dần theo lịch nhà Hạ và Tây Hán, xem [19].
Bánh Ít & Bánh Ít Trần
Nếu tra Google, sẽ thấy bánh ít có thể viết như bánh ích, và từ đó có người cho là nên viết bánh ích bởi chữ ích có chữ viết 益 [ích][yì], mang nghĩa chính là giúp (giúp ích), có hình dáng giống bánh ích. Nhưng cả 3 tự điển của Taberd [2], Huình Tịnh Của [24] và Lê Ngọc Trụ [14] đều viết là bánh ít, và lối đánh vần ít thật ra là lối đánh vần dựa vào kiểu ráp vần Taberd, nhấn mạnh vào chuyện quy ước chọn 1 trong 2, giữa ích và ít. Bởi thật sự vào thời chưa có chữ quốc ngữ kiểu Taberd (1838), không ai biết người xưa phát âm bánh ít gần với bánh ít hay gần với bánh ích. Bởi nghĩa cơ bản của âm [ít] hay [ích] trong bánh ít chính yếu vào thời hồng bàng của ngôn ngữ, vào thuở từ vựng còn hiếm hoi, đều là nghĩa tương ứng với mặt trời, ông Trời, bầu trời, chân trời, ứng với âm [ất] (Nó không biết ất giáp gì cả), cũng mang nghĩa số 1 hay hướng Đông, hướng mặt trời mọc mỗi ngày.
Bởi âm [ất] thường là âm chỉ số 1, hoặc rất nhiều khi, ứng với mặt trời, hay hướng Đông. Âm [ất] liên hệ đến rất nhiều âm chỉ số một (1), như [ất] hay [ết] trong tiếng Tày, hoặc như [ita], [iti], [ichi], [age], [ik], [iək], [it], [jɐt], [ak-tai], [ak-po], [ekha], [a-k’a], [å], v.v. thuộc nhiều thứ tiếng khác nhau trong khu vực [25]. Âm gần [ất] dùng để chỉ mặt trời là [aa-tit] tiếng Thai, tiếng Lào, hay [aad] trong [aadityaa] tiếng Sanskrit, mang nghĩa mặt trời, hay ngữ âm [is], rất giống East (Đông), trong tiếng Aslian ở khu vực Malay, mang nghĩa ban ngày. Âm gần [ất] cũng rất gần [it] hay [ich] tiếng Việt trong bánh ít. Như đã đề cập ở trên, hình bốn góc của bánh ú có 4 góc biểu tượng cho 4 chân của vòm trời, giống y như bánh ít, gói lá chuối có hình 4 góc.
Bánh ít thường có 2 thứ, nhân mặn và nhân ngọt, nhưng bánh ít trần thường chỉ có 1 thứ, có dạng hình cầu chứ không phải 4 góc như bánh ít. Hình cầu cũng là hình giống y như mặt trời. Bánh ít trần khác với bánh ít là không có bọc bằng lá chuối khi làm bánh, và đó có thể là (một) ý nghĩa của trần trong bánh ít trần. Chữ trần nầy thoạt nhìn có vẻ như một từ thuần Nôm, nhưng thật ra có liên hệ âm và nghĩa với chữ 裎 [chéng][chěng] (ở trần), có âm [trình] gần âm Quảng Đông [cing], và âm [trần] gần âm Ôn Châu [dzəŋ] hay âm Nam Kinh [chen], kiểu âm [trần] (Nhà Trần) gần âm quan thoại [chen] [zhen] (陳).
Âm [trần] tiếng Việt, với nghĩa như ở trần (không mặc áo), cũng có liên hệ với ngữ âm [trɑŋə] tiếng Khmer, có nghĩa như trần (bare), giống như thân cây trụi lá [6].
Trần trong bánh ít trần có âm [trần] có nghĩa hừng sáng, daybreak, 晨 [chen], với [ít] hay [ích] là mặt trời, cho ra bánh ít trần là bánh có hình giống như mặt trời vào lúc hừng sáng.
(Xin xem tiếp Phần III)
THAM KHẢO
- Alexandre de Rhodes (1651) Dictionarium Annamiticum – Lusitanum – Latinum. Hiệu đính: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính. Tái bản: Viện Khoa Học Xã Hội – HCM 1991.
- P.J. Pigneaux & A J. L. Taberd (Editor) (1838) Dictionarium Anamitico-Latinum. Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học – Nhà Xuất Bản Văn Học tái bản (2004). Bản Điện Tử: The Vietnamese Nôm Preservation Foundation: http://nomfoundation.org/nom-tools/Taberd-Dictionary?uiLang=vn
- 漢語方言發音字典 (Chinese Dialectal Pronunciation Dictionary):
https://zh.voicedic.com/ - André-Georges Haudricourt. The origin of the peculiarities of the Vietnamese alphabet. Mon-Khmer Studies, 2010, 39, pp.89-104. halshs-00918824v2
https://shs.hal.science/halshs-00918824v2/document - CantoDict Project: Cantonese-Mandarin-English Dictionary: http://www.cantonese.sheik.co.uk/scripts/wordsearch.php?level=0
- SEAlang Library Khmer (2007): http://sealang.net/khmer/dictionary.htm
- Thai Dictionary and Online Tools: http://www.thai-language.com/dict/search
- SEAlang Library Mon (2009): http://sealang.net/mon/dictionary.htm
- RomajiDesu English Japanese Dictionary and Translator: romajidesu.com
- SEAlang Mon-Khmer Languages Project: http://sealang.net/monkhmer/dictionary/
- Nguyễn Văn Ưu (2022) Thử tìm nghĩa gốc của vài từ ngữ quen thuộc. Firmament, Volume 14, No 4, January 2022, pp 64-74
https://vietnampoetry.wordpress.com/firmament/ - Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hanh (2002) Từ Điển Mường-Việt. Nxb Văn Hóa Dân Tộc (Hà Nội)
- Nguyễn Văn Ưu (2025) Từ Nguyên Học Phi Biên Giới. Firmament (Thế Hữu Văn Đàn), Volume 18, No 1, April 2025
- Lê Ngọc Trụ (1959) Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị. Nxb Thanh Tân (Sài Gòn), 562pp
- Trần Văn Giáp (Lê Văn Đặng thực hiện) (2002) Lược khảo vấn đề Chữ Nôm. Ngày Nay Publishing 2002. 238pp
- An Nam Dịch Ngữ: Vương Lộc giới thiệu và chú giải (1995). Nxb Đà Nẵng & Trung Tâm Từ Điển Học (Hà Nội).
- Vietnamese Nôm Preservation Foundation – Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải: http://nomfoundation.org/nom-tools/Nom-Lookup-Tool/Nom-Lookup- Tool?uiLang=en
- John A. Halloran: Sumerian Lexicon (Version 3.0): http://www.sumerian.org/sumerian.pdf
- Nguyễn Văn Ưu (2023) Tết Ta và Tiết Nguyên Đán. Firmament, Vol.15, No. 4, January 2023, pp 163-182
- Nguyên Nguyên (2024) Thử Đọc Lại Kim Dung (2): Nguồn Việt và Kim Dung:
https://www.dropbox.com/scl/fi/qewg9yakdsysfjhuw6723/Th-c-l-i-Kim-Dung-
II.pdf?rlkey=1f1atc1g9anlbi6ezwgomm4dz&e=1&st=rljhf1s4&dl=0 - G. Moussay (Po Dharma hiệu đính) (1999) Dictionnaire Cham-Viet-Français Etude du Campa-Centre EFEO, Kuala Lumpur, 1999.
- Anonymous (1920-24) Les Origines de la Langue Annamite (Variétés Tonkinoises – Bắc Kỳ Tạp Lục). Hanoi-Haiphong Imprimerie D’Extrême-Orient:
https://revues.vietnamica.online/livres/anonyme-les-origines-de-la-langue-annamite-premier-fascicule-4-editions/ - Nguyễn Văn Ưu (2024) Âm Lịch và Ngôn Ngữ Ngày Trước. Firmament (Thế Hữu Văn Đàn), Volume 17, No. 2, July 2024, pp 203-220 // Volume 17, Issue 3, October 2024, pp 235-249: https://vietnampoetry.wordpress.com/firmament/
- Huình Tịnh Paulus Của (1895) Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Imprimerie Rey, Curiol & Cie. Tái bản: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1998.
- Mark Rosenfelder (Compiled by): Numbers from 1 to 10 in over 5000 languages
https://www.zompist.com/numbers.shtml - SEAlang Library Lao (2007): http://sealang.net/lao/dictionary.htm