Có Thực Mới Vực Được Đạo – PHẦN III: Tiền Đề và Tiền Thuyết Về Ngôn Ngữ
Nguyên Nguyên
Bài nầy nhắm vào việc đưa ra một số vấn đề liên quan đến lí thuyết về ngôn ngữ dùng để hỗ trợ những lí giải và luận cứ cho việc truy tầm từ nguyên cho tên gọi các món ăn trình bày trong Phần II.
Tiền Đề và Mô Hình Ngôn Ngữ Cây và Đất
Thử quan sát thêm những căn bản lí thuyết dùng để hỗ trợ truy tầm từ nguyên gốc, dính liền với ngữ nghĩa nguyên thủy cho tên gọi các món ẩm thực trình bày ở trên.
Phát triển ngôn ngữ được xem như dính liền với phát triển của văn minh, và văn minh ở đây được hiểu nôm na là những tính chất tạo nên, cũng như tạo bởi, lối sống ở thành thị, tức văn minh mang một gạch nối không thể thiếu với thành thị. Nhưng cũng cần nhấn mạnh là không có đời sống văn minh, cũng vẫn có ngôn ngữ, và ngôn ngữ có khả năng phát triển từ dạng ngôn ngữ phi ngôn ngữ, vào lúc sơ khai. Trong dạng thức sơ khai, rất khó phân biệt ngôn ngữ với hành xử cơ bản cần cho sinh tồn. Ngôn ngữ phi ngôn ngữ theo suy nghĩ kiểu khả thi (possibility), như trình bày ở đây, là một chuyện ắt có và đủ, bởi so với nhiều sinh vật khác trên quả đất, loài người cần thời gian tập sự, và học hỏi để sinh tồn dài và lâu hơn đa phần những sinh vật khác. Có nghĩa là nếu không có thứ ngôn ngữ phi ngôn ngữ, loài người không thể tồn tại, bởi chuyện tập sự sinh sống, kéo dài trên dưới 10 năm từ lúc ra đời, luôn đòi hỏi truyền chuyển kiến thức, mà chuyện nầy luôn cần ngôn ngữ, dù là một thứ ngôn ngữ phi ngôn ngữ. Như vậy, trong hằng nghìn năm, ngôn ngữ phải phát triển từ từ, cái sau biến đổi và tiến lên từ cái trước, hỗ tương với nhau, bằng những ngôn ngữ khác nhau, từ những khu vực sinh hữu khác nhau. Như kiểu chữ đường (sugar) được sáng tác sau, và dựa vào chữ muối, trong tiếng Chăm. Ở trong dạng sơ khai và bán khai, ngôn ngữ chưa biết hay không cần biết đến văn minh (hiểu theo nghĩa đời sống thành thị và có một tổ chức trung ương), bởi ngôn ngữ mang liên kết chặt chẽ và cơ bản với sinh hữu, chứ không phải văn minh.
Chính yếu của liên kết giữa ngôn ngữ với văn minh là ở phát triển của hai thứ, và hỗ tương nhau, chứ không phải ngôn ngữ trong sắp xếp “cấp bậc” cần phải dùng văn minh làm tiêu chuẩn. Quan điểm nầy lập tức sẽ tương phản với những phán ngôn hay khẳng ngôn (assertion) mang tính song thể (dualist / binary) theo kiểu ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ thực thụ phải như thế nầy, thế nầy. Cũng có thể thấy, quan điểm định đặt tiêu chuẩn về ngôn ngữ (phải như thế nầy, thế nầy), có thể bắt nguồn từ, hay đồng thuận với, nguyên lí một dân tộc một ngôn ngữ, và có khả năng đưa đến việc cố gắng đồng nhất hóa (homogenize) hoặc đặt ra qui ước trên các tính chất căn bản của ngôn ngữ với những thứ thuộc, hay đã được chuẩn nhận từ, những ngôn ngữ đã phát triển, xưa cũng như nay. Nói ngắn gọn, tính cách đặt ra tiêu chuẩn để định nghĩa ngôn ngữ chỉ có mãi về sau này, chứ không phải trong hằng nghìn năm từ khi có ngôn ngữ và có loài người.
Khác nhau giữa hai thứ tiếng Việt, một, trước thế kỉ 19, và hai, trong suốt thế kỉ 20, sau ra đời của chữ quốc ngữ, có thể thấy rõ qua nhiều kiểu viết và phát âm chữ Nôm và Hán khác nhau, cho cùng một ngữ từ, của một giới ê-lít rất nhỏ rành rọt về ngôn ngữ vào thời trước thế kỉ 19, so với khuynh hướng “độc thể” (monism), mang nhiều tính quy ước, tiến về một kiểu chữ viết và ráp vần quốc ngữ, cho một ngữ từ, diễn biến liên tục trong suốt thế kỉ 20. Khuynh hướng ngôn ngữ của thế kỉ 20, thật ra có thể xem như nằm trọn trong, hay hướng về, mục đích của việc kiến tạo cá tính dân tộc hay cá tính quốc gia (identity), cần thiết cho nền độc lập hay quyền dân tộc tự quyết. Trong quy trình nầy, những đặc tính cơ bản của ngôn ngữ liên hệ đến sinh hữu dần dà và vô hình chung được che lấp bởi những đặc tính dùng để hỗ trợ cho việc kiến tạo cá tính dân tộc (national identity).
Để ý, khác với ngôn ngữ toán học, identity tức cá tính của một đơn thể hay một tập thể trong tương ý (context) xã hội và văn hóa, luôn luôn thay đổi, thí dụ như dân tộc Mỹ, so với cá tính của một đại lượng trong toán học. Đại lượng trong toán học hay khoa học nói chung rất thường giữ nguyên cá tính, tức mang tính đơn thể, trong khi trị giá của đại lượng, hay cá tính, có thể biến đổi, thí dụ như trị giá của đồng US dollar có thể thay đổi, trong khi cá tính của đồng dollar không bao giờ thay đổi. Chuyện nầy cho thấy một dân tộc một ngôn ngữ không phải đơn thuần là một nguyên lí hay một tiền đề, mà cũng có thể xem như mục đích tối hậu của phát triển ngôn ngữ trong những thế kỉ gần đây. Khác nhau giữa tiếng Việt trước thế kỉ 19 và tiếng Việt ở cuối thế kỉ 20, dễ được lướt qua hay che lấp bằng nguyên lí của một dân tộc một ngôn ngữ.
Những thứ nầy có thể được xem chung như tiền đề của luận thuyết về khoa học, đưa đến ảnh hưởng sâu đậm cho mọi bước của quy trình khoa học dẫn đến kết quả khoa học, nói ngắn gọn hoặc có thể hiểu kết quả khoa học như một tin liệu về hiện thể và cấu trúc hiện thể đáng tin cậy nhất.
Một thí dụ về ảnh hưởng của tiền đề trong kiến thức về ngôn ngữ là giả thuyết về từ vay mượn (lexical borrowing hypothesis). Giả thuyết nầy từ lâu được xử dụng như một công thức đơn giản, trình bày hoặc cho ra giải đáp là từ vay mượn (loanwords), chứ không thuần túy, theo tên gọi, như một giả thuyết lúc nào cũng cần chứng minh gay go, thấu đáo (exhaustive). Có nghĩa giả thuyết và kết luận hay kết quả thường nhập lại làm một. Có thể thấy, giả thuyết về từ vay mượn là một hệ luận trực tiếp của tiền đề, tức nguyên lí một dân tộc một ngôn ngữ, và từ đó có thể thấy từ vay mượn chịu giới hạn hoặc dựa vào đặc tính của tiếng dân tộc, xem như một tiền đề. Có nghĩa nếu không có tiếng dân tộc, bao gồm tiếng lingua franca và các phương ngữ, thì sẽ không có chuyện từ vay mượn.
Cũng có nghĩa, ngôn ngữ về từ vay mượn thường cho là từ của tiếng nước nầy hay tiếng của dân nước nầy, vay mượn từ tiếng của dân nước kia, thường lân cận hay cùng trong một khu vực địa lí, và nhất là trong cùng một nhóm ngôn ngữ với nhau. Hoặc từ vay mượn là từ của phương ngữ, vay mượn từ từ vựng của một lingua franca, tức tiếng quốc ngữ, chứ rất ít khi theo chiều ngược lại. Và như vậy sẽ không có chuyện từ vay mượn, được vay mượn từ một thứ tiếng nào đó chưa tiến tới hình thái của quốc ngữ, tức lingua franca. Bởi trên thực tế, các thứ tiếng chưa tiến đến dạng lingua franca thường rất lộn xộn và không đi đôi với một hệ thống chữ viết soạn theo một số quy ước. Nhưng chuyện nầy hoàn toàn không có nghĩa là những tiếng chưa tiến tới lingua franca không có những từ vựng cần thiết cho sinh hữu, và những từ vựng nầy về sau có thể được thay thế bằng từ vựng từ những nơi văn minh hơn, hay cho những nơi khác vay mượn. Tóm tắt, ý niệm về từ vay mượn thường dùng trong bối cảnh là vay mượn từ tiếng nước nầy, tiếng dân tộc nầy, cho tiếng nước nọ, cho tiếng của phương ngữ kia.
Từ vay mượn trong áp dụng, thường nằm trong mô hình ngôn ngữ của cây và cành. Giả thuyết về từ vay mượn (lexical borrowing hypothesis) có thể xem như dính liền với việc phân xếp các nhóm ngôn ngữ khác nhau, và xuyên qua ranh giới giữa các ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ. Có nghĩa, ngôn ngữ được sắp xếp theo thứ tự của trình độ văn minh, tương phản với ý nghĩa của ngôn ngữ, trên cơ bản, và như trình bày ở đây, dính liền với sinh hữu hoặc sinh tồn.
Thí dụ như từ hắn (nó), rất ít khi nghe nói là chữ vay mượn từ han tiếng Đan Mạch (Danish), Thụy Điển (Swedish). Hoặc ngữ âm [va] tiếng Ba Tư (Persia), tức Iran ngày nay, có nghĩa và âm giống y như và tiếng Việt mang nghĩa của and tiếng Anh. Chữ và tiếng Việt và ngữ âm [va] tiếng Ba Tư cũng gần ngữ âm [gwa] 과 tiếng Korean, tất cả cùng mang nghĩa như và tiếng Việt. Nhớ là chữ và chỉ xuất hiện từ thời tự điển Taberd [1] chứ trước đó [2], chữ nầy được viết như uà. Hoặc chữ Y tiếng Việt mang nghĩa đại từ ngôi thứ 3 có âm giống ngữ âm [i] (伊) (nó) trong các tiếng Triều Châu, Phúc Kiến, Ngô Việt, hoặc he tiếng Anh hay Il (nó) tiếng Pháp, hay âm [i] tiếng Pirahã (ở khu Amazon, Ba Tây), cũng có nghĩa như nó (giống cái). Hoặc giống nhau trong ngữ âm giữa to look (nhìn) tiếng Anh với睩 [luk] phát âm tiếng Quảng mang nghĩa trợn mắt (nhìn). Hay từ chỉ số 2, dva tiếng Nga có âm rất gần dwa (2) tiếng Chăm. Hay chữ nể (nể nang) tiếng Việt có âm giống [ne] tiếng Sumer [3] có nghĩa như nể trọng, respect.
Giả thuyết từ vay mượn cũng có vẻ khó áp dụng để giải thích giống nhau về ngữ âm giữa từ vựng của nhiều thứ tiếng khác nhau cho ngữ nghĩa to cut hay couper hoặc cắt, như trình bày trong Bảng Đối Chiếu ở dưới.
Để ý tính chất của từ vay mượn (loan word) có lẽ dính liền với hai tính chất khác của mô pháp. Thứ nhất, từ vay mượn thường nằm trong cùng một nhóm ngôn ngữ, và thứ hai, từ vựng thông thường mang tính chất trơ, phát xuất từ định để tức arbitrary, chứ không phải hữu cơ, hoặc ví phỏng như kiểu liên hệ giữa máu và màu đỏ (xem phía dưới), hoặc Bắc (hướng Bắc) với back tiếng Anh mang nghĩa cái lưng, xem [4]. Gạch nối giữa chữ và tiếng Việt với va tiếng Persia (Ba Tư) tức Farsi theo lối gọi ngày nay, hoặc giữa số 2 [dva] tiếng Nga, với [dwa] tiếng Chăm, và nhiều giống nhau giữa từ vựng hay cú pháp của những tiếng cách xa về địa lí và lịch sử, nếu dùng giả thuyết về từ vay mượn, có thể xem đó là ngoại lệ hay trùng hợp.
Bảng Đối Chiếu: Cut & Cắt trong 21 tiếng
GHI CHÚ: 1: Africa; 2: Nepal; 3. Tatarstan/Siberia; 4. South America; 5. Hán Việt: cát
Nhớ là khía cạnh liên hệ lịch sử hoặc giao tiếp lịch sử thường được dùng như chứng liệu hay tiền đề cơ bản của từ vay mượn. Giao tiếp lịch sử thường xử dụng là lịch sử giao tác về chính trị hay chiến tranh, có ghi trong trong sách vở hay thư tịch xưa cũ. Có thể ghi nhận, một số lịch sử, khi được cập nhật, thí dụ [5], có thể cho thấy, khác xa với lịch sử như đã ghi chép trong sách vở xưa cũ. Lịch sử có trong sách vở xưa cũ cũng có thể không giống với thứ lịch sử phi lịch sử, tức thứ lịch sử ít được hoặc không có ghi lại vào ngày trước, nhưng không phài là không có.
Thứ lịch sử nầy thường dính líu đến giao tác thương mại hay văn hóa (rất có khả năng, luôn luôn đi kèm với ngôn ngữ) trong chốn dân gian ít khi dính dáng đến quan quyền hay những người chép sử thời xưa. Thứ lịch sử bất thành văn nầy thường liên hệ dính dáng đến chuyện dời cư, chạy giặc, chạy xa khí hậu khắc nghiệt, trốn chạy khỏi môi trường khó sinh sống, chạy trốn nạn đói, nói chung là trốn khỏi nơi sinh sống thiếu an ninh, thiếu thực phẩm. Những thứ lịch sử nầy, nói đúng hơn: những biến cố hay thay đổi xã hội trong quá khứ, thông thường không dễ ghi lại bằng thư tịch hay sách vở, nhất là đối với những khu vực không dùng nhiều chữ viết, hoặc chữ viết chỉ được xử dụng trong giới ê-lít nhỏ hẹp. Thêm một lí do nữa là thứ lịch sử dời cư nầy, thường không phải là công việc của sử gia, mà cần phải do chính người dời cư biên soạn, và đó là một việc bất khả thi, vào thời xa xưa.Chuyện dời cư, thường không có ghi chép trong sử sách, thật ra mang nhiều tính chất làm thay đổi ngôn ngữ của cả nơi đến và nơi đi. Những thay đổi ngôn ngữa do ở giao tác giữa tiếng bản địa với nhiều thứ tiếng khác, không đồng thuận với mô hình thường dùng là mô hình cây và cành. Bởi giao tác kiểu nầy mang nhiều tính chất của Pidgin-Creole [4][6], với đặc tính cơ bản là tiếng bản địa luôn luôn đồng hóa với tiếng du nhập rất nhanh, tức trong vòng 1-2 thế hệ [7].
Chuyện nầy, và ngay cả liên hệ giữa ngôn ngữ và chủng thể DNA, sẽ không thành vấn đề trong mô hình ngôn ngữ cây và đất. Mô hình cây và đất khác với mô hình cây và cành, cả hai được tóm tắt bằng sơ đồ của Hình 2. Mô hình cây và cành (Hình 2(1)) là mô hình chính yếu dùng trong ngữ học và khoa học nhân văn, kể cả ngành Hán Nôm, từ xưa đến nay. Mô hình nầy phù hợp và đồng thuận với nguyên lí một dân tộc một ngôn ngữ. Trong mô hình nầy, tiếng một dân tộc thường xem như một cành hay nhánh của toàn cây, hay thân cây, và toàn thể cây là đại biểu cho một nhóm ngôn ngữ, Cũng có thể xem nhánh cây như đại diện cho phương ngữ, và cây đại biểu cho tiếng cả nước, hiểu như cây tiêu biểu cho tiếng quốc ngữ hay lingua franca.
Có thể để ý, mô hình ngôn ngữ cây và cành luôn bao hàm ý nghĩa về hiện hữu của một thứ tiếng gốc, nảy sinh ra nhiều thứ tiếng khác trong cùng một họ ngôn ngữ, rất giống câu chuyện về Tháp Babel, nói về một ngôn ngữ chung vào lúc ban sơ[8]. Khó khăn chính của mô hình cây và cành, do đó, là vấn đề truy ra gốc rễ của ngôn ngữ, tức thứ tiếng nào, hoặc tiếng ở đâu là tiếng sinh ra hay bắt đầu cho các thứ tiếng khác thuộc cùng nhóm ngôn ngữ, tức đứng ở vị trí của rễ cây. Hệ luận quan trọng của mô hình cây và cành là hai nhóm ngôn ngữ cách xa nhau về địa lí gần như không có giao tác với nhau, nhất là giao tác giữa ngôn ngữ thuộc nhóm nầy với một hay nhiều ngôn ngữ thuộc nhóm kia. Thí dụ như giữa chữ Han tiếng Danish với chữ Hắn (nó) tiếng Việt, hay giữa ngữ âm [va] tiếng Ba Tư (Persian) và chữ và tiếng Việt, hoặc giữa âm [mu] tiếng Sumer ở Trung Đông (khoảng 5000 TCN) [3] và chữ Mụ tiếng Việt, hay giữa âm [U] tiếng Sumer và cũng âm [u] tiếng A-Kha ở Lào, cùng chỉ mặt trời. Hoặc giống nhau giữa âm [ḥamida] tiếng Á rập (ca ngợi, cám ơn) và gamsahamnida (감사합니다)tiếng Korean mang nghĩa trân trọng cảm tạ. Hoặc giống nhau của động từ là (to be) tiếng Việt với ngữ âm [la] tiếng Thượng Hải, thuộc nhóm ngữ Ngô (Wu 吳) ở Chiết Giang, Giang Tô, cũng mang nghĩa như to be, kí âm bằng chữ Hán 拉 [la] có phát âm [la], gần như là tiếng Việt, trong tiếng Thượng Hải và nhiều phương ngữ khác. Hoặc như giống nhau giữa âm cut tiếng Anh và cắt tiếng Việt, hay [kat] tiếng Telugu hoặc [kaattana] tiếng Hindi, v.v., như trong Bảng Đối Chiếu từ cắt trong 21 thứ tiếng, trình bày ở trên.
Mô hình cây và đất trình bày trong Hình 2(2) cho thấy hai ngôn ngữ số 1 và số 2 có chung đóng góp của các thứ tiếng a, b, c, d, trong khi ngôn ngữ số 2 có thêm đóng góp của tiếng e. Những thứ tiếng đóng góp nầy (a b c d e) có thể ứng với vị trí địa lí lân cận nhau, và cũng có thể cách xa nhau về lịch sử và địa lí, như kiểu và tiếng Việt và ngữ âm [va] tiếng Persia, cùng nghĩa như and tiếng Anh, hay et tiếng Pháp. Những đóng góp ngôn ngữ nầy giống như các chất bổ dưỡng từ đất nhập vào rễ cây và nuôi cây cho lớn mạnh thành tiếng địa phương, hay thành tiếng dân tộc, mãi về sau, và có khi, sau hình thành của dân tộc và quốc gia. Hai thứ ngôn ngữ 1 và 2, thường là láng giềng, có thể chia sẻ nhau nhiều phương ngữ hay “du nhập ngữ” giống nhau, nhưng có thể có dung lượng khác nhau, hoặc hoàn cảnh địa lý và thời đại khác nhau, và do đó đưa đến 2 ngôn ngữ, 1 và 2, khác nhau những mặt nầy, nhưng cũng giống nhau những mặt khác.Cũng giống như khi phân chất hai món ăn khác nhau, như lạp xưởng ở Trung Hoa và salami ở Nam Âu Châu, hoặc giữa bánh mì thịt và một ổ bánh Subway, ra thành những chất như: chất đạm, chất mỡ, muối, carbo, v.v., thì sẽ thấy hai món ăn nầy tuy khác nhau, nhưng vẫn có thể có nhiều thành phần của phân chất giống nhau. Những thành phần đóng góp ngôn ngữ a, b, c, d, e, có thể là từ những thứ tiếng ở trong vùng, và cũng có thể từ những thứ tiếng ngày nay xem như xa xôi về lịch sử hay địa lí, như những chữ và, y, hắn, mụ, nể, v.v. trong tiếng Việt trình bày ở đây.
Thuyết cây và đất thật ra không có tương phản nhiều với thuyết dựa trên mô hình cây và cành. Tuy vậy cây và đất không dính sát với sơ đồ về quyền lực hay quản lý hành chánh và ngay cả thuyết di truyền của Darwin. Tức so với cây và cành, mô hình cây và đất tách khỏi được liên hệ giữa giên di truyền hay DNA với ngôn ngữ. Cây và đất có thể gạt bỏ được ranh giới nhân tạo theo qui ước của ngôn ngữ, dựa vào ranh giới tạo nên bởi lịch sử và địa lý. Mô hình cây và đất cũng có vẻ không bị ảnh hưởng của những hệ luận chung quanh đối tượng quan trọng của ngữ học là tiếng mẹ đẻ, so với đối tượng ngôn ngữ thời nay là bao gồm tiếng nơi sinh hay tiếng nơi sinh trưởng, hoặc môi trường sinh sống, diễn tiến trong vòng gần 80 năm trở lại đây do ở chuyện di cư di tản và chuyện xin nhận nơi đây làm quê hương. Nói chung, mô hình cây và đất cố gắng tránh khỏi ảnh hưởng của các tiền đề nằm ẩn tàng trong các lý thuyết về ngôn ngữ, và mang nhiều tính non-dualism (phi song thể) hơn là tính dualism (song thể) cố hữu của mô hình cây và cành.
Thử xem thí dụ về ngữ âm [ka] dùng để dẫn giải cho mô hình cây và đất (Hình 2(2)). Câu hỏi tiếng Nhật viết theo romaji: Nan desu ka? (Cái gì đó?) có [ka] rất giống với tiếng Việt [cà]: Sao vậy cà? Hoặc [kah] trong tiếng Mã-Lai: Awak ada rumahkah? (Anh có nhà hay không?). Tức có thể xem âm [ka] như chất bồi dưỡng chạy từ lòng đất vào rễ các cây biểu hiệu cho ngôn ngữ Nhật, Việt và Mã Lai, cách xa nhau, và không liên hệ nhau về mặt chủng tộc, hay tương cận nhau về địa lí hay lịch sử. Thêm vào đó, câu hỏi “Anh đang ở đâu?” dịch sang tiếng Trung là 你在何处 [Ni zai he chu?] (Nhĩ tại hà xứ?), phát âm theo tiếng Ôn Châu (địa bàn của Đông Âu hay Âu Việt vào thời nhà Hán (206 TCN-9 SCN // 25 SCN-220 SCN)), là [ngei zei gha tsʻɿ], giống và tương đương với âm Việt [người tại ‘ka’ xứ?], với âm cú từ hà (何) dùng cho câu hỏi, tương ứng với âm [gha] tiếng Ôn Châu, cũng rất gần âm [ka]. Âm [ka] trong những câu hỏi trong cả 4 thứ tiếng xa nhau trong lịch sử và địa lí, lại có thể được liên kết với chữ tượng hình [KA], giống như hai cánh tay giơ lên , trong chữ Ai Cập cổ [10] tiêu biểu cho linh hồn, tức phần kia hay phần thứ hai của con người, tức số 2 hay số thứ 2. Ngữ âm [KA] biểu diễn cho số 2 có thể xem như mang ý nghĩa của thể nghi vấn so với thể xác định là thể số 1, xem [8]. Mô hình cây và đất có thể xem như mang thêm tính chất hữu cơ, tức mang chất sinh sống, hay ít lắm phản ánh được lịch sử giao tiếp ngôn ngữ, thông thường không được ghi nhận trong sách vở về sử ký hay địa lí.
Một thí dụ khác là gạch nối giữa chữ và tiếng Việt và ngữ âm [va] tiếng Ba Tư, hay chữ chỉ số 2 tiếng Nga dva với âm [dwa] tiếng Chăm cũng chỉ số 2. Lí giải cho gạch nối nầy, theo mô hình cây và đất, sẽ dựa vào nguyên tắc của ví phỏng, cho nghĩa bên trong của tiếp từ và chính là số 2, và số 2 có nghĩa ví phỏng của tên gọi chung của vị thần thánh ở ngôi vị thứ 2 là Deva hay Diva, trong nhiều thứ tiếng, ở thời huyền sử. Âm [Deva] chỉ vị thần đứng ngôi thứ 2, theo lí thuyết ở đây sẽ cho ra âm [dva] tiếng Nga, hay [dwa] tiếng Chăm, dùng chỉ số 2.
Trở lại nguyên lí một dân tộc một ngôn ngữ. Bởi là một nguyên lí, nên một dân tộc một ngôn ngữ, thường được chấp nhận như chân lí, và như vậy, rất thường không cần đến chứng minh. Hoặc nếu có, vẫn thường được giới hạn trong bối cảnh của nhóm ngôn ngữ (mô hình cây và cành) hay lân cận địa lí, hoặc có giao tiếp trong quá trình lịch sử, tức lịch sử có ghi trong sách vở. Nguyên lí một dân tộc một ngôn ngữ nầy thường đi đôi với một hai nguyên lí khác, thường dùng như những nguyên lí nền, hay ít lắm là nguyên lí thoái bộ (fallback). Đáng kể nhất là nguyên lí thoái bộ liên hệ đến từ vựng thường được gán ghép vào một thứ nghĩa trơ (inert), tức A là A, thường xuyên phản ánh trong ngôn ngữ toán học. Nghĩa trơ (A là A) thật ra là một tính cơ bản của ngôn ngữ, nhất là trong tiếng nói. Đối với ngôn ngữ có chữ viết, tính trơ của từ vựng sẽ trở nên cần thiết cho thao tác (operation) của văn phạm và cú pháp, và của ngôn ngữ nói chung. Thí dụ về tính trơ của từ vựng có thể kể, như trong tiếng Korean (Hàn), chữ sojang viết theo a-b-c, của tiếng Hàn, vừa mang nghĩa thiếu tướng (major general, air vice marshall) vừa mang nghĩa ruột non, vừa mang nghĩa sở trường, v.v.. Âm [sojang] ứng với chữ 소장 theo kiểu viết tiếng Hàn (Hangul), và chữ nầy sẽ ứng với nhiều từ khác nhau trong Hán tự (Hanja), như 少将 [thiếu tướng], hay 小肠 [tiểu trường] (ruột non), hoặc 所長 [sở trường], và tất cả đều đọc theo tiếng Hàn kí âm bằng a-b-c là [sojang]. Âm [sojang] như vậy sẽ có nghĩa gốc phân giải rõ ràng hơn, khi chuyển ngữ sang Hán tự, khác với nghĩa trơ, A là A, dựa vào ngữ âm chung [sojang]. Nghĩa trơ trong trường hợp sojang thường gọi đồng âm dị nghĩa (homophone).
Nguyên lí một dân tộc một ngôn ngữ thường cho cấu trúc về ngôn ngữ được xếp đặt vào nhóm ngôn ngữ, tức mang tính cơ bản của mô hình cây và cành. Nghiên cứu về từ nguyên do đó thường nằm trong giới hạn tức ranh giới địa lí của nhóm ngôn ngữ, và ranh giới nầy, cộng với những nguyên lí nền, đôi khi có thể che khuất việc truy tầm ý nghĩa gốc hay ban sơ của từ vựng. Lấy một thí dụ đã diễn giải nhiều lần trong loạt bài, là chữ dù hay ô dùng để chỉ umbrella tức đồ vật che mưa, gọi theo tiếng Quảng là 遮 [ze] tức che, hay Triều Châu 雨遮 [ô gia], tức vũ già, với âm [che] gần âm Quảng [ze], và Hán Việt [già] gần âm Tiều [zia]. Để ý tiếng Mường dùng chữ dả để chỉ dù / ô, và [dả] chính là tương âm của [già] tiếng Việt hay [zia] tiếng Tiều, ứng với 遮 [già] tức che (yuzhe 雨遮: che mưa), chứ không phải giống như, hoặc có nghĩa tương ứng với dù hay ô. Chữ dù hay ô trong tiếng Việt rất khó gọi là từ vay mượn từ, hoặc có từ nguyên là, chữ yusan (雨傘), hay yuzhe (雨遮), với [san] 傘 hay [zhe] 遮, mang nghĩa vật che, và [yu] 雨 mang nghĩa mưa, “chính thức” đọc là vũ, và đọc theo tiếng Việt “bình dân” hay dã ngữ (vernacular) là ô hay dù, với ngữ nghĩa “đồ che mưa”, với âm [ô] 雨 gần với âm Phúc Kiến / Triều Châu [u] hay [hO], mang nghĩa mưa, trong khi dù / yù hay yũ gần âm Quảng [jyu], âm Thương Hải, Nam Kinh, Bắc Kinh [yu], và âm [vũ] 雨 (mưa) gầm âm Ôn Châu hay Korean [wu], hoặc âm một hai thổ ngữ tiếng Hẹ [vu].
Để ý phân tích từ nguyên của dù / ô phải qua vài ba đường hướng khác nhau. Thứ nhất, không chú trọng đến nghĩa trơ theo kiểu chuyển ngữ dù / ô tương đương với vật che mưa, parapluie tiếng Pháp và umbrella tiếng Anh (bắt nguồn từ ý nghĩa che bóng, tức umbra (bóng)), hay 雨遮 [jyu ze]/[yũ che] tiếng Quảng, che mưa. Thứ hai, không để ý đến phân biệt Hán Việt với thuần Việt, bởi phân biệt nầy chỉ cho biết từ Hán Việt tương ứng với âm [yu] Quan thoại hoặc âm [wu] Ôn Châu, hay [yũ] tiếng Quảng cho chữ 雨 (mưa), là vũ và chỉ [vũ] mà thôi. Tức phân biệt nầy không thể cho biết dù hay ô tương ứng với vũ. Thứ ba, không để ý đến chuyện tiếng Việt và tiếng Hoa có cùng nằm trong một nhóm ngôn ngữ hay không. Thứ tư, những cách phát âm khác nhau dù, vũ, yũ, yù, ô, hô xem như ứng với ngữ từ 雨 [yu] là kết quả của lối xem xét ăn khớp và đa chiều.
Nói thêm chi tiết, dù ứng với ô, tương đương với [yu] ứng với [o], cả hai âm nầy đều ứng với âm của 雨 [yu] trong 雨遮 [yuzhe] (Quảng Đông) hay [o jia] Triều Châu, mang nghĩa mưa che, tức che mưa, tức dù hay ô. Trong khi, xin nhắc lại, tiếng Mường gọi dù / ô là dả ứng với âm Việt [già] hay âm Tiều [jia], tức [che] (遮) trong (đồ) che mưa (yuzhe 雨遮).Phân tích dù hay ô có từ nghĩa gốc là [yuzhe] hay [yusan] đã xử dụng phương pháp ăn khớp. Ăn khớp của đa chiều có thể xem như một phương pháp khoa học, nằm trong hay nằm ngoài lô gich, nhưng có vẻ thiên về nằm ngoài hơn, với lí do dựa vào quan sát là rất nhiều sinh vật vẫn thường xử dụng ăn khớp, trong những hành xử cho sinh tồn, và đối với người, xử dụng ăn khớp không đòi hỏi người xử dụng phải trải qua lớp học, hay chỉ dẫn, về ngôn ngữ hay lô gich. Trên căn bản học vấn hoặc chữ nghĩa, ăn khớp cũng giống trò chơi chữ nghĩa (language game) của Wittgenstein, trong đó khi thay thế từ nầy bằng từ kia, người ta thường có thể truy ra ngữ nghĩa sâu xa ẩn nấp bên trong. Thí dụ về những tìm tòi dùng trò chơi chữ nghĩa có thể kể: Lăng Ông Bà Chiểu (Lăng Ông Tổng Trấn), chuyển đổi Bà Chiểu với Tổng Trấn, rồi từ đó xem các từ tương ứng với Tổng Trấn mang ngữ âm giống như Bà Chiểu [11].
Trong nhứt bất quá tam, khi hiểu nghĩa của trọn câu nói là cơ hội không đến hơn 3 lần, sẽ dẫn đến chuyện tìm ra nhứt=cơ hội, và âm [nhứt] nầy gần với 遇 [yu], có âm Suzhou (Tô Châu) thuộc nhóm ngữ Ngô là [nyu]. Chữ 遇 [yu], nghĩa cơ hội, viết theo quốc ngữ là ngộ giống y như âm [ngo] tiếng Tiều (Triều Châu). Âm Hán Việt [ngộ] cũng có thể đổi thành ngẫu trong cơ ngẫu (机遇) tức cơ hội. Để ý tiếng Việt ưa dùng chữ hội (会) cho cơ hội (ki hội 機會 – opportunity), và che mờ các chữ khác như cơ ngộ hoặc cơ ngẫu, 机遇. Âm [nhu] 遇, giống âm Tô Châu [nyu], Thượng Hải [gniu], hay Wuxi [niu] tương đương với [ngộ] (Triều Châu, Việt) tạo nên khởi điểm cho biến âm sang [nhứt]. Và âm cuối [ưt] của [nhứt] rất giống âm cuối của [suut] hay [sook] tiếng Lao [23], cả hai cùng mang nghĩa chance, opportunity (cơ hội) trong nhiều nghĩa khác.
Chuyện tìm ra ngữ từ nằm trong một cụm từ hay một câu nói bằng trò chơi chữ nghĩa của Wittgenstein, hay ăn khớp, cũng giúp tìm ra từ nguyên của Chèng Đét ơi hay Mèn Đét ơi ứng với Trời Đất ơi. ), v.v. “Phương pháp” ăn khớp cũng đồng thuận với khả suất (possibility) hơn là xác suất (probability), bởi khả suất dựa vào đồng hợp giữa vài thứ dữ liệu giống nhau và khác nhau, trong khi xác suất dựa vào một quần thể của dữ liệu xét theo một chiều hướng (đặc tính), và tổng kết bằng luật đa số. Có nghĩa là theo mô hình cây và cành cũng như giả thuyết về từ vay mượn, nghiên cứu ngôn ngữ bắt buộc phải có (i) một quần thể về dữ liệu; (ii) một lằn ranh giới rõ rệt về họ ngôn ngữ, thích hợp với các liên quan lịch sử và địa lí; và cả hai được hỗ trợ bằng hai lý thuyết chính: cấu trúc luận (structuralism) và duy sử luận (historicism). Theo đó, cấu trúc của ngôn ngữ có thể được mô phỏng dựa trên những tương tác lịch sử đã được ghi chép, hoặc có thể phát triển song song với dòng chảy lịch sử [12].
Thêm một thí dụ về áp dụng của ăn khớp, là chuyện truy tầm ra “từ nguyên” của chữ dùng cho câu hỏi how much / bao nhiêu / duoshao多少. Ba “cú từ” nầy, dùng cho câu hỏi, trong 3 thứ tiếng khác nhau, có thể suy về nghĩa cơ bản là ít nhiều, hay đúng hơn ít hay nhiều, đối chọi với nghĩa trơ A là A, trong how much và bao nhiêu là cú từ dùng cho câu hỏi về giá cả. Từ chỗ truy tìm về nghĩa cơ bản, rồi ý nghĩa ăn khớp của từng từ trong how much / bao nhiêu, có khả năng sẽ tìm ra từ nguyên của từ chỉ ít trong tiếng Anh là how, và tiếng Việt là bao, dựa vào cấu trúc của tiếng Trung duoshao多少, xem [8].
Thử tập trung vào cấu trúc của chuyện vũ che / vũ già (雨遮 [jyu-ze])dẫn tới dù / ô, chỉ chiếc ô, cây dù. Từ nguyên của dù / ô theo kiểu ăn khớp không phải là từ ở một tiếng nào đó có âm như [zu] hay [ou] và cùng mang ngữ nghĩa giống dù / ô, mà là chữ 雨 [yu] (mưa) có âm Việt là vũ gần âm Ôn Châu [wu], có âm Triều Châu/ Phúc Kiến là [hO] hay [u] rất gần âm [ô]; và âm Quan Thoại, Thượng Hải, Hakka [yu] hay Quảng Đông [jyu] rất gần [dù]. Tức âm [dù] / [ô] ăn khớp với các allophone (âm tố khác) của các thứ tiếng ở phía Bắc, cho chữ 雨 [yu], có nghĩa là mưa chứ không phải dù hay ô, hay umbrella.
Cần nhấn mạnh là ăn khớp liên hệ mật thiết với khả thi hay khả suất tức possibility, tức cái có khả năng đã xảy ra, chứ không phải theo đòi hỏi của xác suất (probability) lúc nào cũng cần đến một quần thể (population) của dữ liệu tính theo sát một chiều hướng, và đưa đến một kết quả bằng luật đa số. Thật ra khả suất vẫn thường được dùng trong mọi ngành khoa học, nhất là ngành khảo cổ học, và kể cả ngữ học, thí dụ [20][21]. Tính chất chính của khả suất là đồng qui hay ăn khớp của một số dữ liệu khác nhau, chứ không phải cần nhiều dữ liệu khác nhau và có chung một chiều hướng về chất tính, như trong xác suất và thống kê. Thí dụ như trong tố trạng về mưu sát thuộc hình sự, điểm gốc của tố trạng là can phạm có đủ 3 thành tố khác nhau, thứ nhất là động cơ hay dụng tâm; thứ hai, cơ hội; và thứ ba, phương tiện. Chứng cớ của 3 thành tố nầy không cần có nhiều, nhưng cần ăn khớp với nhau. Thí dụ rõ nhất về phép khả suất dùng trong bài viết là truy tầm ra từ nguyên của chữ dù hay ô, từ chữ vũ (mưa) của từ 2 âm vũ già – 雨遮 hay vũ tản (雨伞) chỉ cây dù / cái ô, trong đó vũ chỉ có nghĩa là mưa, và vũ tản mới mang trọn ý nghĩa của cây dù hay cái ô, với chữ tản (伞) có hình vẽ giống như cây dù, chiếc ô. Hai chữ dù và ô là hai từ vựng có ngữ âm khác nhau, thường cho là phát âm phương ngữ tiếng Việt. Nhưng tin liệu ở thế kỉ 21 cho biết có sự đồng qui hay ăn khớp giữa 2 ngữ âm nầy với hai nhóm ngữ âm từ những phương ngữ phía bắc ứng với chữ vũ (雨 – mưa) của từ 2 âm vũ tản (雨伞) chỉ cây dù / cái ô. Nhóm thứ nhất gồm những âm [jyu] [yu] [yü] [bbu] [vu], ứng với dù hay vũ (byũ / ꞗũ) (雨), và nhóm thứ hai, có [ho] [hōo] và [u] (xem [13]), ứng với ô (雨), nằm trong từ 2 âm 雨伞 [vũ tản] chỉ cây dù hay cái ô, chiếc ô.
Tính ăn khớp nầy còn có thể thấy qua chữ dượng (chồng của cô) dẫn từ 姑丈 [gu zhang] [cô trượng] (chồng (của) cô), với âm [dượng] gần âm [zoeng] tiếng Quảng Đông và [diong] tiếng Nam Phúc Kiến [13], có nghĩa chồng. Âm [dượng] nầy đồng qui với các âm Hẹ [chong] (chồng), Ngô Việt [dzan] Mân Nam [tiong] (dôn), cũng như Triều Châu [ziang] Vô Tích [jan] (chàng), tất cả ứng với chữ và ngữ âm trượng (丈) [19] hay trượng phu (丈夫) có một nghĩa là chồng.
Ăn khớp cũng giúp tìm ra từ nguyên của chữ biển / bể tiếng Việt là xuất từ âm âm [bian] của 海边 [hai bian] [hải biên] cho ra biển, hoặc âm [pei] theo chữ 2 âm tiếng Quảng Đông 海皮 [hoi pei] (hải bể) cho ra bể, tất cả mang nghĩa của “từ nguyên”, hay nghĩa bên trong, là biên giới của biển, bờ biển, v.v.Tất nhiên, theo thuyết ngôn ngữ dựa vào sinh hữu, tiếng địa phương ngày xưa chắc chắn đã có sẵn những từ liên hệ đến dượng, chồng, biển hay bể, và những từ nầy chỉ biến đổi sau khi tiếng địa phương hội nhập với những thứ tiếng khác, có nhiều người xử dụng hoặc tiện dụng hơn trong đời sống hằng ngày.
Hội nhập của chữ dù hay ô lại khác với biến chuyển qua hội nhập của chữ dượng, biển hay bể. Rất có khả năng, khi hội nhập, cây dù / chiếc ô là những sản phẩm mới lạ mà người địa phương trước đó chưa hề thấy. Và phương pháp hội nhập kiểu nầy giống y như kiểu Pidgin-Creole [4][6], với đặc tính căn bản là ngữ âm hội nhập hoàn toàn mang tính trơ, tức A là A, cây dù là cây dù, chứ không phải dù là mưa, theo ngôn ngữ bên ngoài, hay trước khi hội nhập.
Theo mô hình của thuyết Tiếng Việt Đơn Âm [6], có khả năng sẽ cho rằng biến chuyển từ vũ tản (雨伞) hay vũ già / vũ che (雨遮) đổi gọn thành vũ (雨) tức dù hay ô, là biến chuyển từ đa âm sang đơn âm. Nhưng sự thật có thể không phải đơn giản như vậy, khi xem kỹ té1é hay TiVi hoặc TV có thể gọi tắt từ télévision, hoặc ô-tô hay auto từ automobile, hay đạo hàm (derivative) hay đạo số (导数) gọi tắt từ chữ đạo hàm số (导函数 – derivative function), trong đó hàm số dịch từ function, và ngày nay còn có tên gọi gọn hơn là đạo (导), có nghĩa truyền, dẫn.
Gọi tắt như vậy không phải là đặc tính của chuyện ngôn ngữ đơn âm / đa âm, mà chỉ là chuyện gọi tắt cho nó gọn, miễn theo quán tính người nghe và người nói đều hiểu ý nghĩa của từ gọi tắt. Lấy thêm thí dụ là chữ lính dù. Chữ nầy tiếng Anh gọi là parachute troops hay paratroops, với para- trong paratroops không có nghĩa gì là dù trong lính dù, mà chỉ là gọi tắt từ parachute. Dù trong nhảy dù phải hiểu nguyên chữ là parachute, với chute là rơi và para- là chống đỡ. Để ý, trong tiếng Việt những người quen dùng ô thay cho dù không bao giờ dùng chữ lính ô thay cho lính dù. Có nghĩa dù và ô có thể dùng để chỉ hai sự vật khác nhau, nhưng cũng giống nhau trong nghĩa bản thể (noumenon). Cũng để ý, chữ dù trong nhảy dù, lính dù, trong tiếng Trung hay tiếng Nhật luôn luôn vẫn là chữ 伞 [san] (tản/ tán), vũ tản (雨伞), viết như hình vẽ (伞) của cây dù / chiếc ô. Như vậy dù / ô trở thành từ thuần Nôm, từ chữ gốc 雨 [yu] của Hán tự, mang nghĩa là mưa (vũ). Biến thể nầy không mang đúng tính chất của từ vay mượn, mà nằm trọn trong cấu trúc của mô hình cây và đất cho ngôn ngữ.
Ở một mặt khác, có thể nói cấu trúc tạo chữ dù / ô là cấu trúc kiểu Pidgin Creole, đưa ra ngữ âm và ngữ nghĩa sau khi hội nhập, khác với từ nguyên thủy, thường thuộc một hay vài tiếng khác, nhưng hoàn toàn đồng thuận với mô hình cây và đất, dùng ở đây. Cấu trúc dù / ô được dùng rất nhiều trong việc tìm lí giải cho tên gọi món Chè (sweet soup) trình bày ở trên.
Chữ chè trong tiếng Việt có 2 ngữ nghĩa khác nhau, một là thức ăn ngọt nấu với nước, và hai là ngữ âm khác với trà nhưng mang nghĩa như trà. Bảng Đối Chiếu của chữ tea (chè / trà) trình bày ở đây cho thấy chữ trà trong nhiều thứ tiếng trên thế giới là một từ vay mượn từ nhiều “phương ngữ” ở nước Trung, nơi xuất phát và dùng trà như một thứ giải khát đã có lâu đời trong lịch sử.
Bảng Đối Chiếu: Chè / Trà trong 35 tiếng khác nhau
GHI CHÚ: 1. Âm nhà Đường (618-907) là âm tái thiết bởi ngữ học (Tây Phương); 2. Âm [chai] hay [chay], nghĩa nguyên thủy là trà, bắt từ [chá] 茶, chính là âm [chai] ngày nay trong chữ Chai tea, bao gồm quế, đinh hương, gừng, đường, trà đen, v.v.; 3. Liên hệ đến trà mính (茗 [ming]), tức trà hương hay búp trà, đọt trà non, minh trà; 4. Che= trà xanh, tra= trà đen [14], tức đưa ra phân biệt giữa chè và trà, không thấy trong tiếng Việt.
Tính chất của từng từ ngữ, mang nghĩa trà (tea), của những ngôn ngữ liệt kê trong Bảng Đối Chiếu, rất giống tính cách chuyển ngữ từ 雨 [yu] sang dù, ô hay vũ, tức tùy vào ngôn ngữ xuất xứ của tên gọi trà. Thí dụ như tiếng Pháp thé hay tiếng Anh tea, cũng như các tiếng Irish, Scots Gaelic và Dutch, gần với âm tiếng Phúc Kiến [tê] (茶) hay Triều Châu [de]. Trong khi âm tiếng Nga [chay], tiếng Ấn [chaay], tiếng Slovak [chai] rất gần âm phổ thông [chá] (茶). Hai âm tiếng Việt chè và trà, cũng như âm tiếng Mường chè, hay âm Portuguese chá rất gần âm Nam Kinh [cha] hay âm Hakka [ca]. Cần để ý, âm nhà Đường [djha] là âm tái thiết bởi ngữ học Tây Phương, dựa vào một số giả định [12], trong đó quan trọng nhất là giả định liên quan đến nguyên lí một dân tộc một ngôn ngữ, cũng như từ vựng mang tính trơ (arbitrary).
Để ý đến chữ chè trong tiếng Việt, mang hai nghĩa khác nhau. Một nghĩa là trà (tea), và nghĩa kia là chè, một thứ ’đồ ngọt’ có thể dịch sang tiếng Anh (sweet soup) hay tiếng Trung 糖水([tangshui]), với ngữ nghĩa như canh ngọt, canh đường. Hiểu theo kiểu cổ điển, có thể gọi chè (trà) và chè (đồ ngọt) là hai từ đồng âm dị nghĩa của tiếng Việt. Tuy vậy, nếu hiểu theo ý niệm về noumenon ((nghĩa) bản thể) của Immanuel Kant [15], sẽ thấy hai chữ chè nầy có chung một thứ noumenon. Đó là nước nóng hòa tan với một chất khác, như lá trà hay đường (sugar). Có nghĩa, chè là một từ ‘’thuần Việt” mặc dù có từ nguyên từ những tiếng khác. Ý niệm noumenon nầy áp dụng cho chè cũng giống như tương đương noumenon gữa chữ nem tiếng Việt (nem chua, nem rán) với naaem (Thai) hay nɛ̆ːm muu (Lao [23]) (muu= thịt lợn), hoặc naem (Khmer) bao gồm ý nghĩa giống như nem chua / nem rán là dùng thịt bầm và gia vị gói lá chuối hay da bọc (làm bằng bột), trước khi nấu nướng hay để lên men, rồi mới xơi.
Có nhiều tính chất đặc biệt của riêng tiếng Việt, chữ chè do đó có thể dùng như một tiếng quốc tế. Cũng giống những chữ khác, như phở, bánh mì (thịt), gấc, có thể dùng chữ chè trong một bài viết hay đoạn văn hoặc thực đơn ở tiệm ăn trong một môi trường dùng tiếng “ngoại quốc”, như tiếng Anh hay tiếng Pháp, v.v., nhưng bắt buộc tránh trùng hợp với chè mang nghĩa trà. Giống như những chữ kimchi, sushi, curry, umami, tea, TiVi, sa tê, tom yum, hamburger, soup, croissant, baguette, Big Mac, pie, v.v. trở thành tiếng quốc tế nhờ ở chuyện từ vựng dính liền với đặc tính riêng biệt của văn hóa, ngôn ngữ hay kĩ thuật của từng thứ tiếng.
Hán Việt và Thuần Nôm
Những luận cứ và thí dụ trình bày sau đây cho thấy lằn ranh giới giữa từ ngữ Hán Việt và thuần Việt, hay thuần Nôm, thật ra hết sức mơ hồ, theo với tin liệu dồi dào có trên mạng về ngôn ngữ.
Xin thử quan sát một số từ vựng tiêu biểu thường xem như thuần Nôm, với lí do đơn giản là không thấy liệt kê phát âm hay ráp vần gần giống những từ nầy trong các tự điển Hán Việt hay nói chung, các tự điển tiếng Hán, như Anh-Hán, Pháp-Hán, v.v.
- Tự Sướng
Tự sướng tương ứng với selfie tiếng Anh, có nghĩa tự chụp ảnh, chỉ phổ biến trong thế kỉ 21, sau khi có thể chụp hình bằng mobile phone, tức điện thoại di động. Chữ chính ở đây là sướng, theo các tự điển tiếng Việt có nghĩa nôm na là khoái, là sung sướng, thỏa mãn, đầy đủ thỏa thích, thích thú. Chữ sung sướng nầy có âm tương đương với âm Quảng Đông [cung coeng] 充暢, với nghĩa sung túc (充) + sướng khoái (暢). Nhưng sướng trong tự sướng (selfie) liên hệ đến một từ khác với sướng trong sung sướng. Chữ sướng trong selfie là chữ 相 [xiāng] [xiàng] (tương, tướng), mang rất nhiều nghĩa, trong đó có 1 nghĩa là hình chụp hay chụp ảnh, ăn khớp với chữ selfie, có âm Quảng Đông [soeng] và âm Hakka [siong] rất gần với sướng trong tự sướng (相).
Chữ selfie ghi trong các tự điển trực tuyến không phải là 自相 (tự sướng) mà là 自拍照 (tự phách chiếu), trong đó cả hai chữ 拍照 (phách chiếu) đều có nghĩa là chụp ảnh. Như vậy, chữ tự sướng là một từ thuần Việt mặc dù có thể truy ra gốc là một từ tiếng Trung, nhưng lại hoàn toàn do tiếng Việt sáng tác và “chuyển ngữ” hay đem áp dụng ngữ từ, ngữ âm, và ngữ nghĩa của từ vựng tiếng khác.
- Y hệt
Y hệt cũng là một thứ từ dễ nhận là thuần Nôm. Y hệt mang nghĩa như identical, similar, same, tức giống nhau, giống nhau như đúc, tương đồng, đồng nhất, y chang. Tra bất cứ một tự điển Hán Việt sẽ thấy chữ Hán Việt nhất, nhứt (一) mang nghĩa duy nhất hay thường dùng nhất là một, thứ nhất (1), trong khi nếu tra một tự điển Anh Trung cho chữ 一 [yi] sẽ thấy chữ nầy có một nghĩa là same (giống nhau), ngoài những nghĩa như một (số đếm), mạo từ 1 (một người đàn ông), toàn thể, như một (giống nhau), chút ít, một ít, … Âm Quảng Đông chữ 一 [yi] nầy là [jat], [yäk] ứng với chữ dách / số dách, cũng như nhất (đứng nhất), trong khi âm Hakka (Hẹ) của 一 [yi] là [yit] rất gần với [nhứt]. Âm Nam Kinh và Ôn Châu của chữ 一 [yi] (same) là [i] như kiểu chữ quốc ngữ Y trong Y chang hay Y hệt. Đặc biệt tiếng Ôn Châu (Wenzhou 温州) cũng dùng âm [i] (衣) cho động từ to be (là), trong khi tiếng Thượng Hải ưa dùng [là] (拉) y hệt như tiếng Việt là cho to be.
Âm [i] của chữ Y trong y hệt, y chang như vậy ứng với âm quan thoại [yi] (一) kéo theo chữ mang nghĩa the same (giống nhau) là 一樣 [yi yang], tức y chang. Trong khi chữ hệt trong y hệt có thể cùng gốc với chữ 若 [re][ruo] trong 相若 [xiang re] (giống nhau). Chữ 若 [re] nầy có âm Quảng Đông là [joek] gần âm [hệt] trong y hệt và cũng gần âm [nhược] trong từ Hán Việt nhược (若 [ruo]). Đặc biệt chữ nhược (若 [ruo]) có âm Hê và Mân Nam (Phúc Kiến) là [na], ăn khớp với chữ 2 âm tiếng Việt na ná, mang nghĩa giống nhau, hao hao giống.
Âm [hệt] trong y hệt cũng rất gần âm [hak] tiếng Khmer (giống như đúc, y hệt) cũng như âm tiếng Lao [ʔȅːk] (số 1, chính yếu) trong [ʔȅːk ká lāk] có nghĩa như y chang.
- Khứng Chịu
Có một từ trong tiếng Việt, ngày nay ít dùng, là khứng dùng để chỉ sự đồng ý, đồng thuận: “Anh có khứng đi xem xi-nê với tôi không?”. Chữ khứng nầy thường đi với chịu, ra từ 2 âm khứng chịu, chỉ sự đồng thuận, hoặc tuân chỉ, tuân theo, chịu đựng. Những từ nầy thường xếp vào loại thuần Việt, bởi khó thấy tự điển Hán Việt liệt kê những từ nầy trong dạng Hán Tự theo kiểu viết Hán Việt dùng a-b-c, có lối ráp vần, phát âm và ngữ nghĩa giống như khứng chịu hay chịu đựng. Giống như rất nhiều từ xưa nay thường xem như thuần Việt, chữ khứng là phát âm “Nôm” của chữ Hán 肯 [khẳng]. Âm [khứng] ứng với âm Thượng Hải [khen] (肯) trong khi âm “Hán Việt” [khẳng] y chang như âm Ôn Châu [k’ang] (肯).
Chữ chịu trong khứng chịu hay chịu đựng có âm gần với [ciu] Hẹ hay [ziu] Triều Châu cho chữ 就 [jiu], mang nghĩa như phục tùng, đồng thuận, tuân theo. Âm “Hán Việt” của chữ nầy là [tựu] rất gần âm Mân Nam [tioh] [13]. Còn chữ đựng trong chịu đựng, với nghĩa tiếng Anh withstand, bear có âm gần với âm [din] tiếng Nam Kinh, [tʻəŋ] tiếng Ôn Châu cho chữ 挺 [ting], có âm Hán Việt [đĩnh] gần âm Quảng Đông [ting], mang nghĩa giống như đựng (withstand) trong chịu đựng.
- Còn, Kinh, Canh
Ba chữ tiếng Việt còn (còn thiếu gì / còn nữa), kinh (kinh nghiệm / kinh qua), và canh (canh gác) có phát âm khác nhau nhưng cùng ứng với một chữ viết tiếng Trung 更 [gèng][gēng], có 2 âm Hán Việt [canh] và [cánh]. Đối với âm [còn], chữ 更 [gèng][gēng] có âm Thượng Hải [ken] [kan] với ngữ nghĩa even more, still more (hãy còn), ăn khớp với âm và nghĩa của còn tiếng Việt.
Chữ 更 [gèng][gēng] còn mang một nghĩa khác là kinh nghiệm, với âm [kinh] giống y như âm Mân Nam (Phúc Kiến) [kinn] [king], mang nghĩa là kinh qua, trải qua, kinh nghiệm.
Nghĩa canh là canh gác, đêm có 5 canh, có âm [canh] gần với âm [gang] Quảng Đông, âm [kan] Ngô Việt (Thượng Hải / Chiết Giang), cho chữ 更 [gèng][gēng]. Để ý từ 2 âm canh gác, có 1 âm dính với tiếng phía Bắc (更), cón âm kia [gác] dính với tiếng Tây (garder).
Chữ 更 [gèng][gēng] còn mang một nghĩa là thay thế, làm thế, với âm dã ngữ là [khín]: “Em trai mặc đồ khín của anh”, và âm [khín] nầy rất gần âm [kinn] tiếng Mân Việt cho chữ 更 [gèng][gēng], mang nghĩa thế, thay thế, thay chỗ.
Chữ thiếu trong còn thiếu gì thật sự mang nghĩa nhiều, nữa, hay chút ít (còn thiếu gì=còn một chút ít) chứ không phải thiếu (không có gì). Trong tiếng Trung, chữ 少 [shao] (âm Quảng Đông [siu]), mang những nghĩa chính như thiếu (thiếu thốn), vắng mặt, ít, chút ít, nhỏ (thiếu niên). Chữ thiếu (少 [shao]) có từ đồng âm 稍 [shao] mang nghĩa một chút ít, ăn khớp với còn thiếu gì= còn một ít, cũng như âm [siu] (少) gần âm Quảng Đông [jyu] của chữ 愈 [yu] mang nghĩa như còn nhiều nữa. Âm [thiếu] trong còn thiếu gì cũng gần âm Nam Kinh [shr] hay âm Vô Tích [zhyu] cho chữ 是 [shi] trong nguyên chữ 有的是 [you de shi] (còn nhiều nữa).
- Mắng vốn
Mắng vốn cũng là một thứ từ 2 âm, dùng 1 trong 2 âm sẽ cho ra nghĩa khác. Mắng vốn mang nghĩa tiếng Anh là complain, thường là than phiền chuyện phá phách của con cái nhà hàng xóm láng giềng với phụ huynh cha mẹ của chúng. Trước thế kỉ 21, từ nầy cũng được xem như một từ thuần Việt, không có tương đương trong tiếng Hán. Nhưng ngày nay, với nhiều tin liệu từ các tự điển trực tuyến, có thể thấy mắng vốn có âm rất gần với 埋怨 [man yuan], có âm Quảng Đông [maai jyun] hay Quan Thoại [man yuan] gần với [man ꞗốn] (man byốn) [2] hay [mắng ꞗốn], với âm Hẹ [man uan] gần với mắng vốn, mang nghĩa như than phiền (complain) hay đổ lỗi (blame). Chữ nầy cũng giống như suôn sẻ, cùng gốc với chữ thuận thủ (順手 [shun shou]), tức thuận tay (thuận buồm xuôi gió), với âm Nam Kinh của 順 [shun] là [shuen] (thuận) rất gần với [suôn] và âm Ngô (Vô Tích) của 手 [shou] (thủ) là [shei] gần với [sẻ] cho ra suôn sẻ.
- Khô ráo / khô queo / khô héo / khô cạn
Bốn thứ từ mang tính cận vị tức thường có 2 âm đi kèm với nhau, thường cho là thuần Nôm, có khác nhau về từ nguyên và ngữ nghĩa. Khô (dry) liệt kê như âm Hán Việt cho 枯 [ku], với âm [khô] rất gần âm của chữ枯 [khô] trong rất nhiều thứ tiếng địa phương phía Bắc. Còn ráo mang nghĩa chính là drained (ráo nước), có âm gần với âm tiếng Khmer [srah] nghĩa ráo. Queo (khô queo) mang nghĩa tiếng Anh là shrink (teo lại), có âm [queo] gần với [ue] hay [uei] tiếng Ngô và Nam Kinh ứng với chữ萎 [wei] (wither, fade, shrink), tức teo / héo. Chữ teo ứng với 憔 [tiều], với âm [tiều] gần [tsiu] tiếng Quảng, và [teo] gần [ziou] tiếng Triều Châu. Chữ héo trong khô héo ứng với âm [hjao] tiếng Bahnar mang nghĩa y hệt như khô héo (faded, wilted). Còn cạn trong khô cạn ứng với 3 âm Hán Việt [càn][kiền][can] cho từ 乾 [gan][qian] mang nghĩa cạn nước (dried up). Để ý từ 2 âm trong tiếng Việt như kiểu khô héo / khô ráo có thể có 1 từ chia sẻ từ nguyên với tiếng nầy, còn từ kia chia sẻ với một tiếng khác, giống như chữ canh gác bàn ở trên. Nhưng cũng để ý chữ cận vị như khô queo ít khi nghe đảo thành queo khô, trong khi có thể nghe cạn khô, héo khô, ráo khô với nghĩa nhấn mạnh ở chữ đầu.
- Máu, Rạng Đông, Hoa Hồng và Màu Đỏ
Điểm chính yếu hay hệ luận của mô hình cây và đất trình bày ở đây là từ vựng cơ bản của ngôn ngữ thường có sẵn từ khi có loài người, với lí do chính là thời gian tập sự sống của con người kéo dài khá lâu (trên dưới 10 năm) so với nhiều sinh vật khác. Có nghĩa từ vựng cơ bản của ngôn ngữ có trước ngôn ngữ rất lâu, nếu hiểu ngôn ngữ như một ý niệm dính liền với dân tộc và quốc gia, như trong vài thế kỉ gần đây. Hiểu như vậy, sẽ thấy từ vựng thời ban sơ được xây dựng từ những thứ từ vựng có trước, hay sáng tác bằng cách nhại âm (onomatopoeia), v.v. Hiểu theo kiểu nầy, sẽ thấy những từ về màu sắc, như mầu đỏ, rất có khả năng được “sáng tác” bằng kiểu ví phỏng, hoặc nhại âm từ những vật thể có màu đỏ như máu, bầu trời về chiều, hoặc hoa hồng, v.v. Bảng Đối Chiếu trình bày ở đây cho thấy từ mang nghĩa mầu đỏ có liên hệ ví phỏng với từ mang nghĩa máu, huyết, trong và xuyên qua, nhiều tiếng khác nhau.
Trong tiếng Hoa, từ chỉ màu đỏ còn là 朱 [shu][zhu] cùng âm với 曙 [shu] chỉ lúc rạng đông với mặt trời thường có màu đỏ. Giống nhau nầy cũng thể hiện trong tiếng Kurdish với 2 âm [sor] và [sûr] chỉ màu đỏ có âm gần với [xor] chỉ mặt trời (lúc rạng đông), như trình bày trong Bảng Đối Chiếu giữa từ chỉ màu đỏ và chỉ hoa hồng ở dưới. Thật ra, rất khó kết luận là từ 紅[hong] (hồng) chỉ màu đó xuất phát từ chữ hồng chỉ hoa hồng. Với lí do là chữ chỉ hoa hồng trong tiếng Hoa là 玫瑰 [meigui] chứ không phải đơn giản là hồng như trong tiếng Việt. Ngược lại có thể có lý hơn. Tức chữ hồng (紅) (âm [hung] tiếng Quảng Đông) chỉ màu đỏ có âm gần chữ 空 [hung] (Quảng Đông), chỉ bầu trời.
GHI CHÚ: 1. Máu lợn (trư hồng) với chữ hồng=máu. Âm [hung] (紅) cũng là âm chỉ bầu trời (màu đỏ) [hung] (空); 2. Huyết giống âm chỉ máu: Gwaed (Welsh), hyut 血 (Quảng Đông), huêh (Triều Châu), vér (Hungary), whero (Maori); 3. Âm chữ máu gần như âm [mud] tiếng Sumer cách đây trên 5000 năm, âm [Máóhk] của người Blackfoot Indians ở Canada, [dmar] tiếng Tibet (Tây Tạng) nghĩa màu đỏ; 3. Hai âm [dugo] (Phi) và [toto] (Samoa) mang nghĩa máu, chứa âm [du] và [to] rất gần âm [đỏ] mang nghĩa màu đỏ; [mumu] tiếng Samoa gần âm [mủ] trong máu mủ; 4. Giống rohita tiếng Sanskrit & Pali chỉ máu và màu đỏ [16]; 5. Tiếng Lào: dɛ̀ːŋ=đỏ, mạch máu; Giống liên hệ tiếng Thai: [daaeng]=máu & [lohng daaeng]= Tiêu chảy, tiêu ra máu [17]; Cũng giống liên hệ tiếng Phúc Kiến: 紅 [hông]= màu đỏ, và âm [au-hông] 呕血= ói ra máu, viết với chữ 血 [huyết] [hueh], nhưng có thể đọc như [hông] (紅) chỉ màu đỏ. * Những tiếng nầy dùng chung 1 từ chỉ máu và màu đỏ.
Chữ hồng chỉ màu hoa hồng trong tiếng Hoa là 玫红 [meihong] với chữ 玫 [mei] hay 玫瑰 [meigui] mang một nghĩa là đá ngọc màu đỏ, và cũng mang nghĩa là cây hoa hồng. Cũng cần ghi nhận là màu hồng trong tiếng Việt không phải là màu đỏ như chữ 紅 [hong] trong tiếng Trung. Mầu hồng tiếng Việt là màu hồng nguyên thủy của cây hoa hồng ở trong rừng (xem các AI chatbot) tức là mầu pinky red. Liên kết ví phỏng giữa từ chỉ màu đỏ và từ chỉ hoa hồng giữa nhiều thứ tiếng được trình bày tiêu biểu trong Bảng Đối Chiếu ở trên.
GHI CHÚ: 1.Chữ 赤 [chi] có âm Quảng Đông [cik] gần âm Việt [xích] với nghĩa màu đỏ, có âm Nam Kinh [chr] rất gần âm Ôn Châu [ɕy] cho chữ 血 [xue] (máu); 2. Màu hoa hồng: 玫红 [meihong]; 3. Kurdish (Kurmanji) Mặt trời: roj (giống âm [rose] hoa hồng); 4. Tiếng Kurdish (Sorani): Màu đỏ: sûr. Cả hai từ sor & sûr (đỏ) gần âm [xor] (mặt trời) (Kurdish (Sorani).
- Chữ mấy và những từ ngữ thuần Việt
Chữ mấy trong tiếng Việt cũng thường được xem như một từ thuần Việt hay thuần Nôm. Bảng Đối Chiếu từ ngữ tương đương với mấy cho thấy chữ 濔hay 沵 [mǐ] rất ít có đề ngữ (entry) trong các tự điển Hán Việt, và nếu có thì cho âm phiên thiết là nhĩ ứng với âm Hakka [ni] với nghĩa không giống với ngữ nghĩa ghi trong nhiều tự điển Anh-Trung là many (nhiều). Chữ 濔 (沵) nầy có vẻ như một từ rất cổ của cư dân nước Nam Việt (204-111 TCN), bao gồm Bắc Việt, Quảng Đông và Quảng Tây. Ngữ âm tiếng Việt của 濔hay 沵 là [mấy], ứng với âm [mei] tiếng Quảng Đông. Tự điển Petrus Trương Vĩnh Ký [22] ghi nghĩa của mấy là combien (bao nhiêu) giống như tự điển Taberd [1].
Dùng trò chơi chữ nghĩa sẽ thấy Chú có mấy người con? = Chú có bao nhiêu người con? Hay mấy người đó= những người đó, cho biết là mấy cũng mang nghĩa nhiều, những, trong khi sức mấy= sức bao nhiêu, cho biết mấy= nhiều, mang thêm tính ngờ vực hay bất định. Nghĩa đặc thù của mấy trong tiếng Việt, xưa và nay, do đó gồm mấy=nhiều+bất định. Nhưng cũng có khi, không phải bất định như vậy, như trong kiểu dùng mấy người= you guys. (Chữ mấy trong mấy người cũng có thể là biến âm của mầy, “đại từ ngôi số 2”.) Đặc biệt âm [mấy] rất gần với một âm trong từ vựng của nhiều tiếng khác nhau, nhất là các tiếng như Lao, Khmer, Myanmar, mang nghĩa như many, mấy, như trong Bảng Đối Chiếu.
Thí dụ về chữ mấy cho biết âm Việt thường vẫn là ngữ âm tiếng Việt, với ngữ nghĩa đặc thù của nó. Giống như chữ xổ trong xổ Nho, xổ tiếng Tây. Chữ xổ nầy ứng với âm quan thoại [shuo] (说) ứng với thuyết và thuyết gần âm Quảng Đông [syut], mang nghĩa chính là nói. Thật ra có 4 âm quan thoại cho chữ 说[thuyết]: [shuō] [shuì] [yuè] [tuō], ứng với [thuyết] [duyệt] [thuế] tiếng Việt, nhưng quen thuộc nhất vẫn là [shuo] và [thuyết]. Âm [xổ] trong xổ Nho gần với âm Hẹ [soi] và âm Nam Kinh [sho] viết bằng chữ 说 [thuyết], tức nói. Nhưng nghĩa tiếng Việt của xổ là nói lấy le, nói cho ra vẻ ta đây, cho ra vẻ cao cấp, chứ không đơn thuần là nói như thuyết (说).Để ý, dùng trò chơi ngôn ngữ, sẽ thấy người ta nói xổ tiếng Tây, nhưng không nói xổ tiếng Nho, mà chỉ nói xổ Nho, bởi Nho bao gồm tiếng dùng trong, và để chỉ Nho giáo. Xổ Nho, xổ tiếng Tây qua năm tháng cũng có thể dùng thay cho chửi thề, văng tục hay nói tiếng Đan Mạch, giống như speaking French tiếng Anh.
Xổ trong xổ Nho hay xổ tiếng Tây cũng hàm ý là nói như trút (nước) vào đầu, và trút có âm giống âm [zeok] tiếng Quảng Đông ứng với 汋 [shuo] hay [zhuo], mang nghĩa trút nước, đổ nước, với phát âm [sok] Hẹ, [sho] Nam Kinh gần với xổ, hay [siok] tiếng Mân Nam, gần với xối (pour).Tiếng Anh cũng có cụm từ pour cold water với nghĩa phát biểu ý kiến phản đối với một đề nghị. Chữ pour tiếng Anh còn ứng với đổ tiếng Việt, dễ xem như thuần Nôm (nước đổ đầu vịt), nhưng thật ra ứng với âm [đảo] 倒, gần âm phổ thông [dǎo] 倒, trong khi âm [đổ] (Nôm) lại gần với [dou] Quảng Đông, và [to] Thượng Hải [13]. Khó khăn là nhiều tự điển Hán Việt cho nghĩa của 倒 [dǎo], không có bao gồm nghĩa của to pour (đổ), mà chỉ có tự điển Anh-Trung trên mạng mới có. Tương tự rót trong rót rượu gọi theo kiểu Việt là chước 酌, rất giống âm [zeok] Quảng Đông, trong khi âm [rót] lại gần âm Hakka [zog] hay [zhok], viết là 酌 [zhuó].
Chữ 可施 [kě shi] (khả thi) tương đương với có thể, mặc dù có thể mang nặng nét thuần Nôm. Âm [có thể] thật ra rất gần với âm [ko she] tiếng Hakka, và [k’o sei] tiếng Ôn Châu ở Chiết Giang. Một chữ thường xem là thuần Việt cũng phức tạp không kém, là chữ vội, mang nghĩa làm gấp rút, đi thật nhanh, vội vàng, hối hả. Như đã trình bày ở trên, khi thấy chữ ráp vần “Taberd” [1] với chữ đầu là v (vội), thì phải kiểm chứng ngay với tự điển Alexandre de Rhodes [2], và tự điển nầy ghi đó là ꞗội (đọc là [byội]), với âm đầu là [ꞗ] hay [b], ứng với 迫 [pò] [păi], có âm Triều Châu [pak], âm Quảng Đông [baak] ứng với âm Hán Việt [bách] (cấp bách – 急迫). Còn âm [vội] hay [ꞗội] ứng với hai âm tiếng phổ thông [pò] và [păi], nhập với nhau, hoặc gần âm [pop] tiếng Lao [23], mang cùng nghĩa. Vội thường dùng như từ 2 âm vội vàng, và chữ vàng, rất có khả năng cũng là âm bắt đầu bằng b, như [bàng] ứng với [bôn] trong bôn ba 奔波.Âm [bôn] 奔, ứng với [bun] tiếng Hẹ và Mân Nam, trong khi [bàng] ứng với [bang] (奔) Vi Đầu (Nam Quảng Đông), hay [pang] Ôn Châu thuộc địa bàn của xứ Ngô Việt thời Chiến Quốc (481-403 TCN). Và [bang] hay [pang] dễ trùng với [ꞗàng] đổi thành vàng, theo thiết kế Taberd [1]. Vội cũng dùng như 2 âm trong vội vã, và vã, rất có khả năng, ứng với âm [ꞗã] hay [bã] thời trước thế kỉ 17, ứng với âm [pah] tiếng Tô Châu, viết bằng 迫 [pah] hoặc [bách] hay [bội] (vội).
Cần nhớ là tiếng Ôn Châu, rất có khả năng, có liên hệ ít nhiều với một thứ tiếng Việt tối cổ, xem Wikipedia. Chi tiết là Ôn Châu (Wenzhou 温州) ngày nay nằm ở khu vực nước U Việt, xưa gồm dân Ngô và Việt của Việt Vương Câu Tiễn (496–465 TCN), vào năm 192 TCN, được vua Hán Cao Tổ (Lưu Bang – 202-195 TCN) phong cho Sô Diêu (驺摇) và đổi tên là Đông Âu (東甌) hay Âu Việt (甌越) vào khoảng những năm đầu của nhà Hán (206 TCN-9 SCN // 25 SCN-220 SCN). Tiểu quốc Âu Việt hay Đông Âu nằm ở khu vực Ôn Châu (温州) và Đài Châu (台州) thuộc tỉnh Chiết Giang (浙江) ngày nay. Về sau cả ba vương quốc Mân Việt (Phúc Kiến), Nam Việt (Tây Âu) và Đông Việt (Đông Âu hay Âu Việt) bị nhà Hán sát nhập vào năm 111 TCN. Nhớ là khu vực Nam Việt của Triệu Đà vào cuối thời Chiến Quốc (475-221 TCN) sang qua đời nhà Tần còn gọi là Tây Âu (西甌) để đối với khu vực Đông Âu (東甌), hay Âu Việt (甌越) ở phía Đông, thuộc khu vực Ôn Châu của Chiết Giang. Chữ Âu (甌) trong Tây Âu hay Đông Âu hoặc Âu Việt hay Âu Lạc (甌雒 hay đôi khi 甌駱), bắt nguồn từ chữ Âu (甌) của sông Âu, tức Âu Giang (甌江 – Oujiang), con sông lớn thứ hai của Chiết Giang chảy ra biển ở Ôn Châu. (Có thể nói, do đó, chữ Âu thường thấy đứng bên cạnh với các chữ như Đông (Đông Âu), Tây (Tây Âu), Việt (Âu Việt 甌越 [Ouyue]) tức U Việt, và Lạc (Âu Lạc), có gốc là Âu trong Âu Giang (甌江 – Oujiang) ở Ôn Châu, địa bàn của chủng Việt của Câu Tiễn [20].)
Một chữ nữa thường xem như thuần Nôm là vắng teo, thoạt xem có vẻ như thuần Nôm 100%. Nhưng không, teo là một dạng khác của âm [tiêu] như trong tiêu điều, và âm [teo] gần âm [siao] Mân Nam, trong khi [tiêu] gần với [siu] Quảng, ứng với 蕭 [xiao] mang nghĩa như tiêu điều, trống trải, gần giống với vắng ghi trong tự điển Alexandre de Rhodes là vắng, với âm đầu [v], có vẻ như ứng với hai chữ cùng mang âm [gwong] Hẹ / Quảng, là 光 [guang] và 空 [kong], mang nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa trống trải, vắng vẻ.
Hai âm chữ S trong tiếng Việt (cổ)
Một trong những tiền đề đóng vai trò như nguyên lí hay chân lí trong tiếng Việt ở thế kỉ 20 và về sau, là chữ quốc ngữ với lối ráp vần “chuẩn” phù hợp với phát âm “chuẩn” là thứ chữ Việt có thể xem như chính xác truyền lại từ ngày xưa, ít nhất là đã được “hoàn chỉnh” hơn những “phiên bản” có trước đó, kể cả phiên bản cổ điển và đầu tiên của Alexandre de Rhodes [2]. Tiền đề nầy thật ra đã đơn giản hóa một vấn đề hết sức phức tạp, rất khó giải quyết trước thế kỉ 21, với chằn chịt những khó khăn và nghịch lí ở trong mọi vấn đề liên quan đến tiếng Việt, kể cả chuyện áp dụng phương pháp của các khoa học ngôn ngữ, như ngữ học (Tây Phương) và Hán Nôm học.
Một trong những điểm mấu chốt dễ lướt qua chính là biến đổi rất lớn, trong lối ráp vần trình bày trong tự điển của Pigneau de Béhaine và Taberd [1], so với lối ráp vần quốc ngữ, đa phần dựa vào tiếng Bồ, trong tự điển của Alexandre de Rhodes [2] biên soạn vào thế kỉ 17. Cả hai thiết kế, của Alexandre de Rhodes [2] và của Pigneau de Béhaine và Taberd [1], đều có những kiểu ráp vần sáng tác cho hợp với “khẩu vị” người Pháp, nhất là thiết kế Taberd [1], hơn là trung thực phản ánh lối nói tiếng Việt của người bản địa. Trong khi, lối phát âm bản địa, rất có khả năng, không đồng nhất trong từng địa phương, cũng như với nhiều thứ từ vựng khác nhau tùy vào phương ngữ. Sự kiện nầy rất dễ che lấp bằng tiền đề chính giữa “một dân tộc một ngôn ngữ” của các ngành học về ngôn ngữ, đa phần được xây dựng bởi những học giả, học và hiểu tiếng Việt, khởi đầu như một sinh ngữ 2, với từ vựng mang tính trơ, A là A. Che lấp nầy cũng được hỗ trợ bằng tính chất căn bản của ngôn ngữ hiểu qua “nguyên lí Pidgin-Creole” [4][6][7] là ngôn ngữ, nhất là cách phát âm và từ vựng, có thể biến đổi trong vòng 1-2 thế hệ, tức trên dưới 50 năm. Bài viết nầy chỉ lấy một thí dụ về âm chữ con S trong tiếng Việt.
Theo kiến thức thông thường chữ con S trong tiếng Việt có phát âm gần như âm [sh] tiếng Anh, tức ʃ theo phiên âm quốc tế IPA, như she (cô ấy), share (chia sẻ). Âm s Việt khác với âm [s] tiếng Anh, như sing (ca hát), sin (tội lỗi), và âm [s] tiếng Anh thường xem như rất gần với âm [x] như trong tiếng Việt, tiếng Mường, như xướng ca, xa nhà (Việt), hay xai lầm (sai lầm), xảng kiển (sáng kiến) (Mường). Thật ra âm [x] tiếng Việt thường tương đương với âm [ks] hay [?s], với [?] là glottal stop (tắc âm thanh môn), định nghĩa như âm ở giữa [uh] và [oh] khi phát âm nguyên chữ [uh-oh], hoặc âm cuối tiếng Việt khi phát âm [chã] hay [chạ].
“Ý kiến” về tiếng Việt hay tiếng Mường chỉ có phân biệt âm [s] và [x], có vẻ như đơn giản hóa chuyện phức tạp của kí âm các âm thanh tiếng Việt, bằng chữ Latin a-b-c, biến đổi và tập trung với nhau liên tục trước và sau khi chữ quốc ngữ ra đời.
Nếu xem ảnh hưởng các ngôn ngữ chung quanh, theo mô hình cây và đất:
- Những thứ tiếng như Lào, Mường, Quảng Đông, Thai, Khmer, Tay Nung, thường không có âm đầu [SH] mà chỉ có [S], như sing. Như vậy, những âm Việt bắt đầu bằng S không có phát âm giống âm bắt đầu bằng S như trong các tiếng Thai, Lao, Quảng Đông. Với lí do nầy tự điển tiếng Mường dùng âm x thay cho s (sing) cho những chữ như xai lầm (sai lầm), xắc tep (sắc đẹp). Lấy thí dụ về chữ sướng trong tự sướng (selfie) trình bày ở trên. Chữ sướng (tiếng Việt) có âm đầu s tiếng Việt đọc gần như, nhưng không hoàn toàn giống như, âm [sh] ([shướng]) tiếng Anh hay tiếng quan thoại. Nhưng sướng tiếng Việt lại tương đương với âm [soeng] tiếng Quảng Đông (đọc [s] như song tiếng Anh), ứng với chữ 相 [xiang]. Chữ 相 [soeng] tiếng Quảng tương đương với sướng trong tự sướng, với nghĩa như hình chụp hay chụp ảnh, có âm [soeng] bắt đầu bằng âm [s] giống như âm đầu s nhiều tiếng ở phương Tây. Âm [soeng] nầy có âm đầu s khác với âm đầu s trong sướng tiếng Việt.
- Trong những tiếng ở phía Bắc, tiếng Quan Thoại (Bắc Kinh) và tiếng Ngô (Wu) có 2 âm khác nhau [S] và [SH] (“si” 四 // “shan” 山 (san, sơn)). Trong khi Quảng Đông, Mân Nam và Triều Châu không có phân biệt âm đầu S và SH, cả hai quy về 1 âm đầu S: sui <= shui (水, “nước”); san <= shan (山, “núi”).

Trước hết, tự điển Alexandre de Rhodes [2] có ghi phát âm của S (S-ngắn) như trong chữ sao, ngôi sao: “S, chỉ thông dụng ở đầu tiếng mà thôi; vừa phần cứng hơn, s, của chúng ta, gần như gấp đôi; vừa phần huýt gió yếu hơn: khi phát âm nó, lưỡi phần nào uốn cong lên tới cúa, thí dụ, sa, cadere (đổ, ngã, sa); không bao giờ gặp nó ở giữa, hay ở cuối tiếng”.
Sydney, đầu tháng năm 2025
NN
THAM KHẢO
- P.J. Pigneaux & A J. L. Taberd (Editor) (1838) Dictionarium Anamitico-Latinum. Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học – Nhà Xuất Bản Văn Học tái bản (2004). Bản Điện Tử: The Vietnamese Nôm Preservation Foundation:
- Alexandre de Rhodes (1651) Dictionarium Annamiticum – Lusitanum – Latinum. Hiệu đính: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính. Tái bản: Viện Khoa Học Xã Hội – HCM 1991.
- John A. Halloran: Sumerian Lexicon (Version 3.0): http://www.sumerian.org/sumerian.pdf
- Nguyễn Văn Ưu (2024) Ngôn Ngữ của Đông Tây Nam Bắc. Thế Hữu Văn Đàn (Firmament):
– Part I: Volume 17, No. 1, April 2024, pp. 220-236
– Part II: Volume 17, Issue 3, October 2024, pp. 293-317
https://vietnampoetry.wordpress.com/firmament/ - Po Dharma (2013) Vương Quốc Champa – Lịch Sử 33 Năm Cuối Cùng (1802-1835). The Council for the Social-Cultural Development of Champa (Champaka).
- Nguyễn Văn Ưu (2024) Xem lại thuyết tiếng Việt Đơn Âm. Firmament (Thế Hữu Văn Đàn), Volume 16, No 4, January 2024, pp 75-91 + Volume 17, No 1, April 2024, pp 61-84: https://vietnampoetry.wordpress.com/firmament/
- Danièle Moyal-Sharrock (2016) Universal Grammar: Wittgenstein versus Chomsky. IN: A Companion to Wittgenstein on Education: Pedagogical Investigations. Eds, M. A. Peters & J. Stickney (Springer, 2016), pp. 573-600.
- Nguyễn Văn Ưu (2023) Tháp Babel và Ngôn Ngữ Ngày Xưa. Firmament (Thế Hữu Văn Đàn), Volume 16, No. 3, October 2023, pp 70-92.(https://vietnampoetry.wordpress.com/firmament/)
- André-Georges Haudricourt (2018) The origin of tones in Vietnamese. 2018. HAL Id: halshs-01678018 (https://shs.hal.science/halshs-01678018v1). Nguyên bản: De l’origine des tons en vietnamien, Journal Asiatique 242: 69-82 (1954).
- Paul Dickson (2006) Dictionary of Middle Egyptian (in Gardiner Classification Order) – The Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 2.5 License: https://archive.org/details/DictionaryOfMiddleEgyptian
- Nguyễn Văn Ưu (2023) A có phải thật là A hay không? Firmament (Thế Hữu Văn Đàn), Volume 16, No 1, April 2023, pp 92-107.
- Nguyễn Văn Ưu (2025) Từ Nguyên Học Phi Biên Giới. Firmament (Thế Hữu Văn Đàn), Volume 18, No 1, April 2025
- 漢語方言發音字典 (Chinese Dialectal Pronunciation Dictionary):
https://zh.voicedic.com/ - SEAlang Mon-Khmer Languages Project:
http://sealang.net/monkhmer/dictionary/ - Immanuel Kant (1781) The Critique of Pure Reason. Translated by J. M. D. Meiklejohn (2010-2013). The Electronic Classics Series.
- SEAlang Library Khmer (2007): http://sealang.net/khmer/dictionary.htm
- Thai Dictionary and Online Tools: http://www.thai-language.com/dict/search
- CantoDict Project: Cantonese-Mandarin-English Dictionary: http://www.cantonese.sheik.co.uk/scripts/wordsearch.php?level=0
- Từ Điển Hán Việt Trích Dẫn: http://www.vietnamtudien.org/hanviet/
- Nguyễn Văn Ưu (2025) Cấu Trúc Mới Ngôn Ngữ Cũ. Firmament (Thế Hữu Văn Đàn), Volume 17, Issue 4, January 2025, April 2023, pp 56-82.(https://vietnampoetry.wordpress.com/firmament/)
- Nguyễn Văn Ưu (2024) Âm Lịch và Ngôn Ngữ Ngày Trước. Firmament (Thế Hữu Văn Đàn), Volume 17, No. 2, July 2024, pp 203-220 // Volume 17, Issue 3, October 2024, pp 235-249: https://vietnampoetry.wordpress.com/firmament/
- J.B.P. Trương Vĩnh Ký (1924) Petit Dictionnaire Francais-Annamite (Small French-Vietnamese Dictionary). Imp. De L’Union Nguyen Van Của (Saigon).
- SEAlang Library Lao (2007): http://sealang.net/lao/dictionary.htm










