Bóng Câu Qua Cửa Sổ
Lâm Vĩnh Thế
Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan
CANADA
Thời gian qua mau. Điều này ai cũng biết. Từ ngàn xưa, Ông Bà ta đã có nhiều câu nói diễn tả cái chân lý ngàn năm đó: Giấc mông Nam Kha, Giấc kê vàng, Nồi kê chửa chin, Bóng câu qua cửa sổ, vv. Bài viết này cố gắng ghi lại những trải nghiệm về thời gian qua mau trong cuộc đời hơn 80 năm của bản thân người viết.
Mười Lăm Năm Đèn Sách (1948-1963)
Ngày xưa Ông Bà chúng ta thường dùng câu “Mười Năm Đèn Sách” để ca ngợi công phu học tập của sĩ tử trước khi được đi thi Hương để lấy bằng Cử Nhân. Từ thế kỷ thứ 20 đến nay, 10 năm chưa đủ cho người học trò hoàn tất bậc Trung Học. Thật vậy, chúng ta hảy thử tính xem:
• Bậc Tiểu Học: từ Lớp Chót (Lớp 1) đến Lơp Nhứt (Lớp 5) là 5 năm
• Bậc Trung Học, tất cả gồm 7 năm như sau:
° Đệ Nhứt Cấp: Từ Lớp ĐệThất đến Lớp Đệ Tứ là 4 năm
° Đệ Nhị Cấp: Từ Lớp Đệ Tam đến Lớp Đệ Nhứt là 3 năm
• Tổng cộng: 12 năm
Nếu tính thêm Bậc Đại Học nữa thì thời gian đèn sách để có thể lấy đươc bằng Cử Nhân của học sinh từ thế kỷ 20 trở đi phải là 15 hay 16 năm:
• Trước 1962: Bậc Đại Hoc là 3 năm
• Sau 1962: Bậc Đại Học là 4 năm
Bản thân người viết bài này đã trải qua 15 năm đèn sách để có thể hoàn tất Bậc Đại Học như sau:
• Bậc Tiểu Hoc, Trường Nam Tiểu Học Đakao: 5 năm (1948-1953)
• Bậc Trung Học, Trường Trung Hoc Petrus Ký: 7 năm (1953-1960)
• Bậc Đại Học, Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG): 3 năm (1960-1963)
Mười Tám Năm Công Tác Tại Việt Nam (1963-1981)
Dạy Học (1963-1970)
Sau khi tốt nghiệp ĐHSPSG, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về dạy môn Sử Địa cho Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre), và tôi đã dạy học tại đây 3 năm. Tháng 9-1966, tôi được Bộ thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ), và tôi đã dạy học tại đây trong 5 năm (1966-1971).
Làm Công Tác Thư Viện (1970-1981)
Năm 1970, do một bước ngoặc của định mệnh, [1] tôi đột nhiên chuyển sang làm công tác thư viện. Sau khi được Giáo Sư Hiêu Trưởng Phạm Văn Quảng (tốt nghiêp ĐHSPSG, Khóa 1 Ban Anh Văn,1958-1961, và bằng Cao Học Giáo Dục, Master of Education, Đại Học Ohio, Hoa Kỳ năm 1965) gởi đi dự một khóa huấn luyện căn bản về thư viện học do cơ quan Library Development Authority (LDA), với ông John L. Hafenrichter đứng đầu, một đơn vị của Cơ Quan Viện Trơ Hoa Kỳ (USAID = United, States Agency for International Development) tổ chức tại Sài Gòn, tôi đã làm công tác rất tốt tại Thư Viện của Trường KMTĐ. Ông Hafenrichter rất hài lòng và quyết định đề nghị và được USAID chấp thuận cấp cho tôi một học bổng đi du học 2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, Viện Đai Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University), thành phố Syracuse, thuộc tiểu bang New York. Tháng 5-1973, tôi tốt ngjiệp Đại Học Syracuse và trở về Việt Nam với bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS).
Đầu năm 1974, tôi ra ứng cử và đắc cử chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN) và sau đó được Đại Học Vạn Hanh cử nhiệm làm Giáo Sư Trưởng Ban, Ban Thư Viện Hoc (BTVH),thuộc Phân Khoa Văn Hoc và Khoa Hoc Nhân Văn. Đầu năm 1975 tôi được Giáo Sư Trân Văn Tấn, Khoa Trưởng Trường ĐHSPSG cử nhiệm làm Thư Viện Trưởng cho Trường.
Sau 30-4-1975, tôi tiếp tục trông coi thư viện cho Trường ĐHSPSG, nay đã đổi tên thành ĐHSP Thành phố Hồ Chí minh, cho đến khi ra khỏi nước đi định cư tại Canada do Anh Tư tôi bảo lãnh.
Hai Mươi Lăm Năm Công tác Thư Viện Tại Canada (1981-2006)
Tôi tiếp tục công tác trong ngành thư viện tại Canada trong 25 năm (1981-2006), trải qua nhiều chức vụ chỉ huy tại các thư viện và trung tâm thông tin của 2 tỉnh bang Ontario và Saskatchewan như sau:
• Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS) = Centre canadien d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST), là trung tâm thông tin quốc gia về an toàn lao động của Canada, từ tháng 8-1984 cho đến tháng 9-1992.
° Manager, Online Catalogue Department, 1985-1986
° Manager, Database Development Department, 1986-1988
° Manager, Database and Information Resource Development, 1988–1992
• Workplace Health and Safety Agency (WHSA), cơ quan thông tin về an toàn lao động của tỉnh bang Ontario, 1994-1997.
° Librarian/Archivist, 1994-1997
• University of Sakatchewan Library, từ 1-9-1997 đến 30-6-2006.
° Head, Cataloguing Department, 1997-2000
° Head, Technical Services Division, 2000-2003
Chức vụ sau cùng của tôi trước khi nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006 là Biên Mục Viên Cao Cấp (Senior Cataloguer) tại Thư Viện của Trường Đại Học Saskatchewan (University of Sakatchewan Library) tại thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan trong vùng Đại Bình Nguyên (Grand Prairie).
Trong thời gian này, tôi cũng đã đóng góp tích cực trong việc đào tạo nhân viên thông tin – thư viện trung cấp (Library Technician, tổng cộng vào khỏang trên 200 người) cho tỉnh bang Ontario tai hai trường đại học cộng đồng lớn của tỉnh bang như sau:
• Algonquin College tại Ottawa, 1982-1984
• Mohawk College tại Hamilton, 1985-1995
Về phương diện nghiên cứu, tôi cũng đã đóng góp mốt số bài viết cho một số tạp chí chyên ngành quan trọng của Bắc Mỹ và Úc Châu như sau:
• 2007. “Error Rates in Monograph Copy Cataloging Bibliographic Records Before and After Outsourcing at the University of Saskatchewan Library,”Cataloging & Classification Quarterly, v. 44, no. 3/4, pp. 213-220.
• 2005 “Quality Control Issues in Outsourcing Cataloging in US and Canadian Academic Libraries,” Cataloging & Classification Quarterly, v. 40, no. 1, pp. 101-122.
• 2004 “A Web-based database of CIA Declassified Documents on the Vietnam War,” Online, v. 28, no. 4, pp. 31-35.
• 2003, co-author with David Fox. “Canadian National Site Licensing Project: Getting Ready for CNSLP at the University of Saskatchewan Library,” Serials Librarian, v. 43, no. 3, pp. 39-57.
• 2001. “Outsourcing Authority Control: Experience of the University of Saskatchewan Libraries,” Cataloguing & Classification Quarterly, v. 32, no. 4, 53-69.
• 2001. “A National Library Association for Vietnam,” New Library World, v. 102, no 1166/1167 (July 2001), 278-282.
• 2001.“Organizational and Technical Issues in Providing Access to Electronic Journals,” Serials Librarian, v. 39, no. 3 (2001), 25-34.
• 2000. “Cataloguing Internet Resources : Why, What, How.” Cataloguing & Classification Quarterly, v. 29, no. 3 (2000), 49-61.
• 1999.“Issues in Library Development for Vietnam,” Asian Libraries, v. 8, no. 10 (Dec. 1999), 371-379.
• 1992 “Quality Control for a Bibliographic Database,” Canadian Journal of Information Science, v. 17, no. 1, 24-31.
Những Hoạt Động Sau Ngày Nghỉ Hưu
Sau khi nghỉ hưu, tôi đã có được nhiều thời gian hơn để làm công tác nghiên cứu, nhất là trong bộ môn Lịch Sử, ngành chuyên môn đầu tiên mà tôi đã được đào tạo từ lúc còn ở Việt Nam theo học 3 năm ở Trường ĐHSPSG, Ban Sử Địa (1960-1963).
Các Bài Viết Đã Đăng Các Tạp Chí Chuyên Môn
2008. “Tài liệu mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ liên quan đến ông Ngô Đình Diệm vào tháng 4 năm 1955”, Tập san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, số. 9 Tháng 9- 2008), trang 77-89.
2007.“Thượng Hội Đồng Quốc Gia”, Dòng sử Việt, số. 5 (Tháng 10-12/2007), trang 40-54.
2007. “Khoán Ước của Minh Hương Xã,” Tập san nghiên cứu văn hóa Đống Nai–Cửu Long, số. 7 (Tháng 9/ 2007), trang 52-63.
2007 “Cuoc “Chinh Ly” Ngay 30/1/1964 Cua Trung Tuong Nguyen Khanh, Dòng sử Việt số. 4 (Tháng 7-9/ 2007), trang 55-67.
2007.“Thủ Đức: xưa và nay”, Tập san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, số 6 (Tháng 5 / 2007), trang 173-189.
2007.“Cuộc khủng hỏang nội các tại VNCH vào cuối tháng 5 năm 1965,” Dòng sử Việt, số. 3 (Tháng 4-6/2007), trang 40-50.
2007.“Tài liệu Việt học tai Đại Hoc Cornell (2),” Dòng sử Việt, số. 3 (Tháng 4-6/2007), trang 130-140, 50.
2007.“Mật ước giữa các tướng lãnh cao cấp Việt Nam Cộng Hòa 1967,” Dòng sử Việt, số. 2 (Tháng 1-3/2007), trang 27-35, 89.
2007 “Tài liệu Việt học tại Đại Học Cornell (1),” Dòng sử Việt, số. 2 (Tháng 1-3/2007), trang 84-89.
2007. “Nhuữg sắc thái riêng biệt trong tín ngưỡng dân gian Miền Nam,”Tập san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, số. 5 (Tháng 1/2007), trang 234-252.
2006. “Đakao: một trung tâm văn hóa,” Tập san nghiên cứu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long,” số. 4 (Tháng 7/ 2006), trang197-220.
Các Sách Đã Xuất Bản
2024. Full circle: memoir of a Vietnamese-Canadian librarian. London, UK: Austin Macauley, 2024. 215 trang.
2022. Armed Forces of the Republic of Vietnam: a heroic army unjustly abandoned and left for dead. Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2022, 390 trang.
2021.Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt. Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021. 274 trang.
2021. Trường Petrus Ký trong tâm tưởng: nhớ vể trường xưa, thầy cô và bạn học. Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021. 156 trang.
2021. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: một quân đội anh hùng bị bức tử. Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021. 368 trang.
2021. The History of South Vietnam: the quest for legitimacy and stability, 1963- 1967. London, UK: Routledge, 2021. 179 trang.
2019. Vietnam, territoriality and the South China Sea: Paracel and Spratly Islands. London, UK: Routledge, 2019. 190 trang. (Routledge Security in Asia Series).
2015. The Price of freedom: exodus and diaspora of Vietnamese people. Montreal,
: Canada: Sans Frontières, 2015. 244 trang.
2010. Republic of Vietnam, 1963-1967: years of political chaos. Hamilton, ON: Hoài Việt, 2010. 295 trang.
2010. Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967: những năm xáo trộn. Hamilton, ON: Hoài Việt, 2010. 348 trang.
2008. Đakao trong tâm tưởng. Hamilton, ON: Hoài Việ, 2008. 175 trang.
2002 Bột Quy Tắc Biên Mục Anh-Mỹ Rút Gọn, 1988. Đồng dịch giả với Phạm Thị Lệ- Hương. Ấn bản lần thứ nhất. MacLean, VA: The Library and Education Assistance Foundation for Vietnam (LEAF-VN), 2002. 289 trang.
Thay Lời Kết
Nhìn lại chặng đường dài 84 năm đã đi qua trong cuộc đời, tôi thành kính tri ân Ơn Trên đã ban cho tôi quá nhiều ân huệ. Trong suốt 15 năm đèn sách tại Việt Nam (thêm 2 năm tai Hoa Kỳ), tôi đều đã thành công vượt qua tất cả các kỳ thi lấy văn bằng của hai Bậc Tiểu Hoc và Trung Học, cũng như các kỳ thi tuyễn rất khó khăn vào các ngôi trường danh tiêng của Miền Nam là Trường Trung Hoc Petrus Ký và Trường ĐHSPSG. Tôi cũng đã làm được thật tốt các nhiệm vụ được giao phó: day Sử Địa cho các trường trung hoc Kiến Hòa và KMTĐ, công tác thư viện tại KMTĐ và ĐHSPSG, giảng dạy môn Biên Mục Mô Tả và điều hành Ban Thư Viện Hoc của Đại Học Van Hanh. Sau khi định cư tại Canada từ tháng 9-1981, tôi cũng đã có nhũng đóng góp thật quan trọng cho ngành thư viện của Bắc Mỹ nói chung và của Canada nói riêng.
GHI CHÚ:
1. Lâm Vĩnh-Thế. Một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/mot-nga-re-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-the/