Bạn Hiền Hơn Nửa Thế Kỷ
Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan, 1997 – 2006
CANADA
Tôi đã có được may mắn theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại ngôi trường trung học lớn nhứt và danh tiếng nhứt của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh là Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, mà đồng bào Miền Nam thường gọi tắt là Trường Petrus Ký. Và cũng chính trong thời gian 4 năm đầu, ỡ bậc Đệ Nhứt Cấp, tôi lại có thêm một may mắn nữa là được kết thân với 8 người bạn học cùng Lớp Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957) thành một Nhóm 9 Người Bạn Thân, luôn luôn có nhau trong khi học tập cũng như khi đi chơi. Bài viết này là một cố gắng ghi lại nhưng kỷ niệm vui buồn của tôi với những người Bạn Hiền Hơn Nửa Thế Kỷ đó, mà bây giờ, ở tuổi 85 này, tôi vẫn còn nhớ được khá rõ ràng.
Danh sách học sinh Đệ Tứ F – Phần 1
Danh sách hoc sinh Đệ Tứ F – Phần 2
Sau khi đã học chung lớp với nhau trọn 3 năm đầu của bậc Đệ Nhứt Cấp, Lớp Đệ Thất F (1953-1954), Lớp Đệ Lục F (1954-1955), và Lớp Đệ Ngũ F (1955-1956), nên khi lên Lớp Đệ Tứ F (1956-1957), bọn tôi đã rất thân với nhau.
Nhóm 9 người bọn tôi gồm có các bạn sau đây với số thứ tự từ danh sách:
- Nguyễn Thanh Hải, số 7
- Nguyễn Trung Hiếu, không rõ tại sao không có tên trong danh sách
- Đinh Xuân Lãm, số 11
- Võ Văn Minh, số 44
- Trần Phục, số 25
- Phan Văn Quang, số 28
- Dương Xã Tắt, số 31
- Huỳnh Hữu Thế (Thế Huỳnh), số 33
- Lâm Vĩnh Thế (Thế Lâm), số 34
Những Bạn Đã Mãn Phần
Ở năm 2026 này, 6 người đã ra đi vĩnh viễn, chỉ 3 người còn tại thế mà thôi. Sáu người bạn đã mãn phần đó là:
- Nguyễn Thanh Hải
- Đinh Xuân Lãm
- Võ Văn Minh
- Trần Phục
- Dương Xã Tắt
- Huỳnh Hữu Thế
Nguyễn Thanh Hải (1939-2023)
Hình bạn Nguyễn Thnh Hải lúc học Lớp Đệ Nhứt A1 (niên khóa 1959-1960)
Nguyễn Thanh Hải,[1] sinh năm1939, là người bạn thân nhứt của tôi trong suốt 7 năm (1953-1960) theo học tại Trường Petrus Ký Mỗi ngày, Hải đạp xe đạp từ Thị Nghè qua Đakao để cùng tôi đi học, và trong lớp thì Hải và tôi cũng ngồi chung bàn suốt 7 năm đó.
Hè 1960, tôi thi đậu bằng Tú Tài 2 và đậu luôn vào ĐHSPSG, Hải thi rớt tất cả 2 kỳ thi của năm đó. Năm sau, Hải ghi danh vào học lớp đêm dành cho tráng niên tai Trường Nữ Tiểu Học Đakao trên đường Phan Đình Phùng để chuẩn bị thi lại vào cuối năm. Thỉnh thoảng, khoảng 8 giờ tối, Võ Văn Minh và tôi đạp xe đến trường để rủ Hải bỏ học đi uống cà phê với tụi tôi tại tiệm Hà Nội trên đường Bonard ở Sài Gòn. Cuối năm học đó, Hải thi đậu bằng Tú Tài 2, và qua Hè 1962, Hải cùng với tôi làm đơn tình nguyện vào Không Quân. Không biết ai báo tin, Mẹ tôi hay được, kêu tôi về, la rầy tôi, và khóc quá chừng. Mẹ tôi vừa khóc vừa nói như sau: “Bao nhiêu người muốn được vào học ở đó, con đã đậu rôi, lại bỏ đi. Ăn cơm dưới đất mà làm việc trên Trới! Bộ con muốn Má lo cho tới chết hay sao?” Nghe Mẹ nói những lời thống thiết như vậy, tôi đành phải bỏ cuộc, trở về trường học tiếp và tốt nghiêp ĐHSPSG vào tháng 4-1963.
Khi tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa vào ngày 6-10-1963, Hải là ngưới bạn thân nhứt của tôi lại không có mặt tại đám cưới vì lúc đó Hải đang học lái máy bay trực thăng tại Hoa Kỳ.
Hè năm 1964, Hải, với cấp bậc Chuẩn Úy hiện dịch, mang đôi cánh bạc về nước và được điều về phục vụ tại Phi Đoàn 217 Trực Thăng, thuộc Không Đoàn 64 Chiến Thuật, Sư Đoàn 4 Không Quân tại Cần Thơ. Năm 1970, với cấp bậc Đại Úy, Hải đã chi huy các phi tuần trực thăng vũ trang tấn công sang Kampuchia.
Câp bậc và chức vụ sau cùng của Hải vào ngày 30-4-1975 là Trung Tá, Phụ Tá Tư Lệnh Không Quân Đặc Trách Về An Phi tại căn cứ Tân Sơn Nhứt.
Sau ngày 30-4-1975, Hải bị đi tù cải tạo ở Miền Bác khoảng 14 năm. Mấy năm sau, Hải đưa được gia đình đi định cư tại Mỹ, thành phố Lansing, tiểu bang Michigan, theo chương trình HO. Được tin này tôi rất mừng vì 2 lý do: 1) Lansing tường đối gần Hamilton nên vợ chồng tôi có thể lái ixe qua thăm vợ chồng Hải rất dễ dàng; 2) Ở Lansing đã có gia đinh bạn Huỳnh Hữu Hân, một bạn th6n của Hải và tôi lúc học bậc Đệ Nhị Cấp ở Trường Petrus Ký, có thể gúp đở cho gia đình Hải lúc mới đến định cư.
Vợ chồng tôi đã sang Lansing thăm vợ chồng Hải nhiều lần. Mấy năm sau, được tin vợ chồng Hải đã mua được nhà, tụi tôi cũng đã sang thăm để mừng nhà mới của vợ chồng Hải.
Khi vợ chồng tôi làm đám cưới cho Trung, đứa con trai nhõ, vợ chồng Hải có qua dự dám cưới:
Đám cưới Trung + Quân – Vợ chồng Hải là số 2-3 hàng ngồi từ trái qua.
Sau đó, vợ chồng tôi đã mấy lần sang Lansing thăm vợ chồng Hải và chúng tôi đã có được tấm ảnh ăn cơm chung với nhau tại nhà Hải như sau:
Ăn cơm tại nhà Hải ở Lansing năm 2012
Thật không ngờ đó lại là tấm ảnh cuối cùng Hải và tôi chụp chung với nhau. Sau khi vợ chồng Hải dọn về Modesto, California để được gần con gái và các cháu ngoại, Hải và tôi không còn có dịp gặp nhau nữa cho đến khi Hải mãn phần vào ngày 22-9-2023.
Đinh Xuân Lãm (1940-2011)
Hình bạn Đinh Xuân Lãm chụp khoảng năm 1990
Tôi và Lãm [2] quen nhau từ năm 1953 khi thi đậu vào Trường Petrus Ký và cùng được xếp vào Lớp Đệ Thất B6 (niên khóa 1953-1954). Được nửa năm, tên lớp được đổi thàng Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp này đã được giữ mãi cho hết đệ nhứt cấp: Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955), Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956), và Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957). Hè 1957, Lãm và tôi đều đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp. Tưu trường niên khóa 1957-1958, hai chúng tôi cùng lên lớp đệ tam, nhưng không còn học chung lớp nữa, Lãm học Ban B (Toán) còn tôi thì học Ban A (Khoa Học Thực Nghiệm).
Hè 1960 Lãm và tôi cùng đậu bằng Tú Tài 2. Sau đó, tôi thi đậu vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa và Lãm thì tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 17, tức Khóa Lê Lai, khai giảng ngày 11-11-1960, và bế giảng ngày 30-3-1963. Ra trường, với cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch, Lãm tình nguyện về phục vụ binh chủng Thủy Quân Lục Chiên (TQLC), và được điều về làm Đại Đội Phó (Đại Đội Trưởng lúc đó là Trung Úy Phạm Nhã), Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 2 (về sau nổi danh là Tiểu Đoàn Trâu Điên).
Trận đánh đầu tiên trong binh nghiệp của Lãm là Trận Đầm Dơi tại Cà Mau và đó là chiến thắng lớn nhứt trong năm 1963 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Lãm được đi phép về Sài Gòn, và, nhờ vậy, Lãm đã làm rể phu cho tôi trong đám cưới của tôi với Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Võ Văn Minh.
Sau đó, Lãm đã tham dự rất nhiều trận đánh lớn của TQLC. Câp bậc và chức vụ cuối cùng vào ngày 30-4-1975 của Lãm là Thiếu Tá, Ti\ểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Ngô Văn Định.
Sau ngày 30-4-1975, Lãm phải đi cải tạo tại Miền Bắc hơn 10 năm. Năm 1990, Lãm được đi định cự tại San Jose, Nam California, Hoa Kỳ, theo diện HO (Humanitarian Operation = Chiến Dịch Nhân Đạo), dành cho các cựu sĩ quan của QLVNCH đã bị đi học tập hơn 3 năm.
Hè 1992, nhơn dịp đám cưới con gái của Trần Phục, Lãm đã cùng với Phục và hai Thế chúng tôi có được tấm ảnh quý hiếm chụp trước nhà Phục như đã trình bày bên trên.
Sau đám cưới con gái của Phục, tôi đưa vợ chồng Lãm – Lệ và đứa con trai trở về San Jose, và hôm sau thì tôi bay về Toronto. Lãm và tôi tiếp tục giữ liên lạc qua thư từ và điện thoại, và tôi vui mừng được biết gia đình Lãm đã từng bước ổn định cuộc sống tại Hoa Kỳ, và hai đứa con trai đều học hành có kết quả rất tốt, tốt nghiệp ra trường và đều có công ăn việc làm vững vàng.
Mùa Thu năm 2007, sau khi tôi đã nghỉ hưu, vợ chồng tôi bay sang California để thăm bà con và bạn bè. Trong dịp này, vợ chồng tôi đã dành thì giờ đi San Jose thăm hai vợ chồng Lãm – Lệ. (chính trong đám cưới của vợ chồng tôi năm 1963, Lãm là rể phụ cho tôi và Lệ là dâu phụ cho vợ tôi; hai ngườ đã quen nhau từ đó, yêu nhau, và sau cùng đi đến hôn nhân và sinh được 2 đứa con trai), Chúng tôi đã có được tấm ảnh kỷ niệm hiếm quý cho cuộc gặp gỡ này:
Vợ chồng Lãm – Lệ và vợ chồng tôi trước nhà Lãm – Mùa Thu 2007
Thật không ngờ đó là lần cuối cùng tôi được gặp lại Lãm. Ngày 21-6-2011, Lãm mất đột ngột ở tuổi 71. Đám tang Lãm đã được Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam tai Hoa Kỳ tổ chức rất trọng thể, có cả Lễ Phủ Quốc Kỳ:
“Lý do rất là chính đáng: Thiếu Tá Đinh Xuân Lãm, Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, chức vụ cuối cùng là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 TQLC, đã trọn đời chinh chiến, luôn sát cánh với đồng đội, và được sự thương yêu của cấp dưới cũng như được cấp trên đánh giá cao. Trước khi đột ngột qua đời, trong một lần lâm bệnh, Thiếu Tá Lãm đã được chính các cấp chỉ huy đến tận nhà thăm viếng như trong tấm ảnh bên dưới đây:
Hình chụp tại nhà Lãm: người đứng bên trái là Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, cựu Tư Lệnh TQLC; người bắt tay Lãm là Đại Tá Ngô Văn Định, cựu Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 468 TQLC
Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến làm lễ chào kính trước khi di quan
Võ Văn Minh (1940-2018)
Hình bạn Võ Văn Minh chụp khoảng năm 1960
Trong các bạn thân Lớp Đệ Tứ F, Võ Văn Minh [3] là người bạn có một mối quan hệ đặc biệt với cá nhân tôi, mà về sau tôi không còn “mày tao” nữa mà phải gọi là Anh Hai đàng hoàng vì năm 1963 tôi đã lập gia đình với Võ Thị Nhơn Nghĩa là em gái duy nhứt của Minh.
Minh bản tính hiền lành, vui vẻ và nhứt là có lòng với anh em bạn bè. Nhà Minh luôn luôn là nơi tụ họp của các bạn bè, ngay cả sau ngày 30-4-1975 cũng vậy., như trong tấm ảnh bên dưới đây lúc Đinh Xuân Lãm sau hơn 10 năm cải tạo ở ngoài Bắc được thả về:
Buổi nhậu tại nhà Minh – từ trái qua; Nguyễn Văn Phơi, Hà Kim Phước, Nguyễn Thanh Hải, Võ Văn Minh, Phan Văn Long, Phan Văn Quang, và Đinh Xuân Lãm
Về mặt học vấn, Minh không được may mắn. Năm 1957, sau khi thi rớt kỳ thi lấy bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thay vì xin ở lại lớp để năm sau thi lai, vì tự ái, Minh đã bỏ trường ra học Lớp Đệ Nhị C của Trường Trung Học tư thục Cửu Long. Minh nghĩ rằng mình kém Toán, Lý Hóa, không thể học Ban A hay Ban B được, nên đã chọn Ban C. Đây là một sai lầm tai hại. Cả bọn chúng tôi, lúc đó còn nhỏ quá, đâu có hiểu là Ban C thật ra còn khó hơn các Ban B và Ban A nữa vì sẽ rất nặng về phần sinh ngữ Pháp Văn và Anh Văn, là hai môn học mà Minh đều yếu kém. Vì vậy mà kết quả là Minh đã thi rớt kỳ thi Tú Tài 1 Ban C năm 1958. Minh chán nản, bỏ học luôn, và ra đi làm. Nhờ sự giới thiệu của người anh chú bác ruột, anh Võ Thành Đức, Chánh Sở F22, Cảnh sát Đặc Biệt, Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, Minh được nhận vào làm thư ký đánh máy cho Ty Cảnh Sát Gia Định.
Minh lập gia đình với chị Bùi Thị Kim Hoàng (cùng tên họ với vợ của Huỳnh Hữu Thế) và có được 3 con, 1 trai và 2 gái. Gia đình chị Hoàng có một ngôi trường tiểu học tư thục nhỏ ở Gò Vắp do Bà Ngoại chị Hoàng trông coi, và nhờ vậy, Minh đã chuyển qua dạy học. Đầu năm 2018, nghe tin Minh đau nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để bay về Việt Nam nhưng vẫn không kịp, Minh đã mất vào ngày 3-2-2018, thọ 78 tưổi.
Trần Phục (?-2018)
Hình bạn Trần Phục chụp khoảng năm 1990
Trần Phục [4], không rõ sinh năm nào, nhưng tôi nghĩ là có thể lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi Gia đình Phục tương đối khá giả, có một cơ sở khá lớn, buôn sỉ chén bát trong Quận 5, Chợ Lớn. Phục tính tình hiền lành và rất tốt với bạn bè.
Sau khi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 1957, Phục thi vào Trường Cán Sự Y Tế, hệ 3 năm. Ra trường, Phục được bổ nhiệm làm Y Tá tại Tổng Y Viện Cộng Hòa và Phục đã làm việc tại đây cho đến ngày 30-4-1975. Cũng chính tại đây, Phục đã gặp được người vợ tương lai của mình.
Sau khi vượt biên thành công và được Mỹ nhận, gia đình Phục đã định cư tại Anaheim, Bắc California, và Phục đã sống tại thành phố này cho đến khi mãn phần vào ngày 21-12-2018.
Dương Xã Tắt (?-1965)
Hình bạn Dương Xã Tắt chụp tháng 10-1963
Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Dương Xã Tắt [5] lớn tuổi nhứt, mà cũng to con nhứt, và có tiền nhiều nhứt vì ba Tắt là một đại điền chủ giàu có lớn tại Bến Lức, thuộc tỉnh Tân An (về sau đổi tên thành Long An). Tánh Tắt rất có lòng với bạn bè, và cũng rất rộng rãi nên mỗi lần đi chơi chung cả nhóm với nhau, khi góp tiền, ai không có đủ thì Tắt đều ứng ra cho, hoàn toàn không nề hà gì cả.
Sau khi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt cấp, cuối niên khóa 1956-1957, Tắt thi và đậu vào Trường Quốc Gia Sư Phạm, Hệ CấpTốc, chỉ học một năm thôi. Sau khi tốt nghiệp, Tắt được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Lức, thuộc tỉnh Long An. Ngày 6-10-1963, tôi lập gia đình với Nhơn Nghĩa, và trở thành em rể của Võ Văn Minh. Tắt đã từ Bến Lức lên Sài Gòn để dự tiệc cưới của vợ chồng tôi đêm hôm đó tại Nhà Hàng Đồng khánh trong Chợ Lớn:
Hình Tắt tại tiệc cưới của tôi: Tắt là người thứ ba từ trái qua (chỉ thấy profile)
Mấy tháng sau, Tắt bị động viên vào Khóa 17, là Khóa Nguyễn Thái Học (từ 13/1/1964 đến 22/10/1964), khóa cuối cùng của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức (vào lúc giữa Khóa 17 này, ngày 1/7/1964, Trường được đổi tên thành Trường Bộ Binh Thủ Đức).
Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy, nhờ sự vận động của gia đình, Tắt được bổ nhiệm về một đơn vị Địa Phương Quân ngay tại Bến Lức. Bạn bè chúng tôi ai cũng mừng cho Tắt, coi như là Tắt đã được “mang chữ Thọ” rồi. Thật không ngờ, trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Cộng, Tắt bị thương và tử trận vì không được tải thương kịp. Lúc đó vợ Tắt đang mang thai được 6 tháng đứa con đầu lòng của vợ chồng Tắt. Ngày đưa tang Tắt, tôi đã không đến tiễn bạn được vì đang bận coi thi Tú Tài I tại Cần Thơ. Chỉ có Võ Văn Minh đại diện các bạn Lớp Đệ Tứ F đến tiễn đưa Tắt mà thôi.
Huỳnh Hữu Thế (1939-2006)
Hình bạn Huỳnh Hữu Thế chụp năm 1993
Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Huỳnh Hữu Thế [6] là người giỏi môn Toán nhứt Mỗi khi cần ôn bài để chuẩn bị thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là học kỳ) hay thi bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thì bọn tôi đều tụ tập tại nhà Võ Văn Minh và Thế đứng ra hướng dẫn anh em ôn tập Toán.
Hè 1957, sau khi dậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp như cả nhóm, Thế đã tao ra một kỳ tích cho Trường Petrus Ký là Thế đã đi thi và đậu luôn cả bằng Tú Tài 1, Ban B (ban Toán),, tức là Thễ đã nhảy lớp, mà nhảy cả 2 lớp, từ Đệ Tứ lên thẳng Đệ Nhị.
Vì vậy, khi tưu trường niên khóa 1957-1958, trong khi bọn tôi lên lớp đệ tam, thì Thế đã học lớp đệ nhứt rồi, nhưng Thế phải chuyển qua học Trường Chu Văn An vì Trường Petrus Ký lúc đó vẫn còn áp dụng chính sách cấm học sinh nhảy lớp.
Hè 1959, Thế đậu bằng Tú Tài 2, cũng Ban Toán, và sau đó cũng đậu luôn vào năm thứ nhứt của Trường Đai Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Toán. Vì vậy, đầu năm học 1959-1960, trong khi bọn tôi lên lớp đệ nhứt, chuẩn bị để đi thi bằng Tú Tài 2 vào cuối năm, thì Thế đã là một sinh viên của ĐHSPSG rồi.
Nhưng cũng bắt đầu từ năm này, Thế đã phải dương đầu với rất nhiều khó khăn. Thứ nhứt, Thế bị bệnh đau đầu rất nặng, hậu quả của việc dùng quá nhiều thuốc chống ngủ trong lúc hoc nhảy lớp đó. Thứ hai, vợ Thế dan díu với một nhân viên của Tòa Đai Sứ Thụy Sĩ, nơi vợ Thế làm thư ký, và đã bỏ Thế, và mang 2 đứa con gái nhỏ đi theo người nhân viên đó về Thụy Sĩ luôn. Kết quả là Thế bị rơi vào một cuộc khủng hoảng tinh thần rất trầm trọng. Chương trình học của ĐHPSG là 3 năm nhưng Thế phải học đến 6 năm vì năm nào cũng bị rớt và phải ở lại lớp. Khi tốt nghiệp ĐHSPSG vào năm 1965, Thế đã đậu Thủ Khoa và được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ). Nhưng chỉ dạy được một niên khóa (1965-1966) thì Thế bỏ trường, tình nguyện vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức. Nhưng nhờ vậy, qua 6 tuần lễ huấn nhục, ngày giờ đâu mà suy nghĩ về chuyện buồn của gia đình, Thế đã vượt qua được khủng hoảng tinh thần đó.
Sau khi ra trường, Thế được bổ về Trường Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu. Thế dạy học ở đó được 1 năm thì được Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt. Tại đây Thế đã may mắn gặp được chị Bùi Thị Kim Hoàng, lúc đó đang là luật sư tập sự, hai người yêu nhau và đi đến hôn nhân, sinh được 1 đứa con trai đặt tên là Phong. Phong giống cha nên cũng học rất giỏi, vế sau đậu PhD và đi sang Phi Châu giúp các nước nghèo.
Sau ngày 30-4-1975, Thế phải đi cải tạo mấy năm. Khi Thế được thả về, Chị Hoàng đã tổ chức cho hai cha con Thế đi vượt biên ngay, và, rất may mắn, ngay trong chuuyến đi đầu tiên, hai cha con Thế đã đi thoát, được Mỹ nhận cho vào định cư tại thành phố Newport, thuộc tiểu bang Connecticut. Được tin vui này, tôi và bà xã cùng với đứa con trai nhỏ là Trung đã sang thăm hai cha con Thế ngay và chúng tôi đã có được tấm hình chụp chung sau đây tại khuôn viên của Trường Đai Học MIT (Massachusetts Institute of Technology) tại thành phố Boston:
Tử trái qua: một người bạn của Thế, Trung, con nhỏ của vợ chống tôi, bà xã tôi và tôi, Phong, con trai của Thế, và Thế.
Sau đó, chính Chị Hoàng, không chờ Thế bảo lãnh, cũng đã đi vượt biên và, rất may mắn, Chị cũng đã thành công, được Mỹ nhận và đoàn tụ được với hai cha con Thế.
Năm 1992, Trần Phục gởi thiệp mời dự đám cưới của đứa con gái lớn, tôi điện thoại cho Thế và được biết Thế cũng đã nhận được thiệp mời rồi. Hai Thế chúng tôi cùng quyết định bay xuống Anaheim, Nam California, nơi vơ chồng Phục đang sống, để dự đám cưới. Cùng lúc tôi cũng được tin Đinh Xuân Lãm đã qua đến Mỹ theo diện HO, và đã định cư tại San Jose, Bắc California. HO là chữ viết tắt cho Humanitarian Operation, chương trình của Chính phủ Mỹ nhằm đưa người sang định cư tại Mỹ dành riêng cho các cưu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị cải tạo trên 3 năm.
Tôi mua vé máy bay và bay xuống San Jose. Tại đây tôi mướn một chiếc xe hơi nhỏ, đến nhà Lãm, và chở vợ chồng Lãm với đứa con nhỏ là Tùng đi xuống Anaheim. Chuyến đi mất gần 6 giờ, và suốt đoạn đường đi dài khoảng 600 km đó, tôi và Lãm nói chuyên liên tục vì có biết bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe sau khi bị chia cách nhau mười mấy năm trời. Đến nhà Phục thì đã gần 2 giờ sáng, Thế đã có mặt tại đó rồi. Bốn người bọn tôi, bên mâm trà do vợ Phục dọn ra, nói chuyện đến gần sáng, vợ Phục phải giục chúng tôi ngưng câu chuyện, đi ngủ vài giờ trước khi bên nhà trai đến rước dâu vào lúc 11 giờ.
Sau khi ăn sáng xong và trước khi bên nhà trai đến rước dâu, bọn tôi đã ra trước nhà Phục chụp một tấm ảnh kỷ niệm như sau:
Từ trái qua: Thế Lâm, Phục, Thế Huỳnh, và Lãm chụp trước nhà Phục – Hè 1992
Hè năm sau, hai vợ chồng Thế với hai vợ chồng Phục cùng đi du lịch sang Canada, và đã đến thăm hai vợ chồng tôi và chúng tôi đã có được tấm ảnh chụp chung với nhau như sau:
Phục và vợ chồng Thế Huỳnh và vợ chồng tôi tại Mississauga – Hè 1993, hình do vợ Phục chụp
Mấy năm sau đó, chúng tôi vẫn giữ liên lạc, khi thì điện thoại, khi thì điện thư. Thế mất ngày 20-10-2006 vì bị đột quỵ khi chạy bộ buổi sáng trên bãi biển ở gần nhà. Vợ Thế quá đau buồn nên không thông báo cho bạn bè ai cả. Một hôm Phục gọi phone qua thăm mới biết Thế đã mất và báo tin cho tôi.
Những Bạn Còn Tại Thế
Nguyễn Trung Hiếu
Hình bạn Nguyễn Trung Hiều chụp năm 1993
Tôi không rõ năm sinh của Hiếu nhưng tôi nghĩ có lẽ Hiếu lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi. Hiếu là người bạn ra đời sớm nhứt trong bọn tôi. Ngay trong lúc còn đang học ở bậc Đệ Nhứt Cấp, Hiếu đã đi làm, bán vé tại Trường Đua Ngực Phú Thọ, và, vì vậy, đã được anh em đặt cho biệt danh là “Hiếu Ngựa Đạp.” Hiếu cũng là người lập gia đình sớm nhứt nhưng Hiếu không được may mắn về đường hôn nhân. Hiếu bị vợ bò đi lấy chông khác, và hiên nay Hiếu sống với đưa con gái tại thành phố San Diego, tiểu bang California, Hoa Kỳ.
Phan Văn Quang
Hình bạn Phan Văn Quang chụp khoảng nắm 1990
Tôi không rõ Quang sinh năm nào nhưng có lẽ lớn hơn tôi độ 1-2 tuổi. Sau khi đậu bằng Tú Tài 2, Quang có học Đại Học Khoa Học Sài Gòn một thời gian, rồi bỏ học, tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 19, tức là Khóa Nguyễn Trãi, khai giảng ngày 23-11-1962 và mãn khóa ngày 28-11-1964
Ra trường, Quang được điều về Trung Đoàn 52 Biệt Lập tai Phước Tuy và bị thương rất năng trong một trận đánh lớn tại đây, đã tưởng là sẽ không qua khỏi được rồi. Chính Huỳnh Hữu Thế, lúc đó là sĩ quan cán bộ của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Táu, cho biết là đã được lệnh chuẩn bị đi gác xác cho Quang. Nhưng rồi như có phép lạ, Quang qua khỏi và bình phục nhưng bị xếp vào loại 2, tức là “không tác chiên.” Sau đó, Quang về phục vụ tại Biệt Khu Thủ Đô cho đến ngày 30-4-1975.
Sau khi đi cải tạo về, Quang được đi Mỹ và định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington cho đến ngày hôm nay.
Lâm Vĩnh-Thế
Tác giả bài viết này sinh năm 1941, tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Khóa 3 (1963), Ban Sử Địa, và Cao Học vể Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) tử Trưởng Thư Viện Học, thuộc Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University) vào năm 1973, định cư tại Canada từ năm 1981, hiện sống tại thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario.
Thay Lời Kết:
Thời gian qua mau như bóng câu qua cửa sổ. Mới đó mà đã hơn nửa thế kỷ rồi. Những thiếu niên của lứa tuổi 15-16 của Lớp Đệ Tứ F năm học 1956-1957 nay đã là những lão niên ở tuổi “Bát Tuần” hết cả rồi. Sàu người bạn trong “Nhóm 9 Người Bạn Thân” đó đã vĩnh viễn ra đi, để lại bao đau buồn, thương tiếc cho gia đình và các bạn còn tại thế. Tôi muốn nhắn với các bạn đã ra đi như sau: “Rồi đây tất cả bọn mình cũng sẽ gặp lại nhau thôi. Các Bạn Chờ Hiếu, Quang, và tôi nha.”
GHI CHÚ:
1. Lâm Vĩnh-Thế. Tình bạn giữa Hải và tôi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/tinh-ban-giua-hai-va-toi-lam-vinh-the/
2. Lâm Vĩnh-Thế. Bạn tôi Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Đinh Xuân Lãm, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/ban-toi-thieu-ta-tqlc-dinh-xuan-lam-lam-vinh-the/
3. Lâm Vĩnh-Thế. Điểm danh lại nhóm bạn thân Đệ Nhứt Cấp tại Trường Petrus Ký, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/diem-danh-lai-nhom-ban-than-de-nhat-cap-tai-truong-petrus-ky-lam-vinh-the/
4. Lâm Vĩnh-Thế. Điểm danh lại nhóm bạn thân…, tài liệu vừa dẫn bên trên.
5. Lâm Vĩnh-Thế. Điểm danh lại nhóm bạn thân…, tài liệu vừa dẫn bên trên.
6. Lâm Vĩnh-Thế. Bạn tôi Giáo Sư Toán Huỳnh Hữu Thế, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/ban-toi-giao-su-toan-huynh-huu-the-lam-vinh-the/



















