Anh Tư của tôi, tên Lâm Vĩnh-Tế, là người con thứ 7 của Ba Mẹ tôi, sinh ngày 12-12-1939 tại Sài Gòn, nhằm ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Mão, và mất tại Montréal, tỉnh bang Québec, Canada, vào ngày 18-02-2000, nhằm ngày 14 Tháng Giêng Năm Canh Thìn, thọ đúng một kỷ 60 tuổi.  Bài viết này cố gắng ghi lại những gì mà, hiện ở tuổi 84 rồi, tôi vẫn còn nhớ được về người anh mà tôi rất thương yêu này .

Anh Tư Lúc Còn Đi Học Tại Việt Nam 

Anh Tư bắt đầu học tiểu học vào niên khóa 1945-1946 tại Trường Tiểu Học Nam Đakao.  Lúc đó tôi chưa đi học, nhưng vẫn còn nhớ cái hôm nổ kho đạn tại Sài Gòn (ngày 9-4-1946), Ba tôi chạy xe đạp vào Trường chở Anh Tư về nhà và sau đó cả gia đình dắt díu nhau chạy vào lánh nạn trong Đình Minh Hương Gia Thạnh [1] trong Chợ Lớn: Ba tôi dẫn xe đạp đi trước có Anh Tư ngồi trên bọt-ba-ga, kế đến là Anh Tốt dẫn mẹ ảnh là Má Sáu (em gái kế của Mẹ tôi), rồi đến Chị Hai, Chị Ba, và Mẹ tôi dẫn tôi đi sau cùng.  

Năm 1950, Anh Tư đậu bằng Certificat (Certificat d’Études Primaires Franco-Indigènes, viết tắt là CEPFI, về sau, khi đã độc lập, thì gọi là Văn Bằng Tiểu Học), nhưng sau đó Anh Tư thi rớt kỳ thi tuyển vào Lớp Première Année (về sau gọi là Lớp Đệ Thất) của Trường Petrus Ký nên phải học thêm một năm tại Trường Đakao ở Lớp Tiếp Liên (Cours Certifié), và, năm sau, Hè 1951, thì Anh Tư đậu vào Petrus Ký, và đó là Lớp Première Année cuối cùng của Chương Trình Pháp tại Trường Petrus Ký.   Hai năm sau, Hè 1953, khi tôi thi đậu vào Trường Petrus Ký thì đó đã là Lớp Đệ Thất của Chương Trình Việt rồi.  

Có lẻ do muốn lấy lại một năm bị mất vì phải học Lớp Tiếp Liên, Anh Tư đã học nhảy lớp, và cuối năm Lớp Troisième Année (niên khóa 1954-1955, về sau gọi là Lớp Đệ Ngũ), Anh Tư đã đi thi và đậu Bằng Brevet (thay thế cho Bằng Diplôme của những năm trước đó; tức là Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp sau này).  Sau đó, Anh Tư đã liên tiếp đậu Bằng Tú Tài Pháp, Phần I (Baccalauréat, Première Partie, Hè năm 1957) và Bằng Tú Tài Pháp, Phần II (Baccalauréat, Deuxième Partie, Hè năm 1958, ban Math-Élem, tức là Ban Toán, viết tắt của Mathématiques Élémentaires).  Đầu niên khóa 1958-1959, Anh Tư vào học năm thứ nhứt tại Trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn (ĐHKHSG, Faculté des Sciences, Université de Saigon), và liên tiếp trong hai năm Anh Tư đậu được 2 chứng chỉ, cả 2 đều vào hạng Bình Thứ (Mention Assez-Bien): 1) MPC, viết tắt của Mathématiques-Physique-Chimie, tức là Toán-Lý-Hóa, năm 1959; và, 2) Chimie Générale, tức là Hóa Học Đại Cương, năm 1960).   Anh nộp đơn xin học bổng với Chương Trình Kế Hoạch Colombo (Colombo Plan), và được học bổng đi du học Canada vào cuối Hè 1960. 

Anh Tư Du Học Tại Canada

Vì vốn học vấn của Anh Tư hoàn toàn bằng tiếng Pháp, khi sang Canada Anh Tư đã được sắp xếp theo học tại Trường Đại Học Montréal (Université de Montréal) thuộc tỉnh bang Québec là tỉnh bang nói tiếng Pháp của Canada.  Tỉnh bang Québec công nhận 2 chứng chỉ của ĐHKHSG nên Anh Tư được chấp nhận cho học thẳng lên năm thứ ba của chương Trình Cử Nhân Khoa Học (Bachelor of Science – BSc), và sau hai năm, 1962, Anh Tư đã đậu bằng BSc với Hạng Ưu Magna Cum Laude.   

Thông thường, phần lớn, nếu không muốn nói là hầu hết, các sinh viên Việt Nam được học bổng của Kế Hoạch Colombo, học ở Canada, Úc, hay Tân Tây Lan, trong đó có rất nhiều người là bạn học của tôi tại Trường Petrus Ký nên tôi biết rất rõ, đều phải về nước sau khi đậu xong bằng cử nhân.  Tôi thật sự tin rằng chính nhờ sự vận động rất tích cực của các vị giáo sư của Anh Tư tại Trường Đại Học Montréal mà chính phủ Canada tiếp tục gia hạn visa và cấp học bổng để Anh Tư được ở lại tiếp tục học lên bậc cao học và tiến sĩ.  Và Anh Tư đã đậu bằng Cao Học (Master of Science, MSc) năm 1964, và Bằng Tiến Sĩ (Ph.D.) về ngành Hóa Lý (Physical Chemistry) vào năm 1967 tại Đại Học Montréal.   

Luận án tiến sĩ của Anh Tư có tựa đề là: “Étude microcalorimétrique de la thermocinétique de démixtion des systèmes binaires liquides. Montréal: Université de Montréal, 1967.  (Ph.D. thesis). 

Ngay trong năm 1967, sau khi Anh Tư đậu xong Bằng Tiến sĩ, Anh Tư đã được Hội Đồng Nghiên Cứu Quốc Gia của Canada (Canada National Research Council = CNRC) tại Ottawa, thủ đô của Canada, cấp học bổng Fellowship trong hai năm để tiếp tục làm nghiên cứu trong chương trình hậu-tiến-sĩ (Post-Doctoral Research Program).  Trong thời gian hai năm đó, Anh Tư đã có được tất cả 8 công trình nghiên cứu đăng trong các tạp chí chuyên môn về hóa học như sau:

1. 1968.   Microcalorimetric study of the separation of liquid binary systems. Part I / by M. Rinfret, V.T. Lam, Journal de chimie physique et de physico-chimie biologique, v. 65, no. 9 (1968), p. 1457-1464. 

2. 1969.  Excess thermodynamic functions of cyclopentane-carbone tetrachloride mixtures / by T. Boublik, V.T. Lam, S. Murakami, G.C. Benson, Journal of Physical Chemistry, v. 73, no. 7 (1969), p. 2356-2360.   

3. 1969.  Thermodynamic properties of binary aromatic systems.  II. Excess enthalpies and volumes of benzene + toluene and toluene + isomeric xylene mixtures at 25°C / by S. Murakami, V.T. Lam, G.C. Benson, Journal of Chemical Thermodynamics, v. 1, issue 4 (1969), p. 397-407. 

4. 1970.  Molar excess enthalpies and volumes of cyclohexane – isomeric decalin system at 25°C / by G.C. Benson, S. Myrakami, V.T. Lam and J. Singh, Canadian Journal of Chemistry, v. 48, no. 2 (1970), p. 211-218. 

5. 1970.  Molar excess enthalpies, volumes and Gibbs free energy of methanol – isomeric butanol systems at 25°C / by J. Polak, S. Murakami, V.T. Lam, H.D. Pflug, G.C. Benson, Canadian Journal of Chemistry, v. 48, no. 16 (1970), p. 2457-2465. 

6. 1970.  Molar excess enthalpies, volumes, and Gibbs free energies of methanol – isomeric butanol systems at 25°C / by J. Polak, S. Murakami, V.T. Lam, H.D. Pflug, G.C. Benson, Canadian Journal of Chemistry, v. 48, no. 16 (1970), p. 2457-2465. 

7. 1970.  Surface tensions of binary liquid systems.  I. Mixtures of nonelectrolytes / by V.T. Lam, G.C. Benson, Canadian Journal of Chemistry, v. 48, no. 24 (1970), p. 3773-3781. 

8. 1970.  Thermodynamic properties of binary aromatic systems.  III. Excess enthalpies and volumes of isomeric xylene mixtures at 25°C / by V.T. Lam, S. Murakami, G.C. Benson, Journal of Chemical Thermodynamics, v. 2, issue 1 (Jan. 1970), p. 17-25.  

Sau khi xong chương trình hậu-tiến sĩ tại CNRC, Anh Tư được Trường Đại Học Sherbrooke, tỉnh bang Québec, tuyển dụng làm Giáo Sư Ban Hóa Học cho Trường.  Anh Tư đã dạy tại đây trong hai năm (1969-1971).  Sau đó, theo lời mời của một người bạn cùng học Tiến Sĩ tại Đại Học Montréal, lúc đó đang là Giáo Sư Trưởng Ban Hóa Học của CEGEP [2] Bois-de-Boulogne tại Montréal, Anh Tư đã về dạy ở CEGEP này.  Hai năm sau, khi người bạn xong nhiệm kỳ Trưởng Ban, Anh Tư đã được các bạn đồng nghiệp bầu lên làm Trưởng Ban, và Anh Tư đã đảm nhận chức vụ này từ năm 1973 cho đến khi Anh Tư từ chức vào giữa năm 1999 khi Anh bắt đầu bị bệnh ung thư gan, và sau đó không bao lâu Anh Tư đã mất vào đầu năm 2000.

Anh Tư và Gia Đình

Như đã trình bày bên trên, không như phần lớn các sinh viên Việt Nam du học với học bổng của Colombo Plan đã về nước sau khi đậu bằng cử nhân, Anh Tư đã ở lại Canada trong nhiều năm để học lên bậc Cao Học và Tiến Sĩ.  Chính trong thời gian này (1962-1967) Anh Tư đã quen biết một người phụ nữ Canada gốc Québec tên là Raymonde Charron.  Hai người yêu nhau và đi đến quyết định chung sống với nhau mà không cần làm đám cưới (union libre), và rất có thể do ảnh hưởng của chị Raymonde mà Anh Tư đã quyết định không về Việt Nam nữa.   

Được tin này, Mẹ tôi không được vui nhưng cũng đành phải chấp nhận thôi.  Sau đó, Mẹ tôi viết thư sang bắt Anh Tư phải làm đám cưới cho đàng hoàng và nói Anh Tư lấy kích thước của Chị Raymonde gởi về Việt Nam để Mẹ tôi ra tiệm may áo dài và gởi sang Canada cho Chị Raymonde mặc trong lễ cưới.  

Sau khi làm nghiên cứu được một năm trong chương trình hậu-tiến-sĩ, đầu năm 1968, Anh Tư quyết định về Việt Nam thăm Mẹ và gia đình trong dịp Tết vì đã xa nhà 8 năm rồi.  Thật không may cho Anh Tư vì Anh về ngay đúng vào thời gian của cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân của Việt Cộng.  Cả gia đình đã lên Phi Trường Tân Sơn Nhứt đón Anh Tư vào sáng Chúa Nhựt 28-1-19068, theo âm lịch là ngày 29 Tết năm Mậu Thân.  Anh Tư chỉ vui Tết được có một ngày duy nhứt: đó Mùng Một Tết Mậu Thân.  Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân của Cộng quân nổ ra ngay từ giữa khuya ngày Mùng Một Tết, và đó là lần đầu tiên Anh Tư cùng với người dân thủ đô Sài Gòn được thật sự nếm mùi chiến tranh.   Tiếng súng nổ khắp nơi, đến một lúc nghe như nổ ngay trên nóc nhà của chúng tôi tại số 54 đường Nguyễn Phi Khanh thuộc Quận Nhứt.  Anh Tư sợ quá và chui xuống trốn dưới gầm giường, cái giường nhỏ mà Mẹ tôi cho kê ngay trong phòng khách để làm chỗ ngủ tạm cho Anh Tư trong thời gian này.   Từ phòng ngủ bên gian trong nhà, tôi chạy ra kéo Anh Tư ra khỏi gầm giường và nói cho Anh Tư biết đó tiếng nổ của súng đại liên trên trực thăng vũ trang, có thể là của Không Quân Việt Nam hay của Mỹ, và, với tiếng nổ rầm rầm nghe như bò rống như vậy ngay trên nóc nhà thì mục tiêu của đạn đại liên phải ở cách đó hàng mấy trăm thước, nên không có gì phải sợ.   Tôi cũng nói rõ đó là do kinh nghiệm tôi có được trong thời gian dạy học ở Kiến Hòa (1963-1966).  Thế là Anh Tư yên tâm và, sau khi trò chuyện với tôi thêm một lúc, Anh Tư lên giường ngủ lại.  Mấy ngày sau, theo lệnh của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, nhằm truy kích, cô lập và bắt giữ các cán binh Việt Cộng đã xâm nhập vào thù đô, tất cả thanh niên nam nữ đều phải đến trình diện tại các địa điểm do các ty và chi cảnh sát địa phương chỉ định.   Anh Tư và tôi phải đến trình diện tại sân của Đình Sơn Trà tọa lạc tại ngay ngã ba của hai đường Nguyễn Phi Khanh và Huyền Quan.  Chúng tôi phải ngồi chồm hổm tại sân đình cả giờ ngoài nắng để làm thủ tục và được cấp cho một giấy biên nhận về nơi cư trú trong thành phố.   Trong thời gian này, bên Canada, chị Raymonde xem tivi và thấy được các cảnh đánh nhau giữa Việt Cộng và các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QLVNCH) ngay trong thành phố Sài Gòn, dĩ nhiên là lo sợ cuống cuồng nhưng đâu có cách gì liên lạc được với Anh Tư.  Nên nhớ là trong thời đó đâu có điện thoại nhà nhiều như bây giờ, cell phone thì chưa có, Canada lại không có bang giao chính thức với VNCH, mọi việc đều phải qua Tòa Đại Sứ của Anh Quốc tại Sài Gòn.  Các tòa đại sứ của tất cả các nước tại Sài Gòn lúc đó đều đóng cửa hết, đâu có làm việc.  Mãi đến một hay hai tuần, sau khi QLVNCH đã làm chủ được tình thế tại thủ đô, thì các tòa đại sứ mới mở cửa trở lại.  Tôi đã đưa Anh Tư ra Tòa Đại Sứ Anh Quốc, nằm ngay góc ngã tư hai đường Thống Nhứt và Mạc Đĩnh Chi, kế bên trụ sở của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, và đối diện với Rạp Thống Nhứt, nơi xổ số Kiến Thiết Quốc Gia vào mỗi tuần, để làm thủ tục lấy chiếu khán vào Hong Kong, lúc đó vẫn còn là một thuộc địa của Anh Quốc.  Nhờ chiếu khán mà Tòa Đại Sứ VNCH tại Hoa Kỳ đã đóng trong thông hành của Anh Tư ghi rõ là “Nhập Nội và Tái Xuất,” Anh Tư đã không gặp khó khăn nào cả lúc vào Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia ở đường,Võ Tánh để lấy chiếu khán ra khỏi Việt Nam.  Tuy nhiên, khi Anh Tư rời Việt Nam để trở về Canada thì gia đình chỉ được đưa tiễn Anh Tư tại đường Hàm Nghi nơi có trụ sở của Hãng Hàng Không Cathay Pacific để Anh Tư lên xe buýt vào Phi Trường Tân Sơn Nhứt lúc đó vẫn còn có lệnh cấm không cho thường dân Việt Nam vào.  Sau đó, Anh Tư không bao giờ dám trở về Việt Nam nữa, ngay cả vào đầu năm 1974 khi gia đình tổ chức mừng lễ Thất Tuần cho Mẹ tôi, Anh Tư vẫn không về dự, và, trong quyết định đáng tiếc này, tôi tin chắc, Chị Raymonde đã có tác động rất lớn.

Anh Tư Bảo Lãnh Cho Gia Đình Chị Hai Vào Canada 

Vào khoảng gần cuối tháng 4-1975, trước tình hình nguy ngập của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), Anh Tư đã gởi về giấy tờ để bảo lãnh cho gia đình đi Canada.  Chị Hai và tôi đã ra Tòa Đại Sứ Canada tại đường Nguyễn Du gần ngã ba với đường Lê Văn Duyệt (sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào ngày 27-1-1973, Canada mới thiết lập bang giao chính thức với VNCH, và vì vậy mới có Tòa Đại Sứ tại Sài Gòn), để xin làm thủ tục cho gia đình đi Canada.  Nhân viên Tòa Đại Sứ Canada trả lời cho biết chúng tôi phải xin giấy thông hành (passport) từ Bộ Ngoại Giao của Chính phủ VNCH trước, có passport rồi thì họ mới nhận giấy bảo lãnh để làm visa nhập cảnh.  Cách xử lý của Tòa Đại Sứ Canada thật hết sức vô lý, vô cảm và vô trách nhiệm vì tại thời điểm đó VNCH sắp sụp đổ đến nơi, các cơ quan chính phủ đâu còn làm việc như hồi thập niên 1960 nữa mà giải quyết theo lối bình thường như vậy.   Ngược lại, cũng trong thời gian đó, rõ ràng là Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đã giúp di tản “được trên 7.800 người (kể cả Mỹ và Việt Nam, với đa số là người Việt)” [3] mà có đòi hỏi những người này có passport gì đâu. Sau này, đài CBC (Canadian Broadcasting Corporation) đã có một phóng sự lớn lên án rất nặng nề cách làm việc vô trách nhiệm và vô nhân đạo đó của các viên chức Tòa Đại Sứ Canada tại Sài Gòn trong khoảng thời gian cuối tháng 4-1975.   Trước tình hình hoàn toàn bế tắc về phía Canada, Chị Hai và tôi quyết định chuyển sang hướng tìm cách đi Mỹ vì, cũng như tôi được học bổng USAID đi du học 2 năm tại Hoa Kỳ, Chị Hai cũng đã từng được học bổng của USAID đi tu nghiệp 6 tháng tại Hoa Kỳ.  Chúng tôi ra văn phòng của USAID nằm trên đường Lê Văn Duyệt ngó ngang cổng sau của Vườn Tao Đàn.  Tại đây, chị em tôi đã lấy được giấy giới thiệu của USAID để lên Phi trường Tân Sơn Nhứt, vào văn phòng của DAO (Defense Attaché Office), để làm manifest lên máy bay.  Chuyện bất ngờ xảy ra là khi chị em tôi nói chuyện với Mẹ chúng tôi thì Mẹ từ chối không đi, Mẹ tôi nói: “Má già rồi còn đi đâu nữa, tụi con cứ đi đi, Má ở lại không sao đâu.”  Chị em tôi làm sao có thể bỏ Mẹ lại mà đi.   Thế là cả chị em chúng tôi đều bị kẹt lại hết tại Sài Gòn sau ngày 30-4-1975.  
Sau khi thật sự sống dưới chế độ Cộng Sản được hai năm, và đã thấy rõ bản chất tàn bạo, và vô luân của chế độ, người dân Miền Nam bắt đầu liều chết vượt biển đi tìm tự do.   Theo ước tính của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees), đã có từ 200.000 đến 250.000 thuyền nhân đã bỏ mạng trên biển.[4]  Đầu 1979, gia đình Chị Hai quyết định ra đi theo lối “bán chinh thức” [5] cho được an toàn.  Chị Hai phải chung 48 cây vàng cho bọn tổ chức vì gia đình Chị gốm tới 4 người: Anh Chị và hai đứa con gái.  Sáng ngày 21-01-1979 (theo âm lịch là Ngày 23 Tháng Chạp năm Mậu Ngọ), gia đình Chị Hai đi xuống quận Bình Đại (Bến Tre), và lên một chiếc tàu sắt rất lớn, chứa trên 2000 người, tên là Skyluck.[6]

Trước tiên, chiếc Skyluck đi xuống phía Nam, thả neo ngoài khơi cảng Tân Gia Ba, và giao vàng cho nhóm tổ chức.  Sau đó, tàu Skyluck chạy lên hướng Bắc và đổ người xuống bờ biển Phi Luật Tân.  Mới đổ được khoảng 800 người thị bị Hải Quân Phi phát hiện,và phải bỏ chạy lên hướng Bắc, tiến về Hong Kong.   Hải Quân Phi đã thông báo cho chính quyền Hong Kong nên khi còn cách Hong Kong độ 2 km thì tàu bị chặn lại không cho vào cảng.  Thuyền Trưởng và toàn bộ thủy thủ đoàn đều bị bắt để điều tra, hành khách bị cấm rời tàu.  Cao Ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc đã đến ngay để giúp đỡ các thuyền nhân.  Tình trạng bế tắc này kéo dài đến 6 tháng cho đến khi tàu Skyluck bị một trận bão lớn đánh va vào đá, tàu bị thủng một bên hông và nước tràn vào, có cơ tàu sẽ bị chìm.  Lúc đó chính quyền Hong Kong mới di tản thuyền nhân và đưa vào giam giữ tại Chi Ma Wan là một nhà tù cũ của Hong Kong đã bỏ hoang từ lâu.  Trong thời gian ở Chi Ma Wan, chẳng may Chị Hai bị muỗi độc cắn vào chân và làm độc, sưng to làm Chị Hai đi lại rất khó khăn.  Vài tuần lễ sau, một phái đoàn của Bộ Di rú Canada đã đến Chi Ma Wan làm việc, và gia đình Chị Hai đã được ưu tiên cao, đưa sang Canada ngay.  Khi đến Edmonton, họ đưa ngay Chị Hai vào bệnh viện để cứu chữa.  Sau khi Chị Hai bình phục thì cả gia đình mới được đưa sang Montréal để đoàn tụ với Anh Tư.  Trong thời gian Chị Hai còn ở trên tàu Skyluck đang bị cấm không vào cảng, thì tại Việt Nam Mẹ tôi bị tai biến mạch máu não và qua đời vào ngày 4-7-1979, hưởng thọ 75 tuổi.  Anh Tư đã gởi về cho tôi 3.000 đô la Canada, và nhờ vậy tôi đã có thể lo được một đám tang thật tốt, đàng hoàng cho Mẹ tôi.  Sau lễ hỏa táng, tro hài cốt của Mẹ tôi đã được đưa vào thờ tại Chùa Vạn Thọ Cổ Tự ở Tân Định.  Anh Tư đã giữ kín, không báo cho Chị Hai việc Mẹ tôi qua đời cho đến khi Chị Hai đã hoàn toàn bình phục.  

Anh Tư Bảo Lãnh Cho Gia Đình Tôi Vào Canada

Trước năm 1979, đã nhiều lần Mẹ tôi cho tôi vàng để đi vượt biên nhưng các chuyến đi đều thất bại.  Trước khi Mẹ tôi qua đời, Anh Tư đã có viết thơ về bảo tôi đừng đi vượt biên nữa, hãy chờ Anh làm thủ tục để bảo lãnh cho gia đính tôi di dân sang Canada.   Trước đó, Anh Tư đã từng gởi về giấy tờ bảo lãnh cho gia đình vào cuối tháng 4-1975 như đã trình bày tại trang 3 nhưng mọi việc không thành, lở dở hết cả và bị bỏ luôn không ai nhắc lại cả.  Bây giờ Anh Tư phải làm lại giấy tờ bảo lãnh hoàn toàn mới cho riêng gia đình tôi. 

Việc đăng ký hồ sơ xin đi Canada của gia đình tôi không gặp khó khăn gì cả vì hoàn toàn hợp lệ.  Nhưng việc lấy cho được cái giấy xuất cảnh thì thiên nan vạn nan, kéo dài đúng 2 năm, từ lúc đăng ký vào cuối tháng 9-1979 cho đến ngày 23-9-1981 mới ra khỏi Việt Nam, qua bao nhiêu khó khăn và tốn kém cũng không phải là ít.[7]

Nửa năm đầu, gia đình tôi phải sống tại Montréal vì đó là nơi cư trú của người bảo  lãnh là Anh Tư   Hai đứa con trai của tôi phải học tại các trường trung-tiểu học dạy bằng tiếng Pháp.  Tôi thật sự không muốn và không thích chuyện này, vì, theo suy nghĩ của tôi, tương lai của các con tôi là tại lục địa Bắc Mỹ này, nơi chỉ có hơn 10 triệu người nói tiếng Pháp trong một cộng đồng trên 300 triệu người nói tiếng Anh.  Do đó, khi tìm được việc làm hợp đồng (Contract job) tại thủ đô Ottawa của Canada, thuộc tỉnh bang Ontario, nói tiếng Anh, từ dầu tháng 4-1982, với mức lương là 21.000 đô la Canada một năm, tôi mừng vô cùng và lập tức đưa gia đinh dọn sang sinh sống tại Ottawa.  Việc này làm mất lòng Anh Tư và Anh đã giận tôi cả năm trời mới làm lành lại.   Xin nói thêm một chút về chuyện chọn nơi cư trú này của tôi.  Trong thời gian hơn nửa năm sống tại Montréal, tôi đã nộp hơn 80 cái đơn xin việc tại các thư viện trong toàn tỉnh bang Québec nhưng hoàn toàn không có kết quả gì cả, ngay cả việc mời đến để interview thôi cũng không có, chỉ vì bằng MLS của tôi là từ một đại học của Mỹ.  Điều đó cho thấy rõ cái bản chất kỳ thị người Anh, tiếng Anh của người dân Québec.  Việc kỳ thị này càng đậm nét hơn khi Đảng Québecois (Parti québecois) lên nắm chính quyền, và ban hành đạo luật công nhận tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của tỉnh bang Québec và cấm không cho các cơ sở thương mại sử dụng bảng hiệu bằng tiếng Anh,  Tôi đã phải nhận một công việc làm lao động chân tay ban đêm, từ 4 giờ chiều đến 12 giờ khuya, trong một kho hàng, với lương tối thiểu là 4,25 đô la Canada một giờ (khoảng 8.500 đô la Canada một năm) để có tiền nuôi sống gia đình (mặc dù lúc đó Anh Tư vẫn còn tài trợ cho gia đình tôi).  Thời gian đó là mùa Đông đầu tiên của tôi tại Canada.  Nhiều đêm, lúc tan việc, đứng chờ xe buýt giữa cái lạnh kinh người, tôi không cầm được nước mắt vì quá tủi thân: từ một giáo sư đại học ở Việt Nam mà giờ đây tại Canada tôi đã rơi xuống đáy cùng của xã hội làm một tên cu-li trong một kho hàng.

Sau khi rời khỏi tỉnh bang Québec, tôi đã có thể từng bước xây dựng lại sự nghiệp trong ngành chuyên môn thư viện của tôi. Khi nghỉ hưu vào đầu tháng đến 7-2006, tôi đã đạt đến cấp bậc cao nhứt của một quản thủ thư viện đại học tại Bắc Mỹ (Librarian 4) và được Viện Đại Học Saskatchewan ban cho danh hiệu cao quý Librarian Emeritus:

Danh Sách Librarian Emeritus của Đại HọcSaskatchewan- Tên tác giả được ghi là Lam, V. 

Bốn Chị Em Đoàn Tụ

Sau khi cuộc sống của gia đinh tôi cũng như công ăn việc làm cua tôi đã hoàn toàn ổn định, tôi tiến hành thủ tục bảo lãnh cho gia đình Chị Ba của tôi:gồm 4 người: Chị Ba và 3 đứa con (Anh Ba không đi vì còn phải lo cho Mẹ và hai người dì đã già yếu ở Việt Nam).  Nhờ vậy bốn chị em tôi đã có được một tấm ảnh chụp chung hiếm quý này: 

Hình Bốn Chị Em – Từ phải qua: Anh Tư, Chị Hai, Chị Ba, và tác giả. 

Anh Tư Mãn Phần

Gần cuối năm 1999, ngày 12-12-1999, tôi mang gia đình về Montréal để mừng snh nhựt thứ 60 của Anh Tư.   Lúc đó Anh Tư đã bị bệnh unh thư gan rồi nhưng tôi không được biết.   Sau Lễ Giáng Sinh năm 1999, Anh tư bị xuất huyết khá năng phải nhập viện.  Tôi lái xe mang gia đinh về Montréal thăm Anh.  Tôi vẫn còn nhó đến ngày hôm nay câu nói cuối cùng của Anh Tư như sau: “Trong đời, Anh chỉ có một ân hận lớn là đã uống rượu.”  Ngày 18-02-2000 Anh Tư vĩnh viễn ra đi,  Bản thân tôi và gia đình rất đau lòng trước thái độ quái lạ, không thể hiểu được của Chị Raymonde Charron, vợ Anh Tư: hoàn toàn không thăm viếng, chăm lo, săn sóc gì cả cho Anh Tư trong suốt thời gian Anh nằm bệnh viện cũng như trong thời gian mấy ngày tang lễ của Anh Tư.   Lý do mà Chị Raymonde đã đưa ra là Chị sợ ở gần người bệnh và người chết, nhưng Chi đã quên một điều quan trọng, rất quan trọng: người bệnh và người chết đó là ngươi chổng đã thương yêu và đã chung sống gần 40 năm của Chị.   Sau ngày Anh Tư mất, tôi và gia đình cắt đứt mọi liên hệ vói Chị Raymonde cho đến khi Chị qua đời hai năm sau đó.

Thay Lời Kết: 

Cho đến ngày từ giả cuộc đời này, tôi sẽ không bao giờ quên được Anh Tư Lâm Vĩnh-Tế của tôi, một người con có hiếu với Mẹ, một người anh/em biết thương yêu chi/ em của mình, và một người chồng tốt, thương yêu vợ mình cho đến lúc mãn phần.  Anh cũng là một nhà nghiên cứu khoa học và là một giáo sư đại học giỏi.  Chỉ tiếc một điều Anh chỉ thọ được đúng một kỷ 60 năm, nếu không, sự nghiệp của Anh còn có thêm nhiều đóng góp cho đất nước mà Anh đã chọn làm quê hương thứ hai của mình.  

GHI CHÚ:

1. Lâm Vĩnh-Thế.  Những gian truân trong hành trình di dân sang Canada, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/nhung-gian-truan-trong-hanh-trinh-di-dan-sang-canada-lam-vinh-the/

2. Đình Minh Hương Gia Thạnh, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  Tuyển tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế: Đình Minh Hương Gia Thạnh (tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com)  Gia đình bên nội tôi là ngươi Minh Hương, và Ông Cố tôi, cụ Lâm Quang Kiền, với chức vụ Đại Đồng Sư, chính là người đứng đầu ủy ban chịu trách nhiệm xây cất ngôi đình vào năm 1901, tức là năm Thành Thái Thứ 13. 

3. CEGEP là chữ tắt của Collège d’enseignement général et professionnel là loại trường cao đẳng được chính phủ tài trợ của tỉnh bang Québec; sinh viên tốt nghiệp các trường này, với văn bằng Diplôme d’études collégiales, mới được vào học tại các trường đại học. 

3. Di Tản Khỏi Sài Gòn Cuối Tháng 4 Năm 1975: Chiến Dịch Frequent Wind, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  Tuyển tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế: Di Tản Khỏi Sài Gòn Cuối Tháng 4 Năm 1975: Chiến Dịch Frequent Wind (tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com)

4. Vietnamese Boat People, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_boat_people

5. Thư Khanh.  Đi vượt biên bán chính thức, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://freedom-vaca.org/2024/08/05/vdbhk-hoi-ky-van-thi-si-thu-khanh-di-vuot-bien-ban-chinh-thuc/

6. Story of the Skyluck, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.bing.com/search?q=Storyof+the+Skyluck&form=ANSPH1&refig=68ccc2fc4b864e43a5cbbc1ffdaa1251&pc=U531