Xung quanh chuỗi ngọc đứt rời

Vũ Ký

Trọng kính dâng Đức Bà để tạ ơn Ngài.

Tôi rưng rưng xúc động ngập tràn khi nhớ lại câu chuyện diễn ra từ hơn hai mươi năm về trước. Run lên trong một cảm giác siêu hình khi nhìn ngắm chuỗi ngọc đứt rời đựng trong chiếc bánh lễ khô cứng màu xám mà tôi mang về từ cuộc hành hương DO Thái vào năm 1987, loại bánh lễ làm bằng bột mì mà cha hướng dẫn – linh mục Nguyễn Chí Thiết – cho mọi người biết từ bao nghìn năm trước, Đức Chúa Con và Mẹ cũng đã nếm đến. Cho hay một sự việc nằm kín trong tâm hồn chúng ta đều sống âm thầm theo ba chiều : chiều không gian, chiều thời gian và chiều hoài niệm và ở đây còn thêm chiều Thánh Linh vĩnh cửu. Càng nhớ lại câu chuyện sôi nổi, mãnh liệt, tôi cảm thấy như mới xãy ra ngày hôm qua nhờ cường độ hồi tưởng của chiều kỷ niệm. Càng khơi động trong tiềm thức càng nhớ vô vàn đến Đức Mẹ Vô Nhiễm, càng vô vàn cám ơn Thánh Mẫu. Và hồi sinh câu chuyện, người viết tầm thường, bé nhỏ, hạn tiện nầy cũng chỉ để vinh danh Người, cực cao, cực trọng mà mọi người trên toàn thể thế gian này đều muốn cống hiến Đức Tin của mình vào người Con của Mẹ, toàn năng, toàn thiện, đó là Chúa Cứu Thế.

o0o

Chuỗi ngọc rời màu xanh, luôn luôn có trong người tôi, từ trước đến sau ngày 30-4-75 bỏ trong một ngăn bọc danh dự nhất của cái bóp da sờn cũ của mình, tôi đã cất dấu chuỗi ngọc thiêng liêng ấy như một hiện thực của sinh mạng mình. Đó là một dây chuyền nhỏ bằng « thau » rỉ sét xám xịt, đeo vào ba mươi cái hột nho nhỏ…xanh sáng loáng màu bích ngọc mà một bà bạn ở Pháp tặng tôi, lúc bà đi hành hương ở Lourdes về, vào năm 1962. Ở đầu và cuối, treo lủng lẳng hai mẫu tượng Đức Mẹ mà ai cũng nhận biết, một cái hình một bà Thánh nữa… Khó mà biết bà Thánh nào ! Tôi ghim kỹ chuỗi hạt ấy bất ly như một bùa hộ mệnh, có hiệu lực hơn tất cả mọi thứ bùa trên thế gian, nhất là ở giữa một thời cuộc đen tối, hiểm nghèo nhất của đất nước và của sinh mệnh dân tộc mà không chắc gì bản thân mình sống sót được.

Tôi nhớ rõ như mới ngày hôm qua… Buổi tối trời năm ấy 1977 ở lần tù thứ ba của tôi kể từ sau 1975 – sáu tên công an áo vàng và hai tên bận thường phục là Nguyễn Văn Chỉ và Trần Văn Sáu đột nhập nhà tôi ở đường Kỳ Đồng, bộ mặt đằng đằng sát khí… Chúng giữ vợ con tôi và tôi ở phòng khách và tự đi tìm mọi tủ kệ, lục lọi, xốc tung toé các sách vở, giấy tờ của tôi khắp nơi trong nhà, quyết tìm cho được những bằng chứng là tôi đang âm mưu thực hiện một tổ chức bí mật chống phá chúng nó hay ít nhất tôi cũng đang có ý đồ vượt biển vượt biên cùng một số đồng chí khác.

Sau một giờ làm mưa làm gió, tra hỏi, lục xét, hăm dọa vợ con tôi chúng xích tay tôi và dẫn ra khỏi nhà, mang theo một số sách vở, tài liệu, bản thảo v.v… của tôi. Gia đình chúng tôi biết rằng tôi bị chúng bắt lần nầy là lần thứ tư – nếu kể thêm hồi Việt Minh 1945 nữa. Và không có hy vọng trở về với tự do, vì riêng chúng tôi với bọn Việt cộng có cả mối thù truyền kiếp. Phe nầy là địch thủ quyết liệt với phe kia.Cùng đi với chúng, ra đến đầu ngõ, tôi bỗng nghe sau lưng mình có thiếng chân thình thịch vội vã chạy theo : cháu gái lớn của tôi kịp vừa trao cho tôi vừa thở hổn hển nói trong nước mặt : « Ba cầm chuỗi hạt nầy để đọc kinh hằng ngày cầu Đức Mẹ! » Tôi vội vàng cầm lấy bỏ vào trong bọc áo trên, ép tay vào chuỗi hạt mà lòng rưng rưng nhiều cảm xúc, giữa sự ngơ ngác cuả bọn công an cứ tưởng rằng đấy là những đồng bạc lẻ, con tôi cẩn thận trao cho tôi…

Riêng tôi, tự nghĩ rằng: « Đây rồi, « Người » đoái thương mình, đi theo mình, giữ mạng cho mình, giữa bao nhiêu bất trắc hiểm nghèo đang chờ đợi mình trong những ngày sắp đến ».

Hơn một tháng trời, nằm trong xà lim tăm tối ở Bót Cảnh Sát Đô Thành, mỗi ngày chỉ đi ra ánh sáng hơn một tiếng đồng hồ, tôi không bao giờ rời chuỗi hạt để cầu nguyện vào buổi sáng và buổi tối, âm thầm mân mê từng hột chuỗi và đăm đăm ngấm nhìn vào tượng Đức Mẹ, trầm ngâm suy tưởng.

Hoàn cảnh cá nhân thật khốn đốn, cay nghiệt, vận mệnh đất nước sa lầy trong vùng tử điạ bởi lộng hành của các ác quỷ đang lên ngôi xây dựng điạ ngục khắp quê mình.

Quyền năng con người quả là vô hiệu cho sự giải thoát của thế nhân bé bỏng, ai cũng chỉ còn biết tin vào quyền lực của thần thánh siêu hình huyền linh cực cao cực trọng mà thôi, như riêng tôi đã âm thầm từ lâu tin vào Thiên Chúa và Đức Mẹ Vô Nhiễm để tìm đường giải thoát cho cá nhân và gia đình.

Bây giờ, tôi nhớ rất minh mẫn vài ý trích từ Kinh Viếng Đức Bà Maria mà tôi được đọc hồi nào: « Ông thánh Bonaventura đã phán: Hễ ai chẳng dám xin ơn lành cùng Đức Mẹ, lại làm sỉ nhục Đức Mẹ nữa » hoặc lời của thánh Bênađô đã cầu cùng Đức Mẹ: « Đức Mẹ là mọi sự cậy trông. Spes nostra, salve ». Một buổi sáng nọ im lìm trong cảnh tuyệt vọng, tôi mân mê chuỗi hột mà đọc một lời nguyện tắt :

« Xin Mẹ rất nhơn lành, xin hãy làm cho con đặng hết lòng trông cậy Đức Mẹ và chạy đến cùng Đức Mẹ luôn.. » thì cánh cửa sắt bỗng kêu lên một tiếng két vang dội khắp khám đường u tối… Và tôi được lịnh dời đi nơi khác.

Một cuộc hành trình dài rất mệt nhọc, đầy lo âu phập phồng gần 1.000 cây số ngồi trên chiếc xe 4 x 4 cùng với 6 bạn tù cũng người đất Quảng. Chúng tôi từ Sài Gòn di chuyển đến nhà lao Tạm giam Hội An. Ở đây sống kéo dài trong 11 tháng trời, khốn khổ, đói khát, bị kìm kẹp nhưng tôi vẫn nhất quyết tin tưởng gần như một nhật lịnh ngiêm trọng với tâm tư mình là: Còn có chuỗi hột nầy là còn Đức Mẹ ở trong tôi, trong nhân thể của tôi, tức là tôi nhất định được cứu sống, mặc bao nhiêu đoạ đầy, hiểm nguy giăng ra trước mặt. Đến lần tù nầy là lần tù thứ 6 kể cả tù C.S. và tù Quốc Gia của tôi, nhưng chính lần nầy mới là lần quyết định sự sinh tử hơn bao giờ hết gắn liền với định mệnh của mình nhưng tôi không sợ. « Haec tota fiducia me! » – « Mẹ là trót sự lòng con trông cậy », « Lạy Mẹ rất yêu dấu! Con xin phó dâng trót mình con cho Đức Mẹ và con trông cậy lòng lành Đức Mẹ cứu trót cả đời con » (Câu kinh nầy đối với tôi, gần như câu nhật tụng – và hồi sang Do Thái năn 1987, trước bàn thờ ở Bethlem và Naziarét tôi đã khấn nguyện cùng Người nhiều lần cũng với câu kinh bất tử nầy)….

Rồi một buổi sáng nọ chúng tôi đang ủ rũ ngồi trong phòng giam bít kín ở trại tù Hội An, các tên công an áo vàng bất ngờ vào từng phòng, ra lệnh tất cả mọi tù nhân cấp tốc mang tất cả áo quần vật dụng của mình ra ngoài sân để chúng xét phòng: không một ai được cất giữ tiền bạc, giấy tờ, các đồ vật sắt nhọn hay giấy bút mà nội quy trại nghiêm cấm, nếu phát hiện bất tuân, sẽ bị trừng phạt nặng vì các vật « quốc cấm » ấy, nếu có, là có ý để trốn trại hoặc giao lưu liên lạc với bên ngoài.

Tôi không lo âu cho 10 đồng bạc mà tôi cất dấu từ lâu trong xắc, nhưng phập phồng lo sợ nhiều cho chuỗi hạt của tôi. Tôi run lên và cuống quýt bối rối vì không tìm ra nơi cất dấu an toàn. Bỗng nảy ra ý nghĩ táo bạo là nhờ một người tù lực lưỡng làm cái thang cho tôi leo lên vai, đứng thẳng người, với lên phía tường cao; phía sau cầu tiêu, nhét chuỗi hạt bọc trong mảnh giấy nylon, vào đường kẻ nứt của góc tường, che lấp bởi hai mảnh tôn… Và tôi yên trí lắm…Và rồi tôi làm dấu thánh giá trên bảo vật của tôi nhiều lần… Nhất định chúng không làm sao phát hiện. Dù chúng có mang theo đũ dụng cụ nào giây và thang, móc sắt, nào túi vải, bốn tên công an bước vào trèo lên các nấc tường, các bục cao, lục soạn moi móc mọi ngõ ngách trong căn phòng và trên trần nhà… Chúng cố tìm các giấy tờ, thông báo tin tức với nhau giữa tù nhân hoặc các mẩu truyền đơn, mẩu giấy viết lời lẽ phản động hoặc những vũ khí, dao, kéo, kìm, búa, vật nhọn, vật sắt…

Và lục lọi khắp nơi, rà trên các đầu tường, các lỗ nứt, các kẽ hở trên vách đá gạch rất lâu, cuối cùng chúng cũng moi ra được nhiều đồ vật cất dấu bí mật. Hởi ôi ! trong đó có chuỗi hạt của tôi… và nhiếu món tiền lặt vặt khác của tù nhân… Thế rồi tập họp toàn phòng, chúng thông báo kết quả xét phòng và nghiệt ngã hăm dọa trừng phạt tất cả.

Riêng tôi, chúng có lời kết tội : « Nào anh không khai báo thành khẩn lại vi phạm nội quy của trại, còn lưu giữ các bùa mê, chuỗi hạt nhảm nhí, gieo rắc dị đoan mê tín để chống phá cách mạng… » Suốt buổi chiều ấy đến tối, chúng buộc tôi làm kiểm điểm ba lần để moi thêm những hành vi, tư tưởng và ý đố phản động của tôi, nếu có.

Bỗng ngày hôm sau, một tên quản giáo bận đồ dân sự, vào mở cửa phòng và bảo tôi ra vọng gác trước mặt, y bảo tôi dịch cho y một thông báo ngắn về hành chánh bằng tiếng Pháp… Nhân câu chuyện soát phòng hơi lắng dịu, vẻ mặt chúng bớt sắt máu, tuy bản chất đầu trâiu mặt ngựa vẫn còn, tôi lựa lời nói nhỏ nhẹ nói với y : « Hôm qua xét phòng, các cán bộ có tịch thu của tôi một chuỗi hột xanh, có đeo Thánh giá và hình Bà Thánh… đó là kỷ vật thiêng liêng của tôi mà khi rời khỏi nhà ở Sàigòn đi về Hội An, con tôi đã trao cho tôi, để tôi cất giữ làm kỷ niệm. Xin nhờ cán bộ… Tôi mới nói đến đó thì y hầm hầm nét mặt : « Nầy anh muốn gì ?… Anh muốn vào xà lim nằm không có ngày ra phải không ? Anh muốn xin lại chuỗi Thánh Giá ấy hả ? Vào đây còn bày đặt tuyên truyền kinh kệ, duy tâm tôn giáo, bày đặt đep Thánh Giá bậy bạ phản lại nội quy của trại, chính sách của Đảng, không an tâm học tập, tu dưỡng.

– Tôi xin cán bộ cho tôi lại…Cán bộ cho tôi lại. Tôi đánh liều van vỉ. Thưa đó là kỷ niệm. Quả tôi đánh một ván bài may rủi khi năn nỉ xin lại chuỗi hột thánh trong tay một tên ác quỷ tép riu vốn tôn thờ chủ nghĩa tam vô. Và tôi không tuyệt vọng vì tôi có nuôi ảo vọng nào đâu ! Cũng không màng đến một tơ hào hy vọng là xin lại được chuỗi ngọc. « Bọn mày có tịch thu nghìn vạn chuỗi ngọc cũng vô hiệu đối với tao. Chúng mày không bao giờ cướp được vô số chuỗi hột vô hình thiêng liêng cất giữ muôn đời ở trong tim, trong óc tao và của bao người khác »… Tôi chờ đợi những chuỗi dài lời mắng nhiếc nên không tức giận mà cũng không phẫn nộ trước sự từ chối quyết liệt của y, nhưng hy vọng được lại chuỗi hột thì không có chút nào.

Ngày hôm sau, sau khi vào phòng điểm danh rồi, buổi chiều vẫn tên cán bộ lầm lỳ ấy gọi tôi ra hiên, có ý đứng khuất cánh cửa sắt và thản nhiên nói với tôi : « Đây nầy, tôi cho lại anh chuỗi hột đó. Các đống chí kia tịch thu của anh rồi vứt vào thùng rác ở nhà bếp. Tôi bỏ giấc ngủ trưa, đào cốc mấy thùng rác đầy bo bo dơ dáy, may tìm lại được tôi đem cho anh đó. Anh cất dấu kỹ và không nói rằng tôi cho anh lại… Anh nhớ đó. Cũng không đem ra đọc kinh kệ gỉ. Tôi run lên mừng rỡ và cám ơn y. Trước nỗi vui của tôi nét mặt y vẫn thản nhiên… Tôi đăm đăm nhìn chuỗi hột, dínhđầy những đất, cám, bo bo… Chuỗi ngọc giả xanh mất đi nhiều hột, chỉ còn vỏn vẹn sáu hột nằm rời rạt trên dây chuyền đứ thành hai. May quá, Thánh Giá và hai tượng Đức Mẹ và Bá Thánh mà tôi không đoán ra là ai, vẫn còn nguyên vẹn nhưng không sáng loáng như xưa. Tôi miên man suy nghĩ… Một tên cán bộ cộng sản vô thần lại chịu khó mất thì giờ tìm lại cho mình một đồ vật không có chút giá trị nào đối với hắn ! Và phản lại chủ nghĩa duy vật vô thần của hắn ! Hẳn có một sự sai khiến vô hình nào cấp thiết lắm thúc bách nó tìm cho kỳ được chuỗi hột để trao trả cho mình mà nó không ý thức được. Tôi chù rửa chuỗi hột, chà mài Thánh Giá và hai mẩu tượng nhỏ, trân quý như bổn mạng của mình ; mắc lại những cái vòng nhỏ thật khít và chặt chẽ rồi bỏ vào bọc áo trên, cài ghim cẩn thận… Chỉ trong những giây phút hiểm nghèo nhất của cuộc đời, tôi mới cảm nhận sâu nặng rằng phẩm vật nầy là một cái phao giữ niềm hy vọng lớn không hơn một sợi tóc và là linh vật cứu tử cho mình.

Từ đây, tôi trân quý nó vô vàn và mỗi buổi mai thức dậy thật sớm và mỗi tối, trong cảnh đêm khuya vắng lặng của nhà tù, tôi đều lấy ra lần hột lẩm nhẩm nguyện cầu. Tôi càng tin cao độ vì sự « Châu về hiệp phố » nầy quả thật không xãy ra hai lần và phải có cái gì huyền bí ở đây.

Sau hơn một năm trời, tôi được chuyển trại cùng nhiều phạm nhân khác… lần nầy lên tận rừng thiêng Tiên Lãnh giáp biên giới Lào… Tôi nghĩ rằng đối với bọn ác thú mặt người này, trong hoàn cảnh đầy hiểm nghèo và khốn đốn, thực khó có cảnh sống sót hy hữu nào diễn ra. Các bạn bè phần lớn tuyệt vọng. Nhiều người bình thường cương nghị, rắn rỏi, sắt đá với chút niềm tin còn sót lại của mình, bây giờ cũng tỏ ra chán nản, mỏi mệt với ngày tháng lê thê kéo dài, chưa biết bao giờ chấm dứt trong cảnh tù đày của bọn ác quỷ.

Mỗi buổi tối khi căn phòng giam khóa kín cửa, cảnh man rợ, tối đen không đèn đưốc, tên cán bộ lê bước bên ngoài, người tù ngồi bên trong chờ đến phiên gác của mình, báo cáo số tù hiện diện và ngồi im lặng bên cánh cửa đến hết phiên của mình là hai tiếng dài ròng rã. Riêng tôi, đến lượt mình canh gác, tôi mân mê chuỗi hạt trên tay mà thầm đọc kinh cầu nguyện với Đức Mẹ. Nhờ vậy, thời gian không thấy kéo dài và niềm tin với chút hy vọng cỏn con của tên tù nhân cộng sản là tôi luôn luôn được hồi sinh lớn mạnh. Có những bạn tù tôi mới quen nhưng rất tâm đắc thường lui tới chỗ nằm chuyện vãn với tôi để cùng nhau đoán mò ngày mai tăm tối : như bác sĩ Nguyễn Văn Toàn là Trưởng Ty Y Tế Hội An, bác sĩ Hà Thúc Lễ ở bệnh viện Đà Nẵng, dược sĩ Nguyễn Văn Phú, anh Nguyễn Văn Thiệu phó tỉnh trưởng Quảng Nam, kỹ sư Hải mũ xanh ở Đà Nẵng… tất cả các bạn ấy cùng tôi thì thầm về thời cuộc, bàn tới bàn lui về ngày được trả tự do : chưa biết bao giờ và có người lại tỏ ra vô cùng tuyệt vọng… Vì tù CS ra đi không có ngày về gần như là một định luật.

« Thú thật với các anh, tôi vẫn nuôi một niềm tin sắt đá. Tin rằng chúng ta thế nào rồi cũng được trả tự do. Trong cảnh hầu như tuyệt vọng của chúng ta ngày nay, quyền lực của con người tỏ ra vô hiệu, chúng ta chỉ còn biết trông cậy vào một quyền lực siêu hình, thiêng liêng, vượt lên tất cả. Theo tôi, đó là phép lạ của Đức Mẹ, chúng ta hãy cầu nguyện cùng Đức Bà, chỉ có Đức Bà là giải thoát được cho chúng ta. Các anh hãy tin đi ». Rồi tôi rút từ bọc áo, chuỗi hạt đứt rời và cung kính đặt trước mặt tất cả… Tôi nói tiếp : « Đời tôi đến lần nầy là 6 lần tù tất cả : tù thực dân, tù cộng sản, tù độc tài phong kiến nơi chân trời góc bể nào mình cũng có mặt, nhưng chưa bao giờ tôi để suy sụp niềm tin tủa mình vào vị Thánh hộ mạng cho mình là Đức Mẹ nên được sống sót đến ngày nay. Nhờ ơn che chở của Ngài ! Trong mỗi làn hơi thở của mình, trong từng âm ba không khí ngột ngạt hôm nay bao trùm cảnh địa ngục chúng ta đều có sự hiện diện vô hình và hiện hữu của Mẹ. Các anh hãy tin tôi đi ». Các anh thành tâm sám hối tội lỗi của mình là không được biết đến Người từ trước và mỗi lời nguyện của mình phải đượ cdâng lên một cách kính cẩn… « Tôi tin rằng chúng ta ít nhất cũng sẽ nhờ niềm tin linh thiêng huyền diệu mà giữ vững nghị lực của mình sống sót đến ngày được trả tự do – một cuộc trả tự do bất đắc dĩ mà chúng là VC không bao giờ muốn ». Tôi nói hăng say lắm, y như một nhà truyền giáo lành nghề, rao giảng lén lút Đức Tin cho các bạn tù trí thức rất mệt mỏi tâm thần và tuyệt vọng. Không biết hiện giờ bác sĩ Toàn ở Úc, bác sĩ Lễ, dược sĩ Phú, nhà hành chánh Thiệu, kỷ sư Hải mũ xanh Đà Nẵng ở vùng trời tự do nào đó, có nhớ những giây phút cực kỳ hiểm nghèo và những lời đàm đạo về đức tin của chúng ta ở trong nhà tù Việt Cộng ấy không ?

Có những ngày ròng rã, tôi là người tù già một người bạn trẻ đồng hương, anh Võ Văn Lầu, hiện nay ở Mỹ, đi theo diện H.O. được anh em trong phòng bình nghị là người đau yếu nhất. Hai anh em, một già, một bịnh phải vào rừng rậm lao động phát rẫy, chặt cây đốn củi. Tôi lén nhìn tên cán bộ đang khuất mình rảo bước theo dõi giữa đám cây rừng, tôi rút ra trong bọc áo chuỗi hạt và lẩm nhẩm cầu nguyện. Nhìn trùng trùng điệp điệp dãy núi trước mặt, tôi thầm ao ước : “Con lạy Mẹ, con xin Mẹ với phép thần thông biến hóa của Ngài, xin Mẹ biến đổi di chuyển làm sao vùng sơn cước âm u nầy của nước Việt Nam đau khổ thành vùng núi rừng Ardennes hay Vosges ở Âu Châu của Pháp, của Bỉ cho con được thoát khỏi cảnh ngục tù và khỏi cảnh sống nơi quê hương đau khổ”. Anh Võ Văn Lầu đang lom khom phát bụi cây rừng bỗng cười ra tiếng : “Ồ ! Thực là ảo tưởng, những điều anh mơ ước, nhớ theo sách vở anh học hồi nào ! Dù có chết, tôi cũng không khuất phục bọn nầy đâu, anh lẩm bẩm nói thêm, và ta nhất định phải sống !”

Thế rồi… Vào một buổi sớm, giữa tháng tám năm 1979 tôi đang cuối xuống đất để tỉa bắp trên một cánh đồi cùng các bạn tù khác thì bỗng nhiên có một con bướm vàng xinh xắn lòng vòng bay theo rồi đậu trên cán cuốc của tôi, không nhúc nhích, phe phẩy nhẹ nhàng đôi cánh mỏng. Tôi lấy tay xuỵt mạnh, nó vẫn im lìm, không rời cán cuốc của tôi. Tôi tỉa hết một phần ba đám rẫy xong và bước sang mảnh đất khác, nó vẫn bay theo tôi. Tôi cho là một điềm bất thường, chưa biết lành hay dữ. Tôi phập phồng chờ đợi suốt một ngày hôm ấy mãi đến sáng hôm sau nữa. Thì đến trưa, tôi được nghỉ lao động buổi chiều và có lịnh chuyển về trại chính và ở đây, tôi mới biết rõ là mình sẽ được tự do để đi xuống Tam Kỳ, cách Tiên Lãnh 25 cây số rồi về Sàigòn… Đây là cuộc trở về gia dinh lần tù thứ mấy của tôi, kể cả các lần tù đày bởi thực dân, phong kiến và nhất là cộng sản. Một sự giải thoát không chờ đợi nhưng không bình thường vì trong tâm thức sâu kín của thế nhân là tôi, tôi vẫn tin chắc nịch là có sự cứu rỗi của Đức Bà mà hằng đêm, hằng ngày tôi không dứt lời cầu nguyện… Đó là phần siêu thể, siêu hình, huyền diệu quyết định sự việc cưu tử của tôi làm cho phần thế tục bên ngoài được thành công. Số là do một sự vận động, qua lại do một sự đổi chác dông dài (tôi sẽ có dịp trở lại tường thuật vụ nầy để thấy cái gian manh của bọn CSVN) giữa hai chính phủ của chính quyến Vương Quốc Bỉ, qua sự trung gian của tòa đại sứ Bỉ tại Hà Nội với ngụy quyền CSVN, nên tôi mới được trả tự do và tôi được làm hồ sơ gấp hoàn thành thủ tục để xuất ngoại. Không có phép mầu của Đức Bà, tôi và gia đình tôi tin rằng CSVN không bao giờ cho thả tôi ra, vì ở địa phương Quảng nam chúng tôi, bọn CS rất thù hận Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là hai kẻ thù truyền kiếp. Có phe nầy thì không có phe kia. Điều nầy quả là nghiệm đúng vì sau đó chừng một năm, bọn công an Quảng Nam và tỉnh ủy, trong một cuộc tập họp quan trọng các tù nhân ở trại tù chính, Trại Cấm Tiên Lãnh phần nhiều là cán bộ cao cấp của chính quyền cũ và của VNQDĐ đang bị nhốt trong các trại giam ở đó, chúng đã tuyên bố một các long trọng với toàn thể phạm nhân rằng cụ Vũ Hồng Khanh và ông Vũ Ký đã được chính phủ khoan hồng trả tự do. Và Vũ Ký đã đi sang Thụy Sĩ rồi, thực ra tôi xuất ngoại sang Bỉ chứ không phải Thụy Sĩ như tên đại diện công an Trung ương đã nói. Theo lời các bạn tù H.O hiện ở Mỹ thuật lại với tôi, trong số đó có anh Phan Thiệp, cựu dân biểu Quốc Hội, anh Nguyễn Toại, anh Vũ Khắc Tiểu, v.v… Tôi cho rằng lối nói trên của tên công an cao cấp ấy là thủ thuật nói vuốt đuôi thôi vì nếu chúng nó phối hợp kịp sự điều tra của bọn VC Quảng Nam và của địa phương Sàigòn mà tôi hiện sống và đã bị bắt sau ngày 30 tháng 4 những ba lần thì không bao giờ chúng thả tôi ra và cho xuất ngoại một cách thông suốt đến thế. Về việc lập hồ sơ bảo lãnh do con tôi vốn là một cựu du sinh viên ở Vương Quốc Bỉ và sự can thiệp vô cùng tích cực và hữu hiệu của Hoàng Gia Bỉ, dù bên trong có lắm thủ tục rắc rôố, việc thiết lập giấy tờ rất rườm rà và phức tạp kéo dài lại còn bị ém nhẹm và bị chận lại, mặc dù tốn bao cây vàng, bởi công an địa phương nhiều lần… Quả thực, con xin vô cùng tri ân Đức Mẹ với những hồng ân vô hình của Ngài ban xuống hữu hiệu vô cùng ! Để giảu thoát sớm cho con khỏi cảnh thập tử nhất sinh ở địa ngục trần gian thống khổ. Qua sự mầu nhiệm thăng hoa trong một chuỗi ngọc đứt rời mà hằng ngày con dâng lời cầu nguyện… Nhân đây, tôi cũng xin có vài phút hồi tưởng công lao vị tha của Hoàng Hậu Fabiola (bấy giờ cũng là Chủ tịch Danh Dự Hội Hồng Thập Tự Bỉ) và vị cố ngoại trưởng Vương Quốc Bỉ bấy giờ là ông Lucien OUTERS, trong “Mặt Trận những người nói tiếng Pháp” đã kiên trì can thiệp, vâậ động rất dày công và tốn bao nhiêu thì giờ cho tôi được xuất cảnh sang Bỉ. Và sau đó tiếp theo, ông có nhiều thư từ liên lạc hết sức thân tình với gia đình tôi ở Bỉ. Xin cám ơn Người ! Những bút tích của Người về vụ nầy tôi trân quý giữ như những chứng từ của một bậc ân nhân ngoại quốc.

Tôi cũng bùi ngùi nhớ lại những cuộc bàn luận với cha Cao Văn Luận về thời sự, về tâm linh, về văn chương ở Acoz, họ Đạo của Ngài. Qua điện thoại Ngài nhờ tôi hiệu đính đôi chi tiết về thời cuộc lúc bấy giờ trong tác phẩm “Bên Dòng Lịch Sử” (in lần thứ 2 tại Huê Kỳ) của Ngài, khi Ngài còn ở Charleroi vào những năm tiền thập niên 80, và Ngài cũng diễn giải cho tôi nghe về Kinh Thánh cùng những mẩu chuyện có liên hệ đến phép lạ của Đức Bà. Vị cố linh mục khả kính đỡ đầu cho tôi vào sự nghiên cứu Kinh Thánh trước năm 1975 tại Sàigòn để rồi sau nầy đem tôi vào đạo. Chính Ngài đã đặt tên thánh cho vợ tôi là Maria và tôi là Joseph, do sự sùng kính của chúng tôi đối với Đức Bà. Mọi sự việc trên đời của Ngài, theo Ngài nói “Nhất nhất Ngài ủy thác sự thành công vào Đức Mẹ và niềm tin đó hầu như là một sự vĩnh hằng tuyệt đối”. Ngài nói : “Đến nổi một sự việc rất nhỏ nhặt là tôi gửi tiền cho một người bà con ở trại tỵ nạn Pulau Bidong với địa chỉ trên bao thư rất mù mờ, tôi cũng cầu xin Đức Mẹ ban phép lành cho số tiền đến với họ”. Và khi Ngài về hưu dưỡng ở dòng Đồng Công tại vùng Carthage bên Hoa Kỳ, Ngài nhắn tôi một cách tha thiết hãy bay qua thăm Ngài : “Ông cố gắng thăm tôi một chuyến; nếu lần nầy ông không đi được, thôi chúng ta đàng gặp nhau ở Nước Trời vậy”. Thương và kính Ngài quá chừng ! Con cầu xin Chúa và Thánh Mẫu Maria cho Anh hồn Ngài bình an, cực lạc nơi Thiên quốc ! Con người của Ngài suốt đời dâng hiến niềm tin vào Thien Chúa và hết lòng rao giảng cho tôi ơn lành của Chúa và Đức Mẹ.

“Chuỗi ngọc đứt rời” từ sau 1975 ấy ở nước ngoài còn mang cả một hành trình dài đầy ý nghĩa vô cùng linh diệu đối với chuỗi ngày còn sót lại của đời tôi.

Tôi mang nó trong người như một bảo vật bất ly. Ngay cả lần đi hành hương Thánh địa Do Thái kéo dài gần nửa tháng vào năm 1987, dưới sự hướng dẫn của cha Nguyễn Chí Thiết ở Paris. Mỗi lần vào mỗi đền thờ ở đấy, tôi kính cẩn trang trọng đặt chuỗi ngọc đứt rời trên bàn thờ của Bà để khấn lạy. Và với hãnh diện tầm thường của một đệ tử hèn mọn trong thế nhân rằng mình có được vinh dự hi hữu đặt chân lên quê hương mến yêu của Bà và của con Bà mà kính phục và chiêm ngưỡng.

Chúng tôi đã dừng chân ở Cana, vào ngôi nhà lịch sử của Chúa và Mẹ Người đã dự một tiệc cưới trong nhà một thường dân. Ở đó Chúa đã biến nước lã thanéh rượu nho cho mọi người đủ dùng. Rồi nhìn nhánh sông Jourdan hẹp, giòng nước trong xanh nổi lên nhưữg cụm đá phẳng lì và thực ngoạn mục, chúng tôi đã suy gẫm về phép rửa của Chúa và từ đó mọi người đi thuyền trên sông Tibériade, nước xanh nghít, gió lộng tạt sóng vào mạn thuyền thành những chòm hoa với tia nước trắng xóa. Mặc dù vật đổi sao dời, những tang thương do con người và thiên nhiên đem đến quang cảnh của hồ Tibériade, đại cương vẫn là như thế, chẳng khác cách đây 20 thế kỷ, lúc Chúa viếng thăm hồ nầy, còn ghi trong Cựu Ước và Tân Ước.

Chính trên bờ hồ này, Chúa tuyển chọn các môn đệ của mình. Ngồi trên một thuyền con, Chúa đã ban lời dạy bảo cho đám đông vây quanh Người; vào một đêm, Chúa đã đi trên nước và cũng ở đó, Người hóa phép dập tắt một cơn bão kinh hồn, đem lại thanh bình cho mặt hồ và các vùng lân cận.

Rồi xe dần dần xuống núi, lướt vào thành phố Bêlem, đi thẳng đến vùng Thánh Đường Chúa Hài Đồng Giáng Sinh. Một quang cảnh thiêng liêng, tôn kính bao trùm mọi vật thể.Ánh đèn mập mờ, ẩn hiện chiếu trong một hang đá hẹp, soi sáng một hình tượng tuyệt vời ! Quên mình bằng một sự hòa nhập với thần linh, chúng ta, những con người của sau 2000 năm, vẫn tưởng rằng mình sống giật lùi vào thời nào, hoa cỏ thắm đượm thiên nhiên hoang dại, thiên thần rao giảng lời ca, điệu hát thanh bình khắp nơi nơi cho nhân thế. Chúa sinh ra đời ở đó ! Đức Mẹ lâm bồn trong khung cảnh ấy !

Máng cỏ, bầy cừu và các thiên sứ ! Chúa Hài Đồng nằm trên máng cỏ sần sùi, dưới con mắt dịu hiền, trìu mến vô biên của Mẹ ! Tâm hồn chúng ta tưởng chừng sống cảnh thần tiên, huy hoàng và mơ màng, nửa mộng nửa thực. Văng vẳng trên không, lời thúc giục khẩn thiết, mời mọc của Thiên sứ dội lại đâu đây.

Chúng tôi rời Bêlem, nơi “chôn nhau cắt rún” đích thực của Chúa để đi thẳng về hướng Biển Chết, nằm về hướng Trung Đông Do Thái…

Ở mỗi nơi, trên đền thờ Thánh Mẫu uy nghiêm, tôi đều kính cẩn đặt chuỗi ngọc đứt rời với lời cầu nguyện thành tâm xin ơn cứu rỗi cho tôi đến mãi mãi vô cùng.

Trong một tòa nhà đồ sộ nơi có đặt mộ Chúa với dãy đèn thủy tinh trắng trên trần và phiến đá cẩm thạch nặng nghìn cân che phủ một khối đá khác, có treo một bức tranh lớn diễn tả Thập Tự Giá Golgotha đánh dấu cảnh Chúa đau thương bị đóng đinh đau buốt, giòng máu đào rỉ ra từ Thánh Thể. Bên cạnh Người, Đức Mẹ ngước nhìn con với nét mặt ảo não, cực kỳ xót xa, Bà nhìn Con mình bị bức tử và từ nhục thể của con, máu tuôn không dứt… mà lòng đau như cắt, thảm mục vô cùng. Màn sương huyền ảo của hoài niệm về một cuộc hành hương Do Thái năm nào phủ kín tâm hồn tôi trong cơn hồi tưởng bất ngờ ! … Bổng nhiên tôi nhớ tới lời của văn hào Marcel Pagnol ở Viện Hàn Lâm Pháp nói về Thánh Mẫu : “Ai trên đời này cũng mong ước có một đứa con, nhưng có được một đứa con siêu việt mà hậu thế hết lời tôn vinh nhưng đã làm cho mình nhìn đến con bị bức tử mà tận cùng đau khổ, chết điếng ở tâm can mình như Đức bà thì chắc chẳng ai đâu còn muốn có con nữa”. Và tác giả khác trong cuốn “Đức Jésus thích cười” (Le Jésus rieur) đã viết : “Thường xuyên, nhiều nhóm người Biệt Phái (Pharisiens – môn đồ của một giáo phái Do Thái cực đoan) liên miên đến tận nhà Đức bà than van và có khi còn chỉ trích Bà rất nặng lời : “Bà có đứa con mắc bện tâm thần rất nặng đi rao truyền những điều huyền hoặc, điên cuồng gây rối loạn trong cộng đồng và còn làm nhiều hành động kỳ dị mà anh ta cho là phép lạ nói là để chữa bện hoặc cứu nhân độ thế làm đảo lộn cuộc sống thiên hạ và mất sự trị an. Bà hãy kêu anh ta về nhà mà khiển trách và dạy dỗ trở lại…”. Đức Mẹ một phần hiểu con và thương con, chịu hết nổi những lời phiền trách dai dẳng ấy đã trả lời : “Con tôi đã thành niên rồi, hơn 30 tuổi đầu. Nó làm gì, nó chịu trách nhiệm. Nó còn bé bỏng gì đâu ! Tôi làm sao cản được nó. Vả lại, nó có hành động gì hại đến ai đâu. Nó chỉ ra ơn, ban phước cho thiên hạ mà thôi !”.

Hang đá Bêlem

Một chuỗi ngọc, một quãng đời dài của tôi, những chặng đường rối loạn, không bình thường của một cuộc sống từ đen tối đến quang đãng mà tôi đã gửi vào đó tất cả niềm tin bất diệt của mình để kỳ vọng có ngày còn sống sót. Và thực sự tôi đã sống nhờ nó, với nó, chuỗi ngọc đứt rời này.

Sống giữa cuộc biển dâu vô thường mà sinh mạng bé bỏng của mình như treo đầu sợi tóc với những chuỗi dài những biến cố, biến loạn mà từng chi tiết một, tôi cố hoài tưởng để viết ra đây vậy.

Viết ra dâng lên Đức Mẹ với hết lòng tôn kính tạ ơn Ngài đã đốt lên trong tâm linh tăm tối của tôi Ngọn lửa thiêng của NIỀM TIN và HY VỌNG cứu sống đời tôi.

Bruxelles tháng 6 năm 2000.

Vũ Ký